Tác động của việc gia nhập AFTA đối với hoạt động xuất nhập khẩu Việt
Nam
Kinh tế quốc tế 52A Page 1
Tác động của việc gia nhập AFTA đối với hoạt động xuất nhập khẩu Việt
Nam
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BÀI TẬP NHÓM KINH TẾ QUỐC TẾ I
ĐỀ TÀI: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP AFTA ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: Tô Xuân Cường
Sinh viên thực hiện:
Đậu Thị Thảo Tiên (nhóm trưởng)
Phạm Thị Thùy Linh Vũ Thị Linh
Phạm Hoàng Vân Trang Hồ Trà Mi
Chu Hà Linh Trần Khánh Chi
Hàn Huyền Hương Trần Tố Uyên
Hà Tú Anh Trịnh Quỳnh Lệ
Nguyễn Phương Ngọc Lê Thị Oanh
LỚP: KINH TẾ QUỐC TẾ 52A
HÀ NỘI – NĂM 2013
Kinh tế quốc tế 52A Page 2
Tác động của việc gia nhập AFTA đối với hoạt động xuất nhập khẩu Việt
Nam
Nội dung
1. Khái quát về ASEAN và khu vực mậu dịch tự do ASEAN……………… 4
1.1. Giới thiệu về ASEAN và khu vực mậu dich tự do Asean (AFTA) …4
1.1.1. Giới thiệu về ASEAN………………………………………………… 4
1.1.2. Giới thiệu về khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)……………… 5
1.2. Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam khi tham gia AFTA……….9
1.2.1. Cơ hội………………………………………………………………….9
Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu hướng hội nhập kinh tế thế giới, với những cấp độ toàn cầu hóa và
khu vực hóa, lực lượng sản xuất phát triển vượt qua ngoài phạm vi biên giới của
mỗi quốc gia, sự phân công lao động quốc tế phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu. Việc
hình thành các liên kết khu vực ngày một phát triển, hầu hết các quốc gia đang
chuyển sang mô hình kinh tế với việc khai thác ngày càng triệt để lợi thế so sánh
của mỗi nước đang chiếm ưu thế trong nền kinh tế hiện đại, do đó thương mại quốc
tế ngày càng được tự do hóa. Trình độ quốc tế càng cao thì tỷ trọng trao đổi giữa
các quốc gia càng lớn.
Việt Nam cũng là một quốc gia không nằm ngoài quy luật hội nhập này. Với
việc trở thành thành viên chính thức của ASEAN đồng thời Việt Nam cũng đã cam
kết tham gia vào Hiệp định của ASEAN mà trong đó có lĩnh vực kinh tế quan trọng
nhất là việc thiết lập khu vực thương mại tự do ASEAN – AFTA. Dù ít nhiều
AFTA đã thể hiện một bước chuyển đổi chiến lược đúng đắn của sự hợp tác kinh tế
ASEAN. AFTA là cơ sở để xây dựng khu vực mở và là một đóng góp quan trọng
vào tiến trình tự do hoá thương mại toàn cầu. Bản thân AFTA là bước mở đầu để
đưa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đi từ liên minh thương mại đến các liên
minh về thuế quan, liên minh tiền tệ, liên minh kinh tế.
Để đẩy nhanh tiến trình thực hiện AFTA, các doanh nghiệp trong nước cần
căn cứ theo hướng phát triển trong tình hình mới để có những quyết định kịp thời
và phù hợp. Doanh nghiệp Việt Nam cần xem xét, đánh giá cụ thể các yếu tố liên
quan đến sản xuất, tiêu thụ của từng mặt hàng trong tương quan các mặt hàng cùng
loại từ ASEAN. Qua đó, doanh nghiệp có thể tìm ra các sản phẩm mới, hay phát
triển các sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu, tìm ra thị trường mới cho sản phẩm của
mình, các giải pháp để có thể làm chủ được thị trường nội địa và sau đó phải tìm
kiếm khả năng xuất khẩu, định hướng về các sản phẩm chủ lực, thị trường trọng
điểm để có phương án sản xuất - kinh doanh đáp ứng các nhu cầu xuất khẩu sang
ASEAN hoặc ngoài ASEAN. Việc gia nhập AFTA đã tác động không nhỏ đến hoạt
động xuất nhập khẩu của Việt Nam
Kinh tế quốc tế 52A Page 5
Tác động của việc gia nhập AFTA đối với hoạt động xuất nhập khẩu Việt
Nam
mạnh dựa trên ba trụ cột là Chính trị-An ninh, Kinh tế và Văn hóa-Xã hội vào năm
2015.
Cộng đồng Chính trị-An ninh ASEAN nhằm mục tiêu tạo dựng một môi
trường hòa bình và an ninh cho phát triển ở khu vực Đông Nam Á thông qua việc
nâng hợp tác chính trị-an ninh ASEAN lên tầm cao mới, với sự tham gia và đóng
góp xây dựng của cả các đối tác bên ngoài.
Cộng đồng Kinh tế ASEAN nhằm mục tiêu tạo ra một thị trường chung duy
nhất và cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa,
dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động; từ đó nâng cao tính cạnh tranh và thúc đẩy sự
thịnh vượng chung cho cả khu vực; tạo ra sự hấp dẫn với đầu tư-kinh doanh từ bên
ngoài.
Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN với mục tiêu tổng quát là phục vụ và
nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ASEAN, tập trung xử lý các vấn đề
liên quan đến bình đẳng và công bằng xã hội, bản sắc văn hóa, môi trường, tác
động của toàn cầu hóa và cách mạng khoa học công nghệ.
1.1.2. Khu vực mậu dịch tự do Asean (AFTA)
Vào đầu những năm 90, khi chiến tranh lạnh kết thúc, những thay đổi trong
môi trường chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực đã đặt kinh tế các nước ASEAN
trước nhứng thách thức to lớn không dễ dàng vượt qua nếu không có sự liên kết
chặt chẽ và nỗ lực vủa toàn hiệp hội, những thách thức đó là:
Quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, đặc
biệt trong lĩnh vực thương mại, chủ nghĩa bảo hộ truyền thống trong ASEAN ngày
càng mất đi sự ủng hộ của các nhà hoạch định chính sách trong nước cũng như
quốc tế. Sự hình thành và phát triển các tổ chức hợp tác khu vực mới đặc biệt
như Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ và Khu vực Mậu dịch Tự do châu
Âu của EU, NAFTA sẽ trở thành các khối thương mại khép kín, gây trở ngại cho
hàng hoá ASEAN khi thâm nhập vào những thị trường này. Những thay đổi về
Do đó, tạo lập AFTA cho ASEAN cũng chính là tạo lập khu vực mở, một sự thích ứng
mới cho sự phát triển của ASEAN trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hoá. AFTA sẽ
làm tăng khối lượng buôn bán trong nội bộ ASEAN cũng như giữa các nước
ASEAN với các nước ngoài khu vực.
AFTA có các nội dung chính sau :
(1)Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT).
(2)Thống nhất và công nhận tiêu chuẩn hàng hoá giữa các nước thành viên
Kinh tế quốc tế 52A Page 7
Tác động của việc gia nhập AFTA đối với hoạt động xuất nhập khẩu Việt
Nam
(3)Công nhận việc cấp giấy xác nhận xuất xứ hàng hoá của nhau.
(4) Xoá bỏ những qui định hạn chế đối với ngoại thương.
(5) Tiến hành hoạt động tư vấn vĩ mô.
Trong những yếu tố trên CEPT được coi là yếu tố cốt lõi vì thông qua việc
giảm thuế quan, dỡ bỏ dần các hàng rào phi thuế quan người ta sẽ xác lập được
nền thương mại tự do trong nội bộ khối.
Nghĩa vụ chính của các nước thành viên khi tham gia Hiệp định này là thực
hiện việc cắt giảm và xoá bỏ thuế quan theo một lộ trình chung có tính đến sự khác
biệt về trình độ phát triển và thời hạn tham gia của các nước thành viên. Theo cam
kết trong Hiệp định các nước thành viên phải giảm thuế nhập khẩu xuống 0-5%
trong vòng 10 năm. Theo đó, các nước ASEAN 6 sẽ hoàn thành việc cắt giảm thuế
quan xuống 0-5% vào 2003 và đối với Việt Nam là 2006. Tuy nhiên, để theo kịp xu
thế hội nhập khu vực và toàn cầu hoá, các nước ASEAN đã cam kết xoá bỏ hoàn
toàn thuế quan vào năm 2010 đối với 6 nước thành viên cũ của ASEAN (gồm
Brunei Darussalam, Indonesia, Malaysia, Philippine, Singapore và Thái Lan) và
2015 có linh hoạt đến 2018 đối với 4 nước thành viên mới (Lào, Campuchia,
Myanmar và Việt Nam, viết tắt là CLMV). Các nước ASEAN cũng đã cam kết đẩy
nhanh tiến trình hội nhập ASEAN đối vói 12 lĩnh vực ưu tiên gồm: gỗ, ôtô, cao su,
dệt may, nông nghiệp, thuỷ sản, điện tử, công nghệ thông tin, y tế, vận tải hàng
không, du lịch và dịch vụ logistics, theo đó thuế quan sẽ được xoá bỏ sớm hơn 3
chế về số lượng (như hạn ngạch thuế quan, giấy phép…), các khoản phụ thu, các
quy định về tiêu chuẩn chất lượng, v v…Các hạn chế số lượng có thể xác định
một cách dễ dàng, do đó quy định loại bỏ ngay với các mặt hàng trong chương
trình CEPT được hưởng nhượng bộ từ các nước thành viên khác. Tuy nhiên, việc
xác định và loại bỏ các hàng rào phi thuế quan khác phức tạp hơn nhiều và quy
định phải xóa bỏ dần dần trong vòng 5 năm. Ngoài ra CEPT cũng quy định các
nước tiến tới thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, công khai chính sách và thừa
nhận các chứng nhận chất lượng khác nhau .
Trên cở sở đó, các nước thành viên đưa ra và cam kết thực hiên việc xóa bỏ
các hàng rào cản phi thuế quan theo 3 gói lịch trình là giai đoạn 2008-2010 đối với
các nước Asean-6, giai đoạn 2010-2012 đới với Philippin và giai đoạn 2013-2015,
linh hoạt tới 2018 đối với CLMV
- Về hài hòa thủ tục hải quan :
Bên cạnh nỗ lực xoá bỏ thuế quan và các rào cản phi quan thuế, việc đảm
bảo tính thông thoáng, minh bạch các thủ tục hải quan cũng là một nội dung cần
Kinh tế quốc tế 52A Page 9
Tác động của việc gia nhập AFTA đối với hoạt động xuất nhập khẩu Việt
Nam
thực hiện khi thiết lập khu vực thương mại tự do Asean. Để tạo điều kiện cho
doanh nghiệp sản xuất và xuất nhập khẩu tiến hành buôn bán nội bộ khu vực và
các cơ quan Hải quan dễ dàng xác định mức thuế cho các mặt hàng, Asean đã
thống nhất biểu thuế quan chung (AHTN) trên cơ sở Hệ thống hài hòa (HS) của cơ
quan Hải quan thế giới (WCO). Biểu AHTN được sửa đổi 5 năm một lần. Mẫu tờ
khai hải quan chung của khu vực đối với các hàng hóa thuộc diện được hưởng thuế
suất CEPT cũng được thống nhất; các thủ tục được đơn giản ,minh bạch hóa để
trao đổi buôn bán diễn ra nhanh chóng , thuận tiện.
1.2. Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam khi gia nhập vào AFTA
1.2.1. Cơ hội
- Thứ nhất, AFTA tạo điều kiện thuận lợi mở cửa thị trường hàng hoá dịch
vụ xuất khẩu cho Việt Nam hội nhập vào thương mại khu vực.
- Thứ ba, khi tham gia AFTA, Việt Nam có khả năng rút ngắn khoảng cách
tụt hậu, tranh thủ và bổ sung các lợi thế sẳn có giữa các doanh nghiệp
trong nội bộ khu vực.
Mặc dù có sự trùng lặp và cơ cấu ngoại thương giữa Việt Nam và ASEAN nhưng
có nhiều lĩnh vực các doanh nghiệp Việt Nam có thể khai thác từ thị trường
ASEAN như Việt Nam có thế mạnh về các sản phẩm nông sản, hàng dệt, may mặc
trong khi đó ta cũng có nhu cầu nhập khẩu các thiết bị máy móc hạng trung bình,
các sản phẩm hoá chất, bán thành phẩm từ các nước ASEAN với giá thấp hơn so
với các khu vực khác trên thế giới. Nếu tranh thủ được các lợi thế này Việt Nam sẽ
có lợi do tăng được khả năng cạnh tranh với các đối tác bên ngoài ASEAN về giá
cả, chi phí vận chuyển. Ngoài ra trong quá trình hội nhập kinh tế, các doanh nghiệp
công nghiệp Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm quản lý, tiếp thu kỹ thuật công
nghệ, đặc biệt đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, từ các nước ASEAN
Thứ tư, tham gia AFTA sẽ tạo tạo sức ép buộc các doanh nghiệp trong nước
phải tự đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh,tích cực áp
dụng các thành tựu khoa học công nghệ và cung cách làm ăn mới. Hơn nữa khi gia
nhập AFTA sẽ buộc và khuyến khích các doanh nghiệp tập trung vào những ngành
được hưởng ưu đãi và ngừng sản xuất những mặt hàng không đủ sức cạnh tranh.
Sức ép to lớn từ phía AFTA đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải cố gắng nỗ
lực để đuổi kịp và vượt các nước ASEAN về mẫu mã chất lượng giá cả hàng hoá.
Các Doanh nghiệp Việt Nam sẽ trải qua quá trình sàng lọc tự nhiên thông qua cạnh
tranh quốc tế Những doanh nghiệp vốn vẫn được trợ cấp sẽ nhanh chóng bị thay
thế bởỉ những doanh nghiệp nứơc ngoài hay doanh nghiệp trong nước có đủ khả
Kinh tế quốc tế 52A Page 11
Tác động của việc gia nhập AFTA đối với hoạt động xuất nhập khẩu Việt
Nam
năng, nếu không tự mình cố gắng đổi mới vươn lên. Nền sản xuất trong nước sẽ
hiệu quả hơn và thích ứng nhanh hơn đối với các điều kiện quốc tế thay đổi.
Thứ năm, vị thế của Việt Nam được cải thiện nhờ quá trình đa phương hoá, đa
dạng hoá các mối quan hệ khu vực và thế giới. Trên cơ sở nguyên tắc đồng thuận
thể thấy trước. Hiện tại hàng hoá nhập khẩu đang tràn ngập thị trường, bóp chết
hoặc làm điêu đứng không ít ngành công nghiệp bản địa (ngay cả khi hàng rào thuế
quan còn được duy trì khá cao) như hàng dệt, cơ khí, điện dân dụng …, đặc biệt
đáng lo ngại là những ngành có hàm lượng vốn, kỹ thuật cao. Bởi sự chênh lệch về
trình độ hiện tại là rất rõ rệt và khi hàng rào bảo họ mậu dịch bị xoá bỏ thì các
ngành sản xuất trong nước sẽ chịu những sức ép lớn hơn nhiều. Đó là bài toán hết
sức hóc búa mà doanh nghiệp Việt nam phải tìm được lời giải nếu không muốn bị
phá sản, trao thị trường vào các đối thủ cạnh tranh.
Thứ ba, phần lớn các doanh nghiệp chưa có sự chuẩn bị đầy đủ cho quá trình hội
nhập kinh tế khu vực, chưa đưa ra được các chiến lược, chính sách thích ứng để
tham gia AFTA .
Vấn đề này liên quan đến nhiều yếu tố. Trước hết, mức độ phổ cập các thông
tin liên quan đến vấn đề AFTA đối với các doanh nghiệp còn thiếu, không đồng bộ.
Nội dung của chương trình AFTA còn mang tính khái quát mà chưa có những nội
dung cụ thể gắn với mục tiêu và chính sách hội nhập kinh tế của doanh nghiệp,
chưa có các biện pháp điều chỉnh sản xuất để tồn tại và phát triển trong môi trường
mở cửa, không còn hàng rào bảo hộ. Nhiều doanh nghiệp chưa có định hướng
phát triển xuất khẩu một cách khả thi để tận dụng cơ hội của AFTA mang lại.
Kế hoạch Xuất Khẩu (nếu có) chỉ là những chỉ tiêu Xuất Khẩu dựa trên kế hoạch
về sản lượng so sánh với kế hoạch tiêu dùng mà không có những phân tích so sánh
cụ thể dựa trên tiêu chí về giá thành, chất lượng, khả năng tiêu thụ… Các doanh
nghiệp chưa có thói quen khai thác tìm hiểu thông tin nội dung về AFTA, hầu
như rất xa lạ với những quy chế, quy định và những ưu thế của CEPT/ AFTA. Mặc
dù chính phủ và các Bộ, Ngành đã triển khai nhiều chương trình phổ biến về
CEPT/ AFTA nhìn chung các doanh nghiệp ( kể cả các doanh nghiệp lớn của Nhà
Nước ) vẫn chưa thực sự quan tâm đến chương trình này.
Thứ tư, khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa chậm, hạn chế đến việc kích
thích các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao hiệu quả sản xuất, cải cách cơ cấu
Kinh tế quốc tế 52A Page 13
Tác động của việc gia nhập AFTA đối với hoạt động xuất nhập khẩu Việt
Nam
Các mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất khẩu sang ASEAN là dầu thô, gạo, lạc,
dầu, cao su, hải sản…Hàng hóa của Việt Nam mới chỉ chiếm 3 phần nghìn tổng giá
trị hàng hóa nhập khẩu của các nước ASEAN. Việt Nam nhập khẩu từ ASEAN
những mặt hàng như xăng dầu, phân bón, chất dẻo, thuốc lá…chiếm khoảng 30%
tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu hàng năm của Việt Nam. Cũng trong thời kỳ 1992-
1994 đã bắt đầu xuất hiện xu hướng đa dạng hóa thị trường, các doanh nghiệp Việt
Nam một mặt tìm cách bán thẳng hàng sang thị trường chính và chuyển kênh nhập
khẩu trực tiếp từ thị trường nguồn. Đây cũng là lý do làm tăng mạnh kim ngạch
xuất khẩu với các nước trong ASEAN.
Trong kim ngạch nhập khẩu từ các nước ASEAN có khoảng 30 – 40% hàng
nhập khẩu không có xuất xứ ASEAN, mà chỉ được chuyển khẩu qua ASEAN. Các
mặt hàng này chủ yếu là xăng dầu và sản phẩm xăng dầu, phân bón. Trong các năm
1992 – 1994 chỉ tính riêng xăn dầu và các sản phẩm liên quan đã chiếm ít nhất
khoảng 50% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Singapo cụ thể:
năm 1992 là 335 triệu USD chiếm 41% trong tổng số 821 triệu USD, năm 1993 là
650 triệu USD trong tổng số 1058 triệu USD (61%), năm 1994 là 640 triệu trong
tổng số 1146 triệu USD (56%).
Trong những năm qua hàng nhập khẩu từ các nước ASEAN vào trong thị
trường Việt Nam tuy vẫn còn mang tính thâm nhập thị trường nhưng có những mặt
hàng đã bán rẻ, tạo lập được tập quán tiêu dùng trước hết phải kể đến xe máy nhập
khẩu từ Thái Lan, hàng điện tử điện lạnh từ Singapo, Malaixia, phân bón từ
Indonexia…
Trong thương mại với các nước ASEAN việc xuất khẩu và nhập khẩu
thường hay tập trung vào một nhóm hàng nhất định, chiếm một tỷ trọng rất lớn
trong kim ngạch. Chẳng hạn, năm 1994 chỉ hai mặt hàng là sợi (20 triệuUSD) và
ure (10 triệu USD) đã chiếm 50% kim ngạch nhập khẩu từ Malaixia, cũng trong
năm 1994 xe máy nhập khẩu thẳng từ Thái Lan từ 92 triệu USD trong tổng kim
ngạch là 226 triệu USD, chiếm 41,1%, nếu tính cả 91 triệu USD được nhập qua
đường Lào sẽ chiếm khoảng 58% tổng giá trị nhập khẩu từ Thái Lan. Năm 1994,
- 1986- 1991: Việt Nam chủ yếu quan hệ đối ngoại đối với một số nước xã
hội chủ nghĩa Đông Âu và Trung Quốc. Trao đổi mậu dịch quốc tế của
Việt Nam trong thời kỳ này hoàn toàn dưới hình thức song phương, theo
kiểu hàng đổi hàng hoặc viện trợ được chuyển giao là chính. Giai đoạn
này chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam là chính sách độc quyền
ngoại thương của Nhà nước, chỉ có công ty xuất nhập khẩu quốc doanh
Kinh tế quốc tế 52A Page 16
Tác động của việc gia nhập AFTA đối với hoạt động xuất nhập khẩu Việt
Nam
mới có quyền tham gia hoạt động xuất nhập khẩu; do đó mối quan hệ
thương mại của Nam còn rất hạn hẹp. Thị trường chủ yếu của Việt Nam
là các nước xã hội chủ nghĩa, chiếm đến 70% kim ngạch xuất nhập khẩu
của Việt Nam, còn lại với các nước Tây Âu, châu Á rất hạn chế.
- 1991- 1996: Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam đã có sự thay
đổi cơ bản: châu Á trở thành nơi tiêu thụ lớn nhất sản phẩm xuất khẩu
của Việt Nam (80%) sau đó là châu Âu (15%)
2.1.2.1. Việt Nam – Trung Quốc
Mối quan hệ thương mại giữa 2 nước còn hạn chế, xuất nhập khẩu tăng đều nhưng
không mạnh. Năm 1991, kim ngạch buôn bán hai chiều Việt-Trung chỉ đạt 30 triệu
USD. Việt Nam luôn giữ thế xuất siêu
Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc, những mặt
hàng nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn này chủ yếu là: thuốc bắc, bông, vải sợi,
hàng dệt kim và quần áo may sẵn, pin các loại, thuốc lá, xà phòng giặt, nước giải
khát, dầu thực vật, đường sữa, đồ dùng gia đình, xe đạp, giấy hàng hóa nhập từ
Trung Quốc với khối lượng lớn, chủng loại đa dạng, chất lượng thấp nhưng giá rẻ,
phù hợp với thu nhập ở mức thấp nên chỉ sau một thời gian ngắn đã tràn ngập thị
trường Việt Nam. Đặc biệt, trong thời kỳ này, hàng hóa nhập lậu qua biên giới với
khối lượng lớn đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến một số ngành sản xuất của Việt
Nam như: dệt kim, may mặc, sành sứ, thủy tinh, sản xuất xe đạp
Về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc gồm 4 nhóm chính:
1995 252,5 198,9 451,4 -53,6
1996 616,4 331,8 948,2 -284,6
Quanhệ thươngmại Việt-Mỹ 1992 -1996. Đơnvị:Triệu USD
Do Việt Nam chưa được ưu đãi về thuế quan, nên hàng hóa Việt Nam khó cạnh
tranh được với nước khác. Hơn nữa hai bên chưa có những hiểu biết tốt về thị
trường và luật pháp của nhau, chưa có những biện pháp hữu hiệu để tăng cường
xuất nhập khẩu.
Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt nam sang Mỹ thể hiện trình độ phát triển kinh tế
thấp của nước ta giai đoạn này. Cơ cấu hàng xuất khẩu chủ yếu vẫn nghiêng về
Kinh tế quốc tế 52A Page 18
Tác động của việc gia nhập AFTA đối với hoạt động xuất nhập khẩu Việt
Nam
hàng nông sản và nguyên liệu thô. Đó là những mặt hàng mà Việt Nam có tiềm
năng do có tài nguyên thiên nhiên và chúng ta huy động được những nguồn lực sẵn
có như nguồn nhân công dồi dảo, rẻ, và có kỹ thuật, khả năng khai thác nguồn thủy
hải sản, trồng trọt và điều quan trọng hơn là nó phù hợp với điều kiện thực tế của
Việt nam, tức là không yêu càu nhiều vốn, kỹ thuật và công nghệ cao.
Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam từ Mỹ: Một số mặt hàng nhập lớn nhất
là bông, phân bón, phương tiện giao thông vận tải,…Ngoài ra còn nhập dược
phẩm, hóa chất, nguyên phụ liệu đệt may, nguyên phụ liệu dược phẩm, chất dẻo,
dầu mỡ động thực vật, đường, kính xây dựng, thuốc trừ sâu và nguyên liệu,…
Những mặt hàng này có tổng kim ngạch khá lớn 113,7 triệu USD năm 1996.
2.1.2.3. Việt Nam – Nga
Giai đoạn 1991- 1993, sự sụp đổ của Liên Xô làm cho các mối quan hệ kinh tế
thương mại với các nước bạn bè truyền thống, trong đó có Việt Nam bị tan vỡ. Nếu
như trước đó, hai nước buôn bán với nhau hàng tỷ USD thì giờ đây quan hệ Việt
nam – Liên Xô đã xuống mức thấp nhất.
Giai đoạn 1993- 1996, quan hệ Việt – Nga từng bước được khôi phục. Quan hệ
thương mại hai nước có khởi sắc nhưng do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở
Đông Nam Á, sau đó lan rộng, đồng thời cơ chế thanh toán giữa hai nước chwua
ASEAN).
Bảng thể hiện tỷ trọng kim ngạch XNK Việt Nam – AFTA trong tổng kim
ngạch XNK của Việt Nam giai đoạn 1996-2000
Năm 1996 1997 1998 1999 2000
Kinh tế quốc tế 52A Page 20
Tác động của việc gia nhập AFTA đối với hoạt động xuất nhập khẩu Việt
Nam
XNK nội khối AFTA của Việt Nam (tỷ USD) 1,136 1,9 2,3 2,4 2,6
Tốc độ tăng trưởng XNK Việt Nam - AFTA(%) 3,27 67,2 21,05 4,34 8,33
Tổng kim ngạch XNK của Việt Nam(tỷ USD) 18,399 20,777 20,859 23,283 30,119
Tốc độ tăng trưởng XNK của Việt Nam(%) 35,28 12,92 0,39 11,62 29,36
Tỷ trọng XNK nội khối AFTA trong tổng kim ngạch
XNK Việt Nam %
6,17 9,14 11,02 10,31 8.85
Giai đoạn sau khi Việt Nam gia nhập vào AFTA (1996) kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều có thay đổi
đáng kể thể hiện thông qua tỷ trọng xuất nhập khẩu nội khối AFTA trong tổng kim ngạch XNK Việt Nam liên tục
tăng, đạt cao nhất là năm 1998 là 11,02%. Tuy nhiên sau đó có sự sụt giảm (thể hiện thông qua bảng ngay bên dưới
Bảng thể hiện tỷ trọng kim ngạch XNK Việt Nam – AFTA trong tổng kim
ngạch XNK của Việt Nam giai đoạn 2001-2011
Năm Kim ngạch XNK của Việt
Nam- AFTA (triệu USD)
Tổng kim ngạch XNK của
Việt Nam(triệu USD)
Tỷ trọng %
2001 2.500 31.200 8,01
2002 2.420 36.400 6,64
2003 2.900 52.624 5,51
2004 3.870 58.454 6,62
2005 5.743 69.208 8,29
2006 6.632 84.717 7,83
giữa Việt Nam và ASEAN giai đoạn 2005-2012
Kinh tế quốc tế 52A Page 22
Tác động của việc gia nhập AFTA đối với hoạt động xuất nhập khẩu Việt
Nam
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Năm 2012, trong bối cảnh sức mua trên các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU,
Nhật Bản, Hàn Quốc…giảm sút đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu của
Việt Nam. Tốc độ tăng xuất khẩu sang các thị trường lớn hầu hết đều thấp hơn so
với tốc độ tăng của năm trước và xuất sang thị trường ASEAN cũng không ngoại
lệ. Cụ thể, xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng 22,7% (năm 2011 là 45,3%),
sang Nhật Bản tăng 21% (năm 2011 là 39,5%); sang Hàn Quốc tăng 18% (năm
2011 là 52,5%) ; sang Hoa Kỳ tăng 16,2% (năm 2011 là 18,9%) và xuất khẩu sang
ASEAN tăng 25,7% (năm 2011 là 31,2%).
Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường ASEAN đạt
17,08 tỷ USD, tăng 25,7% (tương ứng tăng 3,49 tỷ USD) so với một năm trước đó
và chiếm 14,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường ASEAN năm qua tăng mạnh là do trị giá
xuất khẩu của một số nhóm hàng tăng cao như: máy vi tính sản phẩm điện tử &
linh kiện tăng 844 triệu USD, điện thoại các loại & linh kiện tăng 750 triệu USD,
cao su tăng 339 triệu USD, sắt thép các loại tăng 243 triệu USD, cà phê tăng 224
Kinh tế quốc tế 52A Page 23
Tác động của việc gia nhập AFTA đối với hoạt động xuất nhập khẩu Việt
Nam
triệu USD. Chỉ tính riêng 5 nhóm hàng này đã đóng góp gần 2,4 tỷ USD, chiếm tới
81% trong tổng số tăng thêm của kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN năm nay. Tuy
nhiên, xuất khẩu gạo (mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số các nhóm
hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN) giảm mạnh, giảm 518 triệu
USD so với năm trước.
Ở chiều ngược lại, tổng trị giá hàng hoá Việt Nam nhập khẩu từ thị
trường này là 20,76 tỷ USD, giảm 0,7%và chiếm tới 18,2% tổng kim ngạch nhập
16,7 22,9 30,4 -15,8
Tốc độ tăng/giảm xuất khẩu của cả nước (%) 22,8 21,9 29,1 -8,9
Nhập khẩu
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ các nước
ASEAN
(triệu USD)
9.457 12.545 15.890 19.567 13.813
Tốc độ tăng/giảm nhập khẩu từ các nước
ASEAN (%)
32,7 26,7 23,1 -29,4
Tốc độ tăng/giảm nhập khẩu của cả nước (%) 21,4 39,6 28,8 -13,3
Cán cân thương mại hàng hóa với các nước
ASEAN
(XK-NK) (triệu USD)
-4.006 -6.183 -8.071 -9.368 -5.221
Cán cân thương mại hàng hóa với tất cả các
nước trên thế giới (XK-NK) (triệu USD)
-4.540 -5.065 -14.121 -18.029 -12.853
Nguồn: Tổng cục Hải quan.
Mặc dù trị giá hàng hoá trao đổi giữa Việt Nam với các nước ASAEN trong
nhiều năm gần đây đều tăng so với năm trước (trừ năm 2009) nhưng vẫn thấp
hơn so với tốc độ tăng trưởng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân. Do
đó, tỷ trọng giao thương của Việt Nam với khu vực này so với tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu của cả nước với thế giới lại có xu hướng giảm.
Biểu đồ 2: Tỷ trọng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
giữa Việt Nam - ASEAN và thị trường khác giai đoạn từ năm 2005-2009
Kinh tế quốc tế 52A Page 25