Lồng ghép một số hiện tượng, vấn đề xảy ra trong thực tế vào giảng dạy môn hóa học 9.
PHẦN A: LỜI NÓI ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài.
1. Cơ sở lí luận
Giáo dục thế hệ trẻ là nhiệm vụ mà tất các các quốc gia trên thế giới đều coi
là chiến lược của dân tộc mình. Vì thế đại hội lần IX, Đảng cộng sản Việt Nam
trong nghị quyết ghi rõ: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, tương lai của một dân
tộc, một quốc gia phải nhìn vào nền giáo dục của quốc gia đó.
Nói về tầm quan trọng của giáo dục cho thế hệ trẻ nhân ngày khai trường
đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Non
sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài
vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là
nhờ một phần lớn công học tập của các cháu”
Nhằm thực hiện mục tiêu của ngành giáo dục là đào tạo thế hệ trẻ trở thành
những chủ nhân tương lai của đất nước. Bản thân là một giáo viên đứng lớp giảng dạy
bộ môn Hóa học tôi nhận thấy rằng: Hoá học là một môn khoa học gắn liền với thực
tiễn cuộc sống, do đó hóa học là môn học rất quan trọng trong nhà trường phổ thông
nói chung và trường THCS nói riêng. Môn hoá học THCS cung cấp cho học sinh một
hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hoá học, là giáo viên bộ
môn hoá học thì cần hình thành ở các em học sinh một kỹ năng cơ bản, thói quen học
tập và làm việc khoa học để làm nền tảng cho việc hình thành quá trình học tập, phát
triển năng lực nhận thức, năng lực hành động. Có những phẩm chất cần thiết như cẩn
thận, kiên trì, trung thực, tỉ mỉ, chính xác, yêu chân lí khoa học, có ý thức trách nhiệm
với bản thân, gia đình và xã hội có thể hoà hợp với môi trường thiên nhiên, chuẩn bị
cho học sinh học lên cao và đi vào cuộc sống lao động.
Tuy nhiên việc lĩnh hội kiến thức hoá học của học sinh là hết sức khó khăn.
Mặt khác, Hóa học là một môn học hoàn toàn mới lạ đối với học sinh ở THCS, mà
khối lượng kiến thức học sinh cần lĩnh hội tương đối nhiều và hơi khô khan so với
những môn học khác. Phần lớn các bài gồm những khái niệm mới, rất trừu tượng, khó
thực tiễn trong đời sống đưa vào bài giảng bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm phát
huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú
trong học tập bộ môn. Từ những lí do đó tôi chọn đề tài: “Lồng ghép một số hiện
tượng, vấn đề xảy ra trong thực tế vào giảng dạy môn hóa học 9”.
2. Cơ sở thực tiễn
Lê Thị Thanh Thảo: Trường THCS Hưng Điền B
2
Lồng ghép một số hiện tượng, vấn đề xảy ra trong thực tế vào giảng dạy môn hóa học 9.
Môn hoá học trong trường trung học cơ sở giữ một vai trò quan trọng trong
việc hình thành và phát triển trí dục của học sinh. Mục đích của môn học là giúp
cho học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao tri thức, hiểu biết về thế giới,
con người thông qua các bài học, giờ thực hành... của hoá học. Học hoá để hiểu,
giải thích được các vấn đề thực tiễn thông qua cơ sở khoa học, sự chuyển hoá của
các chất bằng các phương trình phản ứng hoá học... Đồng thời là khởi nguồn, là cơ
sở phát huy tính sáng tạo, tạo ra những ứng dụng phục vụ trong đời sống của con
người. Hoá học góp phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm hại đến đời sống,
tinh thần của con ngời...
Để đạt được mục đích của học hoá học trong trường thì giáo viên dạy hoá
học là nhân tố tham gia quyết định chất lượng. Do vậy, ngoài những hiểu biết về
hoá học, người giáo viên dạy hoá học còn phải có phương pháp truyền đạt thu hút
gây hứng thú khi lĩnh hội kiến thức hoá học của học sinh, cũng như phân tích, giải
thích cho học sinh rõ những vấn đề mà các em hỏi, các em quan tâm. Đó là vấn đề
rất quan trọng và cần nghiên cứu nghiêm túc. Trong sáng kiến kinh nghiệm
(SKKN) này, tôi có đề cập đến một khía cạnh “Lồng ghép một số hiện tượng, vấn
đề xảy ra trong thực tế vào giảng dạy môn hóa học 9” với mục đích góp phần làm
được được khả năng tư duy của học sinh dẫn đến việc là không thích học môn hóa,
tiết học sẽ diễn ra một cách lặng lẽ, tẻ nhạt, học sinh chỉ mong cho tiết học kết thúc
nhanh. Nhưng nếu mà trong quá trình giảng dạy giáo viên lồng ghép một số hiện
tượng, vấn đề xảy ra trong thực tế thì trước hết là sẽ có sự tranh luận giữa giáo viên và
học sinh, giữa học sinh với học sinh và khi đó học sinh thì hiểu ra được các hiện
tượng, vấn đề đó là có cơ sở khoa học chứ không theo một yếu tố tâm linh hay dị
đoan mà người xưa truyền miệng. Sau nữa là học sinh sẽ chú ý vào những vấn đề mà
các em nhìn thấy được trong thực tế sau đó trao đổi với nhau và cuối cùng là vào lớp
hỏi giáo viên. Từ những câu hỏi nhỏ này khi được giáo viên giải thích và đã hiểu thì
các em sẽ hào hứng, thích thú học hóa hơn, mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh
gần gũi hơn, học sinh thích khám phá và tìm tòi hơn, tăng sự hiểu biết, sự tự tin cho
các em trong quá trình giao tiếp dẫn đến chất lượng học tập tốt hơn nên năm học qua
tôi đã nghiên cứu đề tài này.
IV. Phạm vi đề tài.
1. Đề tài nghiên cứu về vấn đề.
Lồng ghép một số hiện tượng, vấn đề xảy ra trong thực tế tích hợp giáo dục
môi trường, rèn luyện tinh thần trách nhiệm và kĩ năng sống cho học sinh.
2. Đối tượng nghiên cứu.
Lê Thị Thanh Thảo: Trường THCS Hưng Điền B
4
Lồng ghép một số hiện tượng, vấn đề xảy ra trong thực tế vào giảng dạy môn hóa học 9.
Học sinh lớp 91, 92, 93 trường THCS Hưng Điền B.
3. Phạm vi đề tài.
Các bài dạy trong chương trình hóa học lớp 9.
Lê Thị Thanh Thảo: Trường THCS Hưng Điền B
Xử lí thông tin: thông qua một hệ thống câu hỏi, kiến thức giáo viên hướng dẫn
học sinh căn cứ vào thông tin đã thu thập để rút ra những kết luận cần thiết.
Vận dụng: Dựa vào kết luận đã rút ra từ bài học, học sinh vận dụng vào thực
tiễn để hiểu hơn về hiện tượng, vấn đề xảy ra đó.
Lê Thị Thanh Thảo: Trường THCS Hưng Điền B
6
Lồng ghép một số hiện tượng, vấn đề xảy ra trong thực tế vào giảng dạy môn hóa học 9.
Tuy nhiên tùy thuộc vào từng bài giảng cụ thể giáo viên có thể lồng ghép giải
thích các hiện tượng trong thực tế vào bài dạy của mình cho phù hợp như:
* Lồng ghép vào phần mở bài:
Ví dụ: Trước khi vào giảng dạy bài: Sự ăn mòn kim loại và bảo vệ kim loại
không bị ăn mòn, giáo viên có thể nêu vấn đề vào bài với câu hỏi sau: Tại sao những
đồ dùng bằng sắt hay hợp kim của sắt thường bị gỉ tạo thành gỉ sắt và dần dần đồ
vật không dùng được ?
* Lồng ghép trong quá trình giảng dạy:
Ví dụ 1: Khi dạy xong phần tính chất vật lí của axit sunfuric giáo viên có thể
cho học sinh trả lời câu hỏi: Vì sao không nên rót nước vào axit sunfuric đậm đặc
mà chỉ có thể rót từ từ axit sunfuric đậm đặc vào nước ?
Ví dụ 2: khi dạy xong phần muối natriclorua của bài 10: Một số muối quan
trọng. Mặc dù, phần muối kali nitrat giảm tải nhưng tôi cũng giới thiệu sơ qua về
muối này và lồng ghép vấn đề đang rất được quan tâm trong thời gian dài là muối kali
nitrat là hóa chất được dùng để tẩy thịt thối thành thịt tươi.
* Lồng ghép khi kết thúc bài học.
Ví dụ: Khi giảng dạy xong bài “phân bón hóa học” giáo viên có thể cho học
sinh giải thích câu ca dao sau:
“ Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Rất thích
Thích
Không thích
SL
TL (%)
SL
TL (%)
SL
TL (%)
15
16,1
21
22,6
57
61,3
Trung
Yếu,
bình
Kém
TL (%)
44,1
SL
TL (%)
16
17,2
Trước khi thực hiện đề tài này, học sinh còn rất mơ hồ trong việc nắm bắt các
kiến thức. Học sinh chưa biết, hiểu và vận dụng… giáo viên cũng chưa đi sâu vào quá
trình giải thích, giải quyết các vấn đề nên học sinh hay nhàm chán. Những học sinh có
khả năng tư duy không cao thì có xu hướng sợ học bộ môn này. Đặc biệt là trường
chưa có phòng thực hành bộ môn nên các tiết thực hành chỉ dừng lại ở mức độ thí
nghiệm biểu diễn của giáo viên vì vậy không tạo được mục tiêu thúc đẩy ý thức học
tập cũng như sự yêu thích bộ môn cho học sinh.
II. Nội dung cần giải quyết.
Lê Thị Thanh Thảo: Trường THCS Hưng Điền B
8
nguyên nhân chính gây ra mưa axit.
Lê Thị Thanh Thảo: Trường THCS Hưng Điền B
9
Lồng ghép một số hiện tượng, vấn đề xảy ra trong thực tế vào giảng dạy môn hóa học 9.
- Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số nơi trên thế giới. Mưa
axit làm mùa màng thất thu, làm mất cân bằng sinh thái, thay đổi độ pH trong đất,
trong nước và phá hủy các công trình xây dựng, các tượng đài làm từ đá cẩm thạch, đá
vôi, đá phiến (các loại đá này thành phần chính là CaCO3):
CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2 + H2O
CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2 + H2O
Áp dụng: Nêu vấn đề khi vào học bài mới.
Bài 2: Một số oxit quan trọng.
Ví dụ 1: Tại sao khi cho vôi sống vào nước, ta thấy khói bốc lên mù mịt, nước
vôi sôi lên và nhiệt độ hố vôi rất cao có thể gây nguy hiểm cho tính mạng của người
và động vật. Do đó, cần tránh xa hố đang tôi vôi hoặc sau khi tôi vôi ít nhất 2 ngày.
Giải thích: Khi tôi vôi đã xảy ra phản ứng tạo thành canxi hiđroxit:
CaO + H2O Ca(OH)2
Phản ứng này tỏa rất nhiều nhiệt nên làm nước sôi lên và bốc hơi đem theo cả
những hạt Ca(OH)2 rất nhỏ tạo thành như khói mù trắng. Do nhiệt tỏa ra nhiều nên
nhiệt độ của hố vôi rất cao. Do đó người và động vật cần tránh xa hố vôi để tránh rơi
xuống hố vôi tôi sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề vào bài.
Ví dụ 2: Khoảng thời gian gần đây ở thành phố Hồ Chí Minh vào sáng sớm
hay gặp hiện tượng gọi là “mù khô”. Vậy mù khô là gì? Nó gây ảnh hưởng như thế
nào đến sức khỏe con người và cách phòng chống ra sao?
Ví dụ 2: Axit clohiđric có vai trò như thế nào đối với cơ thể ?
Giải thích: Axit clohiđric có vai trò rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất
của cơ thể. Trong dịch dạ dày của người có axit clohiđric với nồng độ khoảng chừng
0,0001 đến 0,001 mol/l (có độ pH tương ứng là 4 và 3). Ngoài việc hòa tan các muối
khó tan, nó còn là chất xúc tác cho các phản ứng phân hủy các chất gluxit (chất
đường, bột) và chất protein (đạm) thành các chất đơn giản hơn để cơ thể có thể hấp
thụ được.
Lượng axit trong dịch dạ dày nhỏ hơn hay lớn hơn mức bình thường đều gây bệnh
cho người. Khi trong dịch dạ dày có nồng độ axit nhỏ hơn 0,0001 mol/l (pH>4,5)
người ta mắc bệnh khó tiêu, ngược lại nồng độ axit lớn hơn 0,001 mol/l (pH
Giải thích: Do trong nọc của ong, kiến, nhện (và một số côn trùng khác) có
axit hữu cơ tên là axit formic (HCOOH). Vôi là chất bazơ nên trung hòa axit làm ta
đỡ đau.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học
của bazơ.
Ví dụ 2: Xúc xích một món ăn rất được ưa thích của giới trẻ hiện nay. Tuy
nhiên, mới đây trên các trang mạng xuất hiện hình ảnh một người phụ nữ đang “sơ
chế” những cây xúc xích trong thau có pha nước rửa chén trước khi đem nướng để nó
trở thành một món ăn thơm lùng. Bạn có rùng mình khi thấy cảnh tượng này?
Giải thích: Dường như vấn nạn thực phẩm bẩn tràn lan đã khiến đa phần mọi
người phải rùng mình, lo lắng. Thành phần của nước rửa chén gồm: NaOH, Na2SO4,
NaHCO3, Hec, Las, Laurin, màu, mùi, .... Do đó, nếu rửa xúc xích bằng nước rửa
chén thì các hóa chất này sẽ vào cơ thể ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe. Đặc biệt là
NaOH khi vào cơ thề thì nó sẽ tác động xấu đến dạ dày, ăn mòn miệng, làm chức
năng của hệ tiêu hóa bị suy giảm, ung thư. Do đó, để đảm bảo về an toàn thực phẩm
chúng ta nên vô siêu thị mua về và tự chế biến.
Áp dụng: Giáo viên có thể lồng ghép vấn đề này vào cuối bài phần củng cố.
Bài 8: Một số bazơ quan trọng.
Ví dụ 1: Thạch dừa, thạch thốt nốt, thạch rau câu là món ăn rất được ưa thích
nó vừa mát, vừa giải khát lại vừa ngon đặc biệt vào mùa hè. Vậy ăn thạch dừa, thạch
thốt nốt, thạch rau câu nhiều có bị bệnh hay không?
Giải thích: Ăn nhiều thạch dừa, thạch thốt nốt, thạch rau câu có nguy cơ ngộ
độc rất cao vì nó dễ bị nhiễm khuẩn và biến chất trong quá trình chế biến. Muốn có
được một ly thạch ngon lành thì nhà sản xuất cũng đã cho vào quá trình sản xuất hàng
chục loại hóa chất có hại như: giấm, thuốc tẩy, phân bón NPK, SA, DP... Muốn thạch
có màu trắng thì ngâm vào giấm, để bảo quản được lâu thì cho thuốc tẩy vào hoặc
dung dịch NaOH vào, trong quá trình nấu người ta cho phân DP vào để tạo sự cô đặc.
Còn phân SA và NPK làm cho miếng thạch được dày lên. Thuốc tẩy thì rất độc hại,
còn các loại phân chỉ cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, không phải cung cấp
trong nước nên khi cho nước vào tạo dung dịch trắng đục, khi quét lên tường thì
Ca(OH)2 nhanh chóng khô và cứng lại vì tác dụng với CO2 trong không khí theo
phương trình:
Ca(OH)2 + CO2 CaCO3 + H2O
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố tính chất hóa học
của canxi hiđroxit.
Lê Thị Thanh Thảo: Trường THCS Hưng Điền B
14
Lồng ghép một số hiện tượng, vấn đề xảy ra trong thực tế vào giảng dạy môn hóa học 9.
Bài 9: Tính chất hóa học của muối.
Ví dụ 1: Tại sao khi nấu nước giếng ở một số vùng lại có lớp cặn ở dưới đáy
ấm, đáy nồi? Cách tẩy lớp cặn này?
Trong tự nhiên nước ở một số vùng là nước cứng tạm thời, là nước có chứa
muối Ca(HCO3)2, Mg(HCO3)2. Khi nấu sôi sẽ xảy ra phản ứng hoá học :
t
Ca(HCO3)2
CaCO3 +
0
t
Mg(HCO3)2
MgCO3 +
0
CO2 + H2O
CO2 + H2O
Lồng ghép một số hiện tượng, vấn đề xảy ra trong thực tế vào giảng dạy môn hóa học 9.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề vào bài. Giúp
học sinh hiểu được vai trò tại sao toàn dân phải dùng muối iod. Giúp các em tự
nhận thấy tầm quan trọng của muối iod, tăng tính hiểu biết hơn.
Ví dụ 4: Đậu hủ (đậu phụ) là món ăn hay được dùng trong các bữa ăn chay.
Các món ăn được làm từ đậu hủ tiêu thụ với số lượng lớn, được chế biến từ đậu
nành rất có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên, hiện nay trong quá trình sản xuất để tiết
kiệm chi phí và thời gian thì người ta đưa rất nhiều các phụ phẩm công nghiệp độc
hại vào gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe. Vậy các phụ phẩm nào được đưa vào
đậu phụ và việc đưa các phụ phẩm đó vào có tác dụng gì, tác hại ra sao?
Giải thích: Hiện nay trong quá trình sản xuất đậu hủ vì lợi nhuận người ta
đưa vào những loại hóa chất sau: food Additives BZ 168, Myuc STD, PhosAn,
CarFosel, Pearl po9, Natri hidro sunfit. Những hóa chất này bị nghiêm cấm trong
chế biến thực phẩm. Trong đó, food Additives BZ 168, Myuc STD, PhosAn,
CarFosel, Pearl po9 được đưa vào có tác dụng làm cho đậu hủ dai, mềm, Natri
hidro sunfit có tác dụng làm trắng mịn. Natri hidro sunfit là phụ phẩm được dùng
nhiều trong ngành dệt, nhuộm, tẩy trắng bột giấy. Các chất này khi vào cơ thể, tích
tụ lâu ngày gây ung thư, hen suyễn, những chứng bệnh về đường hô hấp, tậm chí
nó còn gây ngộ độc dây thần kinh ngoại biên, thần kinh trung ương.
Áp dụng: Giáo viên có lồng ghép vấn đề trên cho phần củng cố bài học.
Ví dụ 5: Học sinh đưa ra vấn đề “hôm qua mẹ em mua thuốc chuột về bẫy
chuột, và đêm đó có hai con chuột bị chết”. Vậy thuốc chuột là gì? Cái gì đã làm
chuột chết?
Giải thích: Thuốc chuột là Zn3P2, sau khi ăn Zn3P2 bị thủy phân rất mạnh, làm
lượng nước trong cơ thể chuột giảm đi, nó khát và đi tìm nước:
Zn3P2 + 6H2O 3Zn(OH)2 + 2PH3
Chính PH3 đã làm chuột chết. Càng nhiều nước đưa vào PH3 thoát ra càng
Bài 10: Một số muối quan trọng.
Ví dụ 1: Vì sao muối thô dễ bị chảy nước ?
Giải thích: Muối ăn có thành phần chính là natri clorua, ngoài ra còn có ít
muối khác như magie clorua …, Magie clorua rất ưa nước, nên nó hấp thụ nước trong
không khí và rất dễ tan trong nước. Muối sản xuất càng thô sơ thì càng dễ bị chảy
nước khi để ngoài không khí.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần trạng thái tự nhiên.
Ví dụ 2: Muối ở biển có từ đâu ?
Lê Thị Thanh Thảo: Trường THCS Hưng Điền B
17
Lồng ghép một số hiện tượng, vấn đề xảy ra trong thực tế vào giảng dạy môn hóa học 9.
Giải thích: Các con sông, suối, …Các dòng nước trên lục địa đều chảy về biển,
đại dương và hoà tan mọi chất có thể hoà tan. Do quá trình bay hơi, các nguyên tố,
hợp chất tụ tập trong nước biển ngày càng nhiều theo thời gian, trong đó nhiều nhất là
NaCl, MgCl2 và một số ít muối khác tạo nên muối biển.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần trạng thái tự nhiên.
Ví dụ 3: Vì sao khi luộc rau muống nên cho vào trước một ít muối ăn (NaCl)?
Giải thích: Do nhiệt độ sôi của nước ở áp suất 1at là 100oC, nếu ta thêm NaCl
thì lúc đó làm cho nhiệt độ của nước muối khi sôi (dung dịch NaCl loãng) là > 100oC.
Do nhiệt độ sôi của nước muối cao hơn của nước nên rau chín nhanh hơn, thời gian
luộc rau không lâu nên rau ít mất vitamin. Vì vậy, khi đó rau muống sẽ mềm hơn và
xanh hơn.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học. Vấn đề
này có thể có học sinh biết nhưng có học sinh không để ý và nếu được biết đến thì
các em có thể tiến hành thí nghiệm ngay trong mỗi buổi nấu ăn, góp phần tạo thêm
Giải thích: Trong tro bếp có chứa muối K2CO3, cung cấp nguyên tố kali cho
cây.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học.
Ví dụ 2: Cao dao Việt Nam có câu:
“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ,
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Câu này mang hàm ý của khoa học hoá học như thế nào?
Giải thích: Câu ca dao nhắc nhở người trồng lúa:
Vụ chiêm khi lúa đang trổ đòng đòng mà có trận mưa rào, kèm theo sấm chớp
thì sẽ rất tốt và cho năng suất cao sau này.
Do trong không khí có ~ 80% khí N2 và ~ 20% khí O2, khi có chớp (tia lửa
điện) sẽ tạo điều kiện cho N2 hoạt động:
tialuadien
2 NO
N2 + O2
Sau đó:
2NO
+
O2 2NO2
Khí NO2 sẽ tan trong nước mưa:
4NO2
+
oxi hóa thành axit H2SO4. Axit H2SO4 tác dụng với sắt, nhôm trong keo đất thành
nhôm sunfat và sắt sunfat gây ra đất phèn. Đất phèn là loại đất chua rất khó trồng trọt.
Cũng giống như phân bón hóa học, các loại thuốc bảo vệ thực vật cũng bị rửa
trôi theo nguồn nước rất lớn, gây ô nhiễm môi trường. Cũng do thuốc bảo vệ thực vật
đã làm giảm số lượng của nhiều loài sinh vật có ích (ong mắt đỏ, các loài nắm có ích)
làm giảm đa dạng sinh học, làm xuất hiện các loài sâu bệnh kháng thuốc và là nguyên
nhân bùng nổ nạn dịch rầy nâu, đạo ôn.
Vì vậy phải sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật đúng liều
lượng và quy cách.
Áp dụng: Giáo viên có lồng ghép trên cho phần củng cố bài học.
Ví dụ 4: Chả cá là món ăn cực ngon và cực kỳ bổ dưỡng, đã trở thành một
món ăn nổi tiếng ở khắp xa, gần. Tuy nhiên, hiện nay do chạy theo lợi nhuận mà chả
cá bây giờ được tẩm rất nhiều loại hóa chất gây hoang mang cho người tiêu dùng.
Vậy các hóa được tẩm vào chả cá là gì?
Giải thích: Do chả cá rất nhanh bị hôi thối và ương lên nếu bán không hết
trong một giờ, nên để bảo quản cho chả cá được lâu, dai và không ôi thối thì người ta
cho vào chả cá một lượng lớn ure và chloramphenicol. Hai hóa chất này bị cấm sử
dụng trong bảo quản và chế biến thực phẩm, nó ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con
người đặc biệt là chất chloramphenicol gây ức chế tủy xương, suy giảm bạch cầu, tiểu
Lê Thị Thanh Thảo: Trường THCS Hưng Điền B
20
Lồng ghép một số hiện tượng, vấn đề xảy ra trong thực tế vào giảng dạy môn hóa học 9.
cầu, hồng cầu, làm thiếu máu. Vậy muốn cho gia đình thưởng thức món chả cá ngon
trong bữa cơm thì chúng ta nên chịu khó tự tay làm chả cá và chế biến thành các món
ăn đảm bảo chất dinh dưỡng hạn chế mua chả cá ngoài chợ.
Áp dụng: Giáo viên có thể lồng ghép vấn đề này vào cuối bài phần củng cố.
Lồng ghép một số hiện tượng, vấn đề xảy ra trong thực tế vào giảng dạy môn hóa học 9.
Giải thích: Tuy đồng dẫn điện tốt hơn nhôm nhưng nhôm (khối lượng riêng
của nhôm là 2,70g/cm3) nhẹ hơn đồng (khối lượng riêng của đồng là 8,96g/cm3). Do
đó, nếu như dùng đồng làm dây dẫn điện cao thế thì phải tính đến việc xây các cột
điện sao cho chịu được trọng lực của dây điện. Việc làm đó không có lợi về mặt kinh
tế. Còn trong nhà thì việc chịu trọng lực của dây dẫn điện không ảnh hưởng lớn lắm.
Vì vậy ở trong nhà thì ta dùng dây dẫn điện bằng đồng.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần tính dẫn điện của kim loại.
Ví dụ 2: Lợi ích của kẽm đối với cơ thể như thế nào?
Giải thích: Kẽm nổi tiếng với tác dụng tích cực đối với hệ miễn dịch, chưa hết
sự thiếu hụt nó có thể dẫn đến huyết áp thấp, tăng trưởng xương chậm, chán ăn, mất
khướu giác và vị giác, trầm cảm ...Có rất nhiều lợi ích của kẽm ngoài việc giúp bạn
tránh cúm như: cải thiện sức khỏe não bộ; giúp xương, tóc chắc khỏe; tốt cho mắt; cân
bằng nội tiết; làm cho cơ và da khỏe mạnh... Để bổ sung kẽm thì cần bổ sung các thực
phẩm giàu kẽm như: hải sản, thịt bò, thịt gà, thịt lợn, các loại hạt, nấm ... Lưu ý, kẽm
là một nguyên tố vi lượng cần cung cấp cho cơ thể với lượng rất ít nhưng lại cần thiết
cho sự phát triển của cơ thể.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học.
Bài 16: Tính chất hóa học của kim loại.
Ví dụ 1: Tại sao khi đánh rơi vỡ nhiệt kế thủy ngân thì không được dùng chổi
quét mà nên rắc bột lưu huỳnh lên trên?
Giải thích: Thủy ngân (Hg) là kim loại ở dạng lỏng, dễ bay hơi và hơi thủy
ngân là một chất độc. Vì vậy khi làm rơi vỡ nhiệt kế thủy ngân nếu như ta dùng chổi
quét thì thủy ngân sẽ bị phân tán nhỏ, làm tăng quá trình bay hơi và làm cho quá trình
thu gom khó khăn hơn. Ta phải dùng bột S rắc lên những chỗ có Hg, vì S có thể tác
dụng với Hg tạo thành HgS dạng rắn và không bay hơi. Quá trình thu gom thủy ngân
cũng đơn giản hơn.
Hg
biên, rối loạn tủy sống. Chì vào cơ thể qua nước uống, không khí, thức ăn bị nhiễm
chì (qua đường hô hấp, ăn uống).
+ Thủy ngân: cơ thể khi bị nhiễm thủy ngân sẽ bị phân liệt, co giật không chủ
động. Thủy ngân vào cơ thể người qua khói bụi, khí thải, thuốc bảo vệ thực vật...
+ Asen: hiện tại ở vùng Đồng Tháp Mười nước bị nhiễm asen rất nặng, do đó
không dùng nước ngầm để phục vụ cho việc uống, nấu ăn trong gia đình. Cơ thể
nhiễm asen có thể gây ra 19 loại bệnh khác nhau như: ung thư, phổi, phế quản,
xoang...
+ Ngoài ra, còn một số các nguyên tố khác như: cadimi, crom, mangan.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học.
Ví dụ 4: Vì sao người ta hay dùng đồ vật bằng bạc để đánh gió khi bị cảm?
Giải thích: Khi bị bệnh cảm cơ thể người thường tích tụ 1 lượng khí H2S
tương đối cao. Chính lượng H2S làm cho cơ thể bị mệt mỏi, khi ta dùng đồ vật bằng
bạc để đánh gió thì kim loại Ag sẽ tác dụng với khí H2S. Do đó, lượng khí H2S sẽ
giảm và dần hết bệnh.
Lê Thị Thanh Thảo: Trường THCS Hưng Điền B
23
Lồng ghép một số hiện tượng, vấn đề xảy ra trong thực tế vào giảng dạy môn hóa học 9.
4Ag + 2H2S + O2 2Ag2S + 2H2O
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học.
Bài 18: Nhôm.
Ví dụ 1: Giải thích hiện tượng:“Một nồi nhôm mới mua về sáng lấp lánh, chỉ
cần dùng nấu nước sôi, bên trong nồi nhôm, chỗ có nước biến thành màu xám đen ?”
Giải thích: Bình thường trông bên ngoài nước không có vấn đề gì, thực tế
trong nước có hòa tan nhiều chất, thường gặp nhất là các muối canxi, magiê và sắt.
Các nguồn nước có thể chứa lượng muối sắt ít nhiều khác nhau, loại nước chứa nhiều
Lồng ghép một số hiện tượng, vấn đề xảy ra trong thực tế vào giảng dạy môn hóa học 9.
Fe(OH)3 bị phân hủy dần tạo thành Fe2O3 theo thời gian và thành gỉ sắt. Vì gỉ
sắt Fe2O3.nH2O xốp nên quá trình ăn mòn tiếp diễn vào lớp bên trong đến khi toàn bộ
khối kim loại đều gỉ. Gỉ sắt không còn tính cứng, ánh kim, dẻo của sắt mà xốp, giòn
nên làm đồ vật bị hỏng.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề vào bài.
Ví dụ 2: Có một phát minh khoa học từ trong đống sắt gỉ.
Giải thích: Vào thời chiến tranh Thế Giới lần thứ nhất, nhà khoa học người
Anh Brearly được giao nhiệm vụ cải tiến vũ khí, đặc biệt là hiện tượng nòng súng bị
ăn mòn rất nhanh. Brearly cố nghĩ cách chế tạo ra hợp kim không dễ ăn mòn để chế
tạo nòng súng. Năm 1913, ông đã thử pha crom vào thép, song chưa vừa ý bèn quẳng
mẫu thử vào đống sắt gỉ ngoài phòng thí nghiệm. Rất lâu sau, tình cờ ông nhận thấy
mẫu thử vẫn sáng lấp lánh trong khi đống sắt gỉ hết cả. Ông đem mẫu thử này nghiên
cứu tỉ mỉ, thấy thứ thép pha crom này chẳng hề sợ môi trường, khí hậu hay thời tiết
nào, ngay khi cả ngâm vào axit và kiềm. Từ đó, Brearly được mệnh danh là “người
cha của thép không gỉ”.
Câu chuyện này hẳn đặt ra cho chúng ta một điều suy nghĩ là: Gặp những điều
kì dị nào đó thì cũng đừng nên lơ đãng bỏ qua mà nên tự hỏi “tại sao thế” để rồi tìm ra
căn nguyên của nó.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học.
Bài 25: Tính chất của phi kim.
Ví dụ 1: “Ma trơi” là gì ? Ma trơi thường xuất hiện ở đâu ?
Giải thích: Trong xương và tế bào thần kinh của động vật luôn có chứa các
hợp chất của photpho. Khi cơ thể động vật chết đi, nó sẽ phân hủy một phần thành
photphin PH3 và lẫn một ít điphotphin P2H4. Photphin không tự bốc cháy ở nhiệt độ
thường. Khi đun nóng đến 150oC thì nó mới cháy được. Còn điphotphin P2H4 thì tự
bốc cháy trong không khí và tỏa nhiệt. Chính lượng nhiệt tỏa ra trong quá trình này