sáng kiến kinh nghiệm một số biện pháp giúp học sinh yếu kém học tốt môn tiếng anh 9 - Pdf 37

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẦN GIUỘC
TRƯỜNG THCS NGUYỄN THỊ BẢY

----------

TÊN ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP
GIÚP HỌC SINH YẾU KÉM HỌC TỐT
MÔN TIẾNG ANH 9

Tác giả: TRẦN VĨNH THỤY
Năm học : 2015-2016


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Cần Giuộc, ngày 05 tháng 04 năm 2016.
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài: Một số biện pháp giúp học sinh yếu kém học tốt môn Tiếng Anh 9.
I. Sơ lược lý lịch:
- Ông: Trần Vĩnh Thụy
- Năm sinh: 1977
- Nơi thường trú: KP 3, TT Cần Giuộc, Huyện Cần Giuộc, Tỉnh Long An.
- Chức vụ đơn vị công tác: Giáo viên Trường THCS Nguyễn Thị Bảy.
- Nhiệm vụ được phân công: Dạy lớp môn Tiếng Anh khối 7,9.
II. Nội dung:
1. Thực trạng công tác đặt ra yêu cầu phải giải quyết và nâng cao hiệu quả công
tác; ý tưởng và quá trình hình thành sáng kiến của bản thân.
Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 được Bộ Giáo dục-Đào tạo triển khai từ năm
2010, có mục tiêu "Đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung



* Đối với học sinh :
- Một số học sinh chưa nhận thức đúng động cơ và mục đích học tập, chưa có
quyết tâm và nhiệt tình học tập.
- Học sinh không được thực hành, rèn luyện thường xuyên nên dần dần các em
quên kiến thức đã học ở những năm trước.
- Học sinh yếu kém chưa có phương pháp học tập khoa học, hầu hết là thụ
động, lệ thuộc vào các loại sách bài giải, vào các học sinh khá giỏi.
* Đối với cha mẹ học sinh:
- Một số phụ huynh thiếu quan tâm hoặc quan tâm không đúng mức đến việc
học tập của con cái, chưa quan tâm theo dõi việc học bài ở nhà của con mình, còn
giao phó cho nhà trường.
- Sự phối hợp giữa nhà trường và phụ huynh chưa tốt.
* Đối với chương trình, sách giáo khoa, sách bài tập Tiếng Anh lớp 9:
- Thời lượng dành cho môn Tiếng Anh ít, chỉ 2 tiết/ 1 tuần
- Sách bài tập chủ yếu là bài tập ngữ pháp, đọc hiểu, chưa có bài tập rèn luyện
kĩ năng nghe, nói, viết cho học sinh.
- Chưa có các bài tập dành riêng cho học sinh yếu kém.
* Đối với giáo viên dạy bộ môn Tiếng Anh :
- Chưa đầu tư nhiều cho học sinh yếu kém.
- Việc nghiên cứu tài liệu tham khảo, ứng dụng công nghệ thông tin để nâng
cao nghiệp vụ chuyên môn còn hạn chế.
- Việc dạy cho học sinh yếu kém tự học và sáng tạo hình như ít thực hiện, chỉ
lo dạy hết giáo án, chương trình, nội dung đã qui định, lo không kịp giờ.
Trước tình hình trên, bản thân tôi nhận thấy cần phải có biện pháp giúp học
sinh yếu kém học tốt môn tiếng Anh. Qua thời gian tự học hỏi và tham khảo các
tài liệu về phương pháp giảng dạy Tiếng Anh cùng với kinh nghiệm nhiều năm
giảng dạy lớp 9, tôi đã rút ra được “Một số biện pháp giúp học sinh yếu kém học
tốt môn Tiếng Anh 9”. Trong năm học 2015-2016 tôi đã áp dụng kinh nghiệm này

nâng cao để truyền đạt phù hợp cho từng đối tượng học sinh.
Từ phương pháp chung của việc dạy ngữ pháp bản thân tôi đã thực hiện một số
giải pháp như sau:
- Sử dụng triệt để các đồ dùng dạy học sẵn có kết hợp với ứng dụng công
nghệ thông tin thiết kế các trò chơi dựa vào các chương trình trò chơi, các cuộc
thi trên truyền hình giúp cho học sinh cảm thấy hứng thú khi học tập.
- Khai thác các bài giảng trực tuyến trên mạng, cho học sinh xem các đoạn
phim liên quan đến nội dung bài học nhằm thay đổi không khí học tập .
- Phát huy tính tích cực chủ động của học sinh thông qua các hoạt động cặp
nhóm.
- Giao bài tập về nhà phù hợp với khả năng của học sinh, phân công học sinh
giỏi kiểm tra giám sát và kèm học sinh yếu kém.
- Tăng cường phụ đạo học sinh yếu kém, cho học sinh kiểm tra thử trước khi
các em làm bài kiểm tra trên lớp.
Cách tiến hành các giải pháp:
3.1. Sử dụng triệt để các đồ dùng dạy học sẵn có kết hợp với ứng dụng công
nghệ thông tin thiết kế các trò chơi dựa vào các chương trình trò chơi, các cuộc
thi trên truyền hình giúp cho học sinh cảm thấy hứng thú khi học tập.
Học ngoại ngữ đòi hỏi phải có hứng thú, các trò chơi ngôn ngữ giúp ta thực
hiện điều này. Người dạy và học ngoại ngữ không nên nghĩ rằng chơi các trò chơi
ngôn ngữ là phí phạm thời gian học tập. Ngay cả với tiếng mẹ đẻ cũng sẽ đạt được
những tiến bộ rất nhiều thông qua việc sử dụng các trò chơi ngôn ngữ. Các trò
chơi ngôn ngữ giúp thay đổi không khí trong tiết học và làm cho các bài học bớt
căng thẳng và dễ hiểu hơn, đôi khi giúp người học dễ nhớ và tiếp thu kiến thức
một cách sâu sắc. Để giúp cho học sinh cảm thấy hứng thú khi học tập tôi đã ứng
dụng công nghệ thông tin thiết kế các trò chơi dựa vào các chương trình trò chơi,
các cuộc thi trên truyền hình. Qua tìm hiểu cho thấy học sinh rất thích xem các
chương trình trò chơi, các cuộc thi trên truyền hình vì vậy các em rất hứng thú khi
bản thân mình đựợc trực tiếp tham gia vào trò chơi. Ngoài ra, giáo viên cần phải
4

C. for
3. Lucky number
4. Give the correct form of the verb in bracket:
Minh wishes he (be) _____ old enough to ride a motorbike.
5. Chose the correct word to complete the sentence:
Liz went to bed early ____ she was tired after the trip.
5


A. but

B. because

C. so

6. Complete the sentence with a suitable preposition.
He was born _______ 15th, January.
7. Lucky number
8. Give the correct form of the verb in bracket
Thanh wishes she (have) ____ lots of money to help street children.

Ví dụ 2: Unit 3. Lesson 1. Getting started + Listen and read.
Ở giai đoạn trong khi đọc tôi cho học sinh chơi trò chơi có tên gọi “Đường lên
đỉnh Olympia”
Học sinh chơi theo đội. Hình thức chơi:
- Giáo viên chia lớp làm 2 đội.
- Giáo viên đọc câu hỏi từ 1 đến 7 trang 23 sách giáo khoa, học sinh lắc lục lạc
dành quyền trả lời.
- Mỗi câu trả lời đúng được lên một bậc, đội nào lên tới đỉnh trước là đội thắng.


Để hoạt động cặp nhóm có hiệu quả thì giáo viên phải biết được học lực của
từng học sinh để phân chia cặp nhóm cho phù hợp. Đối với những hoạt động cần
sự hổ trợ, nên chia cặp nhóm gồm nhiều đối tượng học sinh, để trong lúc hoạt
động học sinh khá, giỏi sẽ giúp đỡ các học sinh trung bình, yếu, kém nắm bắt
được kiến thức trọng tâm của bài học. Đối với những hoạt động không cần sự hổ
trợ thì giáo viên chia cặp nhóm theo từng đối tượng học sinh để giáo viên dễ
dàng hổ trợ khi các em cần, giao việc phù hợp với đối tượng.
Ví dụ 1: Unit 4. Lesson 4. Read
Giáo viên yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm để viết thông tin về các lớp
học Tiếng Anh từ những quảng cáo. Để học sinh yếu kém có thể phát huy được
khả năng của mình, giáo viên chia mỗi nhóm 4 học sinh theo nhóm đối tượng
giỏi, khá, trung bình, yếu-kém.
Học sinh thảo luận nhóm hoàn thành phiếu học tập, sau đó giáo viên chọn bài
làm của 2 nhóm trình chiếu lên bảng và sửa cho cả lớp xem.

School

Class time (morning/
afternoon/ evening).

Academy of
Language
Foreign Language
council
New English
Institute

Morning, afternoon,
evening
Morning and

3.4. Giao bài tập về nhà phù hợp với khả năng của học sinh, phân công học
sinh giỏi kiểm tra và hổ trợ học sinh yếu.
Đối với học sinh yếu kém thường các em không biết cách học bài ở nhà, do đó
giáo viên phải ghi hướng dẫn cụ thể những công việc phải làm ở nhà, thiết kế bài
tập ở nhà phù hợp với trình độ, in ra giấy và phát cho các em sau mỗi tiết học và
thu lại vào đầu tiết học sau để kiểm tra. Phân công học sinh giỏi hổ trợ, kiểm tra
việc học bài, làm bài của học sinh yếu kém.
Ví dụ: Sau khi học xong Unit 3. Lesson 3. Read
Bài tập về nhà dành cho học sinh yếu như sau:
Match the word in column A with its meaning or equivalent in column B
8


A
1.grocery store
2. collect
3. entrance
4. part time
5. reach
6. shrine
7. gather
8. feed
9. sightseer
10. route

B
a. bring into one place or group
b. arrive at a place
c. give food to eat
d. bring things together


Kiểm tra 1 tiết lần 1:
Lớp

Sỉ số

91
92
93
94
Cộng

41
41
40
40
162

Trên trung bình
Tỉ lệ %
Số lượng
30
73,2
38
92,7
27
67,5
29
72,5
124

40
40
162

Trên trung bình
Tỉ lệ %
Số lượng
36
87,8
40
97,6
35
87,5
36
90,0
147
90,7

Dưới trung bình
Số lượng
Tỉ lệ%
5
1
5
4
15

12,2
2,4
12,5


1. Đề tài sáng kiến có yếu tố mới và sáng
tạo:
- Hoàn toàn mới, được áp dụng lần đầu tiên
- Có cải tiến so với giải pháp trước đây với
mức độ khá
- Có cải tiến so với giải pháp trước đây với
mức độ trung bình
- Có cải tiến so với giải pháp trước đây với
mức độ ít
- Không có yếu tố mới hoặc sao chép từ các
giải pháp đã có trước đây
2. Đề tài sáng kiến có khả năng áp dụng:
- Có khả năng áp dụng trong toàn tỉnh hoặc
ngoài tỉnh
- Có khả năng áp dụng trong đơn vị và có
thể nhân ra ở một số nơi trong tỉnh
- Có khả năng áp dụng ở mức độ ít trong
đơn vị
- Không có khả năng áp dụng trong đơn vị
3. Đề tài sáng kiến có tính hiệu quả:
- Có hiệu quả trong phạm vi toàn tỉnh
- Có hiệu quả trong phạm vi cấp sở, ngành,
huyện, thành phố
- Có hiệu quả trong phạm vi cấp trường,
phòng, ban, tổ, khối
- Không có hiệu quả cụ thể
Tổng cộng
Xác nhận của Hội đồng khoa học cơ sở:



Điểm
của HĐ
ngành
GD

Điểm
của HĐ
cấp
tỉnh




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status