sáng kiến kinh nghiệm một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS thị trấn tân t - Pdf 37

PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển
nhanh và mạnh hơn bao giờ hết. Nền kinh tế tri thức đang chiếm vai trò
quan trọng tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội. Xu hướng toàn
cầu hoá là xu hướng chung nổi bật mà bất kỳ quốc gia, dân tộc nào cũng
chịu sự ảnh hưởng. Trong điều kiện ấy, một trong những vấn đề cơ bản
đặt ra là giáo dục, vì giáo dục tạo ra nguồn lực con người, nhân tố quyết
định thành bại của từng cá nhân và cả cộng đồng. Thực tế sinh động
trên thế giới đã chứng minh rằng nguồn tài nguyên thiên nhiên là rất
quan trọng và cần thiết, các nguồn lực khác cũng rất đáng quý nhưng
nếu không chú ý đến công tác giáo dục, không xây dựng được nguồn
lực con người đầy đủ phẩm chất đạo đức, sức khoẻ và trí tuệ thì các
nguồn lực khác cũng như không vì nó không được khai thác để phục vụ
cho đời sống con người.
Từ nhận thức sâu sắc về vị trí vai trò của công tác giáo dục.
Trong thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng công tác
giáo dục và coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Giáo dục phải không
ngừng đổi mới để đáp ứng yêu cầu của xã hội. Mọi nội dung của đổi
mới giáo dục phải luôn hướng tới mục tiêu và yêu cầu là nâng cao chất
lượng giáo dục phải được thể hiện đầy đủ và đồng bộ trong hệ thống
giáo dục từ trung ương đến địa phương, từ quan điểm chung đến các
giải pháp, biện pháp cụ thể.Việc nâng cao chất lượng giáo dục phải
được thực hiện ở tất cả các yếu tố như chương trình giảng dạy, cơ sở vật
chất, trang thiết bị dạy học, đội ngũ giáo viên, phương pháp giảng dạy,
các hoạt động bổ trợ nâng cao chất lượng giáo dục.
Là một cán bộ quản lý giáo dục ở một trường trung học cơ sở
(THCS), trong quá trình giảng dạy và công tác bản thân tôi thường
1





Do tình hình giáo dục của mỗi địa phương có những đặc điểm và
điều kiện cụ thể khác nhau nên việc xây dựng kế hoạch và các bước tiến
hành cũng có những điểm khác nhau. Tuy nhiên vẫn có một đặc điểm
chung là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và hoàn thành các tiêu
chuẩn phổ cập THCS nhằm góp phần duy trì, giữ vững việc tổ chức
thực hiện phổ cập giáo dục trung học và góp phần giữ vững các tiêu
chuẩn về việc xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia.
- Việc tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi và thi chọn học sinh giỏi
nhằm động viên khích lệ học sinh giỏi và giáo viên dạy giỏi góp phần
thúc đẩy việc cải tiến, nâng cao chất lượng của công tác quản lý, chỉ đạo
của các cấp quản lý giáo dục, đồng thời phát hiện học sinh có năng
khiếu từng môn học để tiếp tục bồi dưỡng ở cấp học cao hơn nhằm đào
tạo nhân tài cho đất nước.
Ngày nay chúng ta đang đứng trong một kỷ nguyên mới. Kỷ
nguyên của những giá trị nhân văn tốt đẹp, của trí tuệ cao và của những
bàn tay vàng, nguồn gốc trực tiếp tạo ra những của cải vật chất, văn hóa
và tinh thần có trách nhiệm cao. Giáo dục đóng vai trò đặc biệt quan
trọng trong chiến lược phát triển của một quốc gia, bởi giáo dục và đào
tạo là chìa khóa mở cửa để tiến vào tương lai. Đồng thời sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi giáo dục phải đào tạo nên
những con người năng động, tự chủ, sáng tạo, có nhân cách phát triển
toàn diện. Thực hiện tư tưởng ấy giáo dục đã và đang từng bước đổi
mới để đáp ứng những yêu cầu của xã hội.
Từ đó tôi đã đúc kết kinh nghiệm chọn đề tài “Một số giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS Thị trấn Tân
Thạnh” trong năm học 2015-2016 và những năm tiếp theo.
II. Lịch sử đề tài
- Bỏ học là hiện tượng xảy ra trong phạm vi nhà trường. Đó là

phát huy tính tích cực của học sinh là chìa khóa nâng cao chất lượng
dạy và học.
4


Ở mỗi bậc học việc bồi dưỡng học sinh giỏi là nền móng cho
chiến lược đào tạo người tài của đất nước. Trường THCS Thị trấn Tân
Thạnh nhiều năm qua đã xác định: “Nâng cao chất lượng giáo dục đại
trà và việc bồi dưỡng học sinh giỏi” là một trong những nhiệm vụ trọng
tâm, yêu cầu về chất lượng giảng dạy và hiệu quả bồi dưỡng ngày càng
đòi hỏi cao. Việc bồi dưỡng học sinh giỏi là cả một quá trình, phải có kế
hoạch cụ thể cho người dạy và cả người học.
III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đối với đề tài này tôi chỉ nghiên cứu tìm ra một số giải pháp hạn
chế tỷ lệ học sinh bỏ học, biện pháp tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi tại
trường THCS Thị Trấn trong năm học 2015-2016 nhằm giúp Thị Trấn
và các xã lân cận góp phần duy trì sĩ số và giữ vững các tiêu chuẩn
PCGD-THCS, PCGD trung học đã đạt, đồng thời để góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường phổ thông hiện nay.
IV. Mục đích nghiên cứu
* Đối với việc hạn chế thấp nhất tỷ lệ học sinh bỏ học:
Qua đề tài tôi sẽ học hỏi được một số kinh nghiệm quản lý của
nhà trường về các biện pháp ngăn ngừa hiện tượng bỏ học của học sinh.
Từ đó lựa chọn bổ sung vào thực tế công tác quản lý ở đơn vị mình
đang công tác, nhằm đáp ứng, ngăn chặn học sinh bỏ học góp phần duy
trì và giữ vững trường đạt chuẩn quốc gia khi đến thời điểm kiểm tra
công nhận lại.
Thu thập và xử lý các số liệu về thực trạng học sinh bỏ học của
nhà trường trong những năm qua.
Xây dựng quy chế phối hợp với các ban ngành đoàn thể, chính

PHẦN NỘI DUNG
I. Thực trạng đề tài
1. Hạn chế tỷ lệ học sinh bỏ học
Trong những năm gần đây được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo
của cấp uỷ Đảng, phòng Giáo dục và Đào tạo Tân Thạnh, của chính
quyền địa phương, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ quản lý,
giáo viên, nhân viên trong nhà trường và học sinh của toàn trường. Nên
nhà trường đã hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học trên tất cả các mặt giáo
dục, cụ thể là:
Bảng thống kê so sánh tỷ lệ học sinh bỏ học trong 3 năm khi
nghiên cứu tổ chức thực hiện:
Năm học
Khối

2012-2013

2013-2014

TSHS: 156
Khối 6

Bỏ

học:

1

(0,63)
TSHS: 177
Khối 7


Bỏ học: 0

TSHS: 172

TSHS: 137

Bỏ học: 3(1,7)
TSHS: 133

Bỏ học: 0
TSHS: 163
7


Bỏ học: 0 (0)
TSHS: 619
Cộng

Bỏ

học:

(0,64)

4

Bỏ học: 1 (0.8)

Bỏ học: 1 (0.6)

cao kiến thức vì thế một số học sinh không nắm bắt và theo kịp được
chương trình học. Từ đó sức học yếu dần cảm thấy thua kém bạn bè,

8


dẫn đến chán nản, sợ đi học, dối gia đình, dối nhà trường trốn học và
cuối cùng bỏ học.
Hai là: Một số giáo viên bộ môn giảng dạy chưa đạt hiệu quả cao
trong từng tiết học, do chưa thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy
học vì thế phương pháp truyền thụ kiến thức còn hạn chế, chưa tạo sự
hứng thú đam mê đối với học sinh trong giờ học làm cho học sinh khó
hiểu, khó nắm được kiến thức trọng tâm bài nên không thích tiếp tục
học những bộ môn ấy, dẫn đến học không đều giữa các môn nên bi
quan bỏ học.
Ba là: Do bản thân học sinh (HS) không ham thích học nữa, chỉ
nhận thức học hết bậc tiểu học, biết đọc, biết viết là đủ rồi. Thậm chí
khi lên lớp 6 học được một thời gian nhưng ham chơi bỏ tiết và cuối
cùng bỏ học
Bốn là: Một số phụ huynh còn hạn chế trong việc nhận thức, cho
nên khi thấy các em có thể giúp đỡ được gia đình thì bắt các em nghỉ
học để đi xin việc làm ở một công ty hay một xí nghiệp nào đó hoặc khi
thấy các em có biểu hiện muốn bỏ học thì phụ huynh không khuyên
bảo, động viên các em trở lại trường học mà thậm chí còn phản đối khi
giáo viên đến vận động.
Năm là: Do hoàn cảnh điều kiện kinh tế gia đình gặp khó khăn.
Khi gặp thời vụ, một số học sinh phải nghỉ học phụ giúp cha mẹ đi làm
thuê, làm mướn do gia đình đông con, ít ruộng để tạo kế sinh nhai.
Trường họp này thường gặp đối với những hộ gia đình nghèo ở các xã
Nhơn Hoà, Tân Bình, Kiến Bình.


2014-2015

Cấp huyện

31

41

31

Cấp tỉnh

10

12

5

Số lượng HSG

Trong những năm học qua, số lượng đạt học sinh giỏi cấp huyện
ở trường THCS Thị trấn Tân Thạnh tương đối ổn định và khá cao so với
các trường trong huyện, nhưng số lượng đạt học sinh giỏi cấp tỉnh hầu
hết chỉ là học sinh giỏi các bộ môn văn hoá lớp 9. Năm học 2014-2015,
tỷ lệ đạt học sinh giỏi cấp tỉnh giảm so với năm học 2013-2014 là 7 học
10


sinh. Kết quả trên chưa thoả mãn với nhu cầu mong muốn của nhà


của nhà trường. Tôi đã tự nhủ với bản thân: là một Hiệu trưởng quản lý
trường THCS cần phải làm gì để giúp các em học sinh hạn chế tối đa tỷ
lệ bỏ học , biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi đạt kết quả cao cả về số
lượng lẫn chất lượng nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện để góp phần duy trì và giữ vững trường trung học cơ sở Thị Trấn
đạt chuẩn quốc gia trong những năm kế tiếp. Tôi đã tập trung vào một
số giải pháp sau:
1. Hạn chế tỷ lệ học sinh bỏ học trong nhà trường
1.1. Phân công giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn hợp lý
phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường.
Một số cán bộ (CB), giáo viên (GV) cho rằng việc phân công
giáo viên chủ nhiệm lớp rất đơn giản. Ai cũng có thể chủ nhiệm được
bất kỳ một lớp nào. Nhưng thực chất không thể nghĩ như thế được. Bởi
vì, tâm sinh lý lứa tuổi học sinh ngày càng phát triển nên việc lựa chọn
giáo viên để phân công chủ nhiệm đúng đối tượng là rất quan trọng. Ở
lứa tuổi này, các em luôn muốn tự làm theo ý thích của bản thân, muốn
chứng tỏ là mình đã lớn và các em cũng dễ bị cám dỗ, bắt chước theo
bạn bè. Các em luôn muốn tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh
mình. Chính vì vậy, phải học tập, thực hiện theo những khuôn khổ của
nhà trường là việc các em cảm thấy không thoải mái, không muốn tuân
thủ. Từ đó, các em muốn thoát ra, muốn được tự do. Vậy phải làm gì để
giúp các em học tập tốt, rèn luyện nhân cách đạo đức theo những khuôn
khổ, giáo huấn của nhà trường với tâm lý thoải mái, thích thú hơn là bị
ép buộc. Muốn làm được điều này, công tác chủ nhiệm lớp là một trong
những yếu tố quan trọng nhất mà giáo viên cần phải thực hiện. Tuy
nhiên, thực hiện công tác chủ nhiệm lớp không phải là lúc nào chúng ta
cũng thực hiện một việc làm giống nhau với tất cả các đối tượng học
sinh và thực hiện suốt cả năm học, như thế sẽ gây tâm lý nhàm chán,
không hiệu quả. Mỗi giáo viên cần có những biện pháp cụ thể riêng,

hiện rõ tinh thần trách nhiệm, thực hiện chưa đồng bộ nên chưa đạt hiệu
quả cao trong việc giáo dục rèn luyện hạnh kiểm học sinh. Cho nên, một
13


vài lớp ở khối 8 số lượng học sinh bỏ học tỷ lệ còn khá cao. Song song
với việc phân công giáo viên chủ nhiệm thì việc phân công giáo viên bộ
môn cũng không kém phần quan trọng. Bản thân tôi phải nắm bắt tình
hình học sinh của từng khối lớp thông qua năm học trước để dễ dàng
phân công ở năm học sau hợp lý hơn. Qua tìm hiểu phát hiện có một số
lớp khi phân công giáo viên này dạy môn Tiếng Anh, môn Hóa Học,
môn Toán, môn Sinh học… thì phần lớn học sinh trong lớp không thích
học, chán học, trốn học, dẫn đến hiện tượng bỏ học. Nhưng khi kịp thời
thay đổi phân công giáo viên khác thì vận động các em trở lại lớp học
rất tốt thậm chí duy trì được sĩ số đến cuối năm. Vấn đề này bản thân tôi
đã vận dụng đạt hiệu quả ở nhiều năm học trước.
1.2. Tổ chức thực hiện tốt khâu vận động đối tượng học sinh
được công nhận hoàn thành chương trình tiểu học vào học lớp 6 phổ
thông:
Sau khi nắm được kết quả hoàn thành chương trình tiểu học tôi đã
trực tiếp gặp gỡ trao đổi với Hiệu trưởng các trường tiểu học để biết
được số lượng học sinh nhằm dễ dàng phân chia số lớp ở đầu năm học.
Sau đó, tôi tổ chức cho giáo viên lập danh sách theo từng đơn vị
và thông báo ngày tập trung vào trường THCS để điểm danh sĩ số. Từ
đó lập riêng cụ thể danh sách học sinh không ra học lớp 6 ở từng địa
bàn xã, Thị Trấn và tổ chức phân công phối kết hợp giữa giáo viên chủ
nhiệm lớp 5 và đội ngũ giáo viên đã định hướng phân công chủ nhiệm
lớp 6 đến trực tiếp từng gia đình học sinh để vận động. Mặc khác, tôi
trực tiếp trao đổi với Hiệu trưởng các trường tiểu học đánh thư mời có
chữ ký của chủ tịch uỷ ban nhân dân các xã, Thị Trấn gởi đến từng gia

cho gia đình để kịp thời phản hồi thông tin khi HS có những hành vi vi
phạm nội quy nhà trường hoặc có biểu hiện bỏ học. Từ đó sẽ tạo được
sự kết hợp giữa gia đình và nhà trường để có biện pháp giải quyết, giáo
dục đạt hiệu quả cao.
1.4. Thông tin hai chiều kịp thời giữa giáo viên chủ nhiệm với
Hiệu trưởng khi phát hiện học sinh nghỉ học liên tiếp không rõ lý do.
15


GVCN phải nắm bắt kịp thời đối tượng học sinh thông qua việc
báo cáo của cán bộ lớp, của GV bộ môn đã phê trong sổ đầu bài để kịp
thời đến gia đình tiếp xúc trao đổi với PHHS. Khi phát hiện HS học yếu
bỏ học thì GVCN cần phải kết hợp với GV bộ môn lên kế hoạch tổ
chức bồi dưỡng phụ đạo cho HS, phân công những HS khá giỏi kèm
những HS yếu kém. Bởi vì, do năng lực yếu kém nên các em rất sợ đi
học, thậm chí còn dối cả gia đình, dối nhà trường trốn học để đi chơi.
Muốn quản lý tốt được các em trong từng tiết học, tôi quy định tất cả
giáo viên bộ môn khi vào đầu giờ mỗi tiết dạy phải điểm danh lại sĩ số
và ghi cụ thể tên học sinh vắng, bỏ tiết vào sổ đầu bài. Ngoài ra, hằng
ngày tôi còn phân công các thành viên trong tổ văn phòng đến từng lớp
để điểm danh sĩ số. Sau khi tổng kết giáo viên chủ nhiệm và giáo viên
bộ môn sẽ nắm rõ được danh sách học sinh bỏ tiết hoặc nghỉ học có tính
hệ thống trong tuần. Từ đó, tôi kết hợp với giáo viên chủ nhiệm trực
tiếp mời phụ huynh trao đổi hoặc phân công GVCN đến tận gia đình
học sinh, cùng nhau tìm biện pháp để giáo dục các em giúp các em tiến
bộ trong học tập, ham thích học và không tự ý bỏ học. Qua đó, còn theo
dõi được tính chuyên cần của học sinh ở từng lớp mỗi ngày và thông
báo đến GVCN để có biện pháp lên kế hoạch theo dõi sâu sát từng đối
tượng học sinh của lớp mình và kịp thời đến gia đình để trao đổi với
phụ huynh, tháo gỡ những khó khăn tạo điều kiện cho học sinh đi học

Trấn. Em rất ham học nhưng vì hoàn cảnh gia đình, túng thiếu bẩn chật
nên em đã phải nghỉ học một năm để phụ giúp cha mẹ đi làm mướn ở
Thành Phố Hồ Chí Minh nhưng đồng lương thu nhập không cao nên em
đã trở về địa phương muốn tiếp tục học lại. Nắm rõ tình hình trên, tôi đã
kết hợp với GVCN trực tiếp đến trao đổi với gia đình. Đặc biệt, tôi đã
mời em Linh đến văn phòng trao đổi tâm tình thầy trò và qua đó tôi đã
phân tích cho em hiểu được lợi ích của việc học tập nâng cao trình độ.
Sau cùng, tôi đã thật sự thành công vì em Linh đã trở lại lớp học rất đều
và đã duy trì đến cuối năm học.
17


Rõ ràng, nếu như không có lòng kiên trì nhẫn nại, thiếu tinh thần
trách nhiệm thì vô tình chúng ta sẽ tạo nên một số lượng học sinh bỏ
học đáng kể gây ảnh hưởng đến công tác giáo dục trong nhà trường và
xã hội sẽ tăng thêm số lượng người thiếu trình độ văn hoá gây ảnh
hưởng ít nhiều đến cuộc sống cộng đồng, nhất là đối với công tác Phổ
cập – giáo dục hiện nay. Điều đó cho thấy nếu thật sự chúng ta có tác
động mạnh mẽ đến tâm tư tình cảm của phụ huynh và học sinh thì
chúng ta sẽ được sự hỗ trợ đắt lực ngược lại từ phía phụ huynh học sinh.
1.5. Tiếp xúc với chính quyền địa phương các cấp trên địa bàn
khi có học sinh bỏ học.
Đây cũng là một việc làm rất cần thiết để góp phần giữ vững và
nâng tỷ lệ các chỉ tiêu trong công tác phổ cập THCS nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện. Nhiệm vụ của nhà trường hiện nay là
phải đảm bảo duy trì sĩ số, hạn chế thấp nhất tỷ lệ học sinh bỏ học, lưu
ban. Trách nhiệm của nhà trường là phải trực tiếp tổ chức vận động khi
phát hiện học sinh bỏ học trên địa bàn mình phụ trách. Đây là vấn đề vô
cùng bức xúc đối với tất cả các trường THCS khi thực hiện công tác
phổ cập giáo dục. Như vậy, bản thân nhà trường tự vận động là chưa đủ,

cán bộ giáo viên. GV bộ môn cùng khối thống nhất đề cương phụ đạo
cho từng bộ môn ở tất cả các khối lớp. Mỗi lớp phụ đạo HS 2 tiết/tuần
của 1 bộ môn và GV giảng dạy phải đúng thời khóa biểu sắp xếp của
ban giám hiệu. Nếu có sự thay đổi phải báo cáo với Hiệu trưởng. Những
GV được phân công phụ đạo là những GV có trình độ chuyên môn khá
vững, có tinh thần trách nhiệm đối với HS. GV được phân công phụ đạo
phải phê sổ đầu bài đầy đủ nội dung và ghi cụ thể số lượng HS tham gia
học tập và vắng mặt trong mỗi tiết học. Hiệu trưởng phải thường xuyên
kiểm tra, khảo sát chất lượng HS để đánh giá kết quả phụ đạo của GV
và sự tiến bộ của HS. Từ đó, có chế độ động viên khen thưởng kịp thời
những HS tiến bộ và những CB,GV tích cực trong công tác phụ đạo.
Công việc này nhà trường đã tổ chức thực hiện thường xuyên và
liên tục trong những năm qua nhưng hiệu quả đạt chưa cao do HS còn
19


lơ là, chán học, còn bỏ học nhiều. Trong năm học 2014-2015, bằng sự
nổ lực và quyết tâm nhà trường tiếp tục tổ chức thực hiện, tập trung chủ
lực phụ đạo ở các bộ môn: Ngữ Văn, Toán, Tiếng anh, Vật lí, Hóa học .
Kết quả đem lại rất khả quan, HS theo học các lớp phụ đạo đa số đi học
thường xuyên, đầy đủ hơn, ít vắng học và bỏ học.
1.7. Giáo dục học sinh định hướng nghề nghiệp ở tương lai
thông qua tiết sinh hoạt dưới cờ và qua chương trình sinh hoạt hướng
nghiệp đối với học sinh lớp 9.
Đa số học sinh hiện nay chưa nhận thức được việc học tập nâng
cao trình độ sẽ có lợi ích ở tương lai như thế nào. Vì thế, tôi đã kết hợp
với GVCN cần phải phân tích cho học sinh thấy được sau khi được
công nhận hết cấp THCS các em có thể chọn cho mình một hướng đi
đúng đắn. Khi có trình độ các em dễ dàng tìm cho mình một nghề làm
thích hợp, đáp ứng được nhu cầu kinh tế cho gia đình. Nhất là phải giáo

quân dọn vệ sinh khuôn viên trường, những buổi sinh hoạt kỷ niệm
những ngày lễ lớn của đất nước thì những hoạt động mang tính thường
nhật khác như tổ chức các trò chơi dân gian trong giờ ra chơi, hội khỏe
Phù Đổng…đã tạo nên không khí tích cực, vui tươi cho học sinh sau
những giờ học căng thẳng.
Những hoạt động ấy đã rèn luyện và hình thành ở các em thái độ
tinh thần ý thức, nhiệt tình, trách nhiệm và ham muốn được đóng góp
cho phong trào của lớp, của trường qua đó cảm nhận được rằng bản
thân sống có ích hơn, biết đoàn kết và biết làm việc vì tập thể, tạo nên
phong trào thi đua học tập tiếp thu nhiều kiến thức để được tham gia và
có kết quả tốt ở các cuộc thi do nhà trường tổ chức
Có thể nói những hoạt động trên đã và đang góp phần đẩy mạnh
thực hiện xây dựng phong trào “ Trường học thân thiện, học sinh tích
cực ”, “mỗi ngày đến trường là một niềm vui”, kết quả những hoạt động
trên đã nhận được sự hưởng ứng, đồng tình tích cực từ học sinh, hội
đồng sư phạm nhà trường và sự đánh giá cao của Hội cha mẹ học sinh.
Để có được những kết quả ấy ngoài sự hưởng ứng tham gia của học
21


sinh, sự đóng góp, hướng dẫn chỉ đạo của Ban Giám Hiệu, của các thầy
cô giáo thì bộ phận chủ chốt không thể thiếu trong việc xây dựng phong
trào cho nhà trường đó là tổ chức Đoàn - Đội mà trực tiếp lãnh đạo là
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh của trường.
Nhiều hoạt động đã được Chi bộ Đảng chỉ đạo cho Chi Đoàn tổ
chức, thu hút được nhiều học sinh tham gia, nội dung và hình thức hoạt
động liên tục được đổi mới, đa dạng, sáng tạo, phù hợp với nhu cầu và
tâm lý lứa tuổi học sinh, đáp ứng tốt nhu cầu học tập, vui chơi giải trí đã
góp phần định hướng giúp cho học sinh phấn đấu toàn diện, phấn đấu
trở thành con ngoan, trò giỏi.

việc tổ chức phát hiện, tuyển chọn đội tuyển học sinh giỏi ở các khối
lớp từ lớp 6 đến lớp 9. Đây là một bước quan trọng trong việc bồi
dưỡng học sinh giỏi.
Xuất phát từ thực tế, không phải mọi học sinh có xếp loại học
sinh giỏi đều là học sinh có năng khiếu cần bồi dưỡng. Ngược lại,
những học sinh có năng khiếu chưa hẳn đã là học sinh có xếp loại học
lực giỏi. Cho nên làm thế nào để phát hiện được học sinh có năng khiếu
từ đó tiến hành tuyển chọn và tiến hành bồi dưỡng cho từng khối lớp là
công việc quan trọng. Để tuyển chọn chính xác phải căn cứ vào thông
tin và xét cả quá trình học tập của học sinh. Vì thế, việc phát hiện và
tuyển chọn đúng đối tượng sẽ mang ý nghĩa định hướng phát triển đúng
đắn năng khiếu bộ môn. Cho nên, phát hiện và tuyển chọn được học
sinh giỏi là tiền đề, là xuất phát điểm cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi,
đồng thời nó mang ý nghĩa giáo dục rất lớn. Định hướng sai khả năng
phát triển của học sinh sẽ gây nên sự miễn cưỡng, gò bó, rất có hại cho
một nhân cách đang hình thành và phát triển. Với vai trò hiệu trưởng
nhà trường, tôi đã chỉ đạo cho giáo viên bộ môn phải kết hợp chặt chẽ
với giáo viên chủ nhiệm để tuyển chọn học sinh giỏi phù hợp, chính xác
và đúng đối tượng. Cụ thể được thực hiện các bước như sau:
- Bước 1: Giáo viên phụ trách bộ môn tiến hành khảo sát chất
lượng học sinh bằng cách kiểm tra những nội dung kiến thức cơ bản
23


trong chương trình học, kiến thức nâng cao bằng các hình thức kiểm tra
viết, thảo luận trao đổi hằng ngày. Sau đó, lập danh sách học sinh giỏi
của bộ môn lớp mình phụ trách với số lượng không hạn chế. Đây là một
việc làm hết sức cần thiết bởi vì chỉ có giáo viên bộ môn trực tiếp giảng
dạy mới đánh giá chính xác đối tượng học sinh giỏi.
- Bước 2: Tổ chức thi chọn trong khối.

nhất, đòi hỏi giáo viên phải có căn cứ chính xác, tôi đã tập trung vào các
tiêu chí sau:
2.2.1 Phân công giáo viên bồi dưỡng:
Phân công giáo viên là khâu quan trọng, bởi có sử dụng hợp lý
đúng người, đúng việc thì mới phát huy được tài năng và hiệu suất công
tác. Để làm tốt khâu này, tôi đã thực hiện chọn giáo viên bồi dưỡng đội
tuyển học sinh giỏi cụ thể như sau:
- Giáo viên có trình độ, kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ vững
vàng.
- Giáo viên có lòng nhiệt tình, say mê, chấp hành quy chế chuyên
môn tốt.
- Giáo viên có kỹ năng thiết kế nội dung dạy học - giáo dục, có kỹ
năng tự học, tự bồi dưỡng.
- Giáo viên có sức khoẻ, tự tin, có kinh nghiệm, có tính sáng tạo,
có năng lực giao tiếp, năng lực hiểu học sinh.
- Giáo viên phải được công nhận là giáo viên dạy giỏi hoặc đạt
chiến sĩ thi đua các cấp.
Trong quá trình bồi dưỡng, tôi thường xuyên khảo sát giáo viên,
nếu có giáo viên hạn chế về sức khoẻ, chuyên môn không phát triển thì
cần thay thế vào đó những giáo viên kế cận đã được bồi dưỡng về
chuyên môn. Việc phân công này áp dụng tùy theo tình hình thực tế của
nhà trường ở mỗi năm học.
2.2.2 Thời gian bồi dưỡng:
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status