Tiểu luận môn luật cạnh tranh đề tài bán hàng đa cấp và điều chỉnh hoạt động bán hàng đa cấp theo pháp luật cạnh tranh và thực tiễn tại việt nam - Pdf 37

BÀI TIỂU LUẬN
BÁN HÀNG ĐA CẤP VÀ ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG ĐA
CẤP THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH – THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM

Giảng viên: TS. Trần Thăng Long
Sinh viên:
1.Trần Thị Tuyền
2.
3.
4.

MSSV: 33131023244

Lê Đoàn Quỳnh Anh MSSV: 33131024302
Lê Khắc Ghi
MSSV: 33131021248
Hồ Ngọc Thanh Huyền MSSV: 33131023713


Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 09 Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
……………………

2


MỤC LỤC

3


4


I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG ĐA CẤP
1. Khái niệm bán hàng đa cấp
Bán hàng đa cấp hay được biết tới với các cái tên như kinh doanh theo mạng, kinh doanh
đa cấp… có nguồn gốc từ thuật ngữ Multi – Level – Marketing (MLM) dùng để chỉ một
hoạt động kinh doanh và tiếp thị sản phẩm được phát triển từ giữa thế kỷ XX, là một nhánh
đang rất phát triển của ngành bán hàng trực tiếp (Direct Selling). Cùng với sự phát triển của
hoạt động của bán hàng đa cấp đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau để có thể đưa ra định
nghĩa chính xác về hoạt động này.
Trên góc độ kinh doanh: Bán hàng đa cấp là phương thức kinh doanh kết hợp giữa bán
hàng trực tiếp (Direct Selling) và nhượng quyền thương mại (Franchasing). Đại diện bán
hàng đa cấp (hay còn gọi là nhà phân phối, hợp tác viên, đại lý…) nhận hoa hồng từ hiệu
quả bán hàng của chính mình. Ngoài ra, khi kêu gọi được những thành viên mới tham gia hệ
thống của họ còn nhận được hoa hồng từ hiệu quả bán hàng của các thành viên mới. Trong
Franchising, hoa hồng được trả cho cá nhân người kinh doanh Franchise và người nhượng
quyền Franchise. Còn trong hệ thống bán hàng đa cấp, tiền hoa hồng được trả cho nhiều
người thuộc các cấp khác nhau trong hệ thống.
Theo góc độ marketing: Bán hàng đa cấp là một phương thức bán hàng trong đó vấn đề
tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm được thực hiện qua một cơ cấu nhiều tầng là các mạng lưới
phân phối bao gồm những nhà phân phối – người tham gia bán hàng đa cấp có nhiệm vụ
phân phối hàng hoá đến tay người tiêu dùng và xây dựng mạng lưới phân phối rộng khắp.
Những người này hoạt động độc lập và mỗi nhà phân phối có thu nhập được tính theo
những tỷ lệ nhất định trên doanh số bán hàng của chính nhà phân phối và của mạng lưới do
nhà phân phối này xây dựng.
Theo pháp luật Việt Nam quy định: Pháp luật Việt Nam đã không định nghĩa trực tiếp
bán hàng đa cấp là gì mà thay vào đó là đưa ra các điều kiện để xác định ranh giới “chân
chính” hay “bất chính”, tức là xác định tính hợp pháp hay bất hợp pháp của bán hàng này.
Nếu hoạt động bán hàng đa cấp đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 11, Điều 3 Luật

Mục đích của doanh nghiệp khi lựa chọn phương thức bán hàng đa cấp là tạo lập vị thế
cạnh tranh của mình trên thương trường. Vì vậy, nó được lý thuyết cạnh tranh xem như
“một thủ pháp cạnh tranh trong kinh doanh”. Một khi hành vi thiết lập hoặc vận hành hệ
thống bán hàng đa cấp ẩn chứa trong mình nó những toan tính “thiết lập một mạng lưới
phân phối ảo” xâm phạm đến lợi ích của những người tham gia, của người tiêu dùng và của

6


các doanh nghiệp khác, thì chính sách cạnh tranh coi là không lành mạnh, cần phải cấm
đoán và trừng phạt. Khi đó, pháp luật cạnh tranh xuất hiện để bảo vệ trật tự và sự lành mạnh
trong thị trường cạnh tranh. Trên thế giới có nhiều quốc gia quy định một số hành vi kinh
doanh đa cấp bị coi là bất chính và thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật cạnh tranh như:
Luật thương mại lành mạnh của Đài Loan, Luật cạnh tranh của Canada….. Pháp luật của
Việt Nam cũng theo xu hướng này.

II. THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG ĐA CẤP TẠI VIỆT NAM
1. Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động bán hàng đa cấp
So với ngành công nghiệp bán hàng đa cấp thế giới, ngành bán hàng đa cấp Việt Nam
còn rất non trẻ với tuổi đời trên 10 năm.. Từ năm 1998 đã xuất hiện một vài công ty đa cấp
ở nước ta, đầu tiên là Incomex, tiếp theo là Thế Giới Mới, rồi đến Sinh Lợi, Lô Hội, Vision.
Những công ty này phân phối các dòng sản phẩm chăm sóc sức khỏe, thực phẩm chức năng,
hoạt động với quy mô ban đầu nhỏ lẻ thường va chạm với pháp luật và khiến báo chí tốn
không ít giấy mực. Không phải công ty nào cũng làm ăn nghiêm túc nên nảy sinh nhiều sự
hiểu nhầm về mô hình kinh doanh này.
Đến cuối năm 2004 Việt Nam đã có khoảng 20 công ty bán hàng đa cấp phân phối chủ
yếu những dòng sản phẩm tiêu dùng, chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp được sản xuất bởi các
tập đoàn ở nước ngoài. Ngành bán hàng đa cấp Việt Nam ngày càng mở rộng trên phạm vi
toàn quốc khi các công ty phát triển mạng lưới phân phối và lập ra nhiều chi nhánh.
Năm 2005 hành lang pháp lý bán hàng đa cấp tại Việt Nam dần dần hình thành các điều

trong việc lấy lại hình ảnh của mình sau khi bán hàng đa cấp biến tướng lan tràn và gây ra
nhiều bức xúc trong dư luận và hiểu lầm về hoạt động bán hàng đa cấp. Số lượng người
tham gia bán hàng đa cấp theo thống kê năm 2010 đã tăng đạt gần 900.000 người nhưng
trên thực tế con số này có thể đã vượt qua 1 triệu người. Theo đó hoạt động bán hàng đa cấp
đã bùng nổ trong giới trẻ văn phòng nhất là sinh viên , những người có nhiều thời gian rãnh
rỗi và có đam mê kinh doanh thử.
Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận ràng hình ảnh của các doanh nghiệp bán hàng đa
cấp vẫn còn rất kém trong xã hội và việc kinh doanh bán hàng đa cấp biến tướng vẫn diễn ra
mạnh mẽ. Chứng minh điều này là rõ ràng khi trong báo cáo tổng kết về hoạt động bán hàng

8


đa cấp của cục quản lý cạnh tranh, số lượng doanh nghiệp vi phạm và bị rút giấy phép kinh
doanh còn rất lớn và có xu hướng tăng. Năm 2007 có 8 doanh nghiệp vi phạm và bị rút giấy
phép kinh doanh nhưng năm 2010 con số này không giảm mà tăng lên thành 20 doanh
nghiệp. Không chỉ vậy, sự vi phạm kinh doanh đa cấp biến tướng không chỉ xảy ra tại các
doanh nghiệp ‘chui’ không có giấy phép mà còn xảy ra ngay cả với các doanh nghiệp được
cấp phép, điển hình như Angel Việt Nam một công ty liên doanh với nước ngoài và được
đánh giá là có uy tín. Sự việc như của Angel Việt Nam đã khiến cho danh tiếng của các công
ty bán hàng đa cấp suy giảm nghiêm trọng và tác động gây thiệt hại lớn cho các đối tượng
hữu quan.
1.2. Về độ bao phủ của bán hàng đa cấp
Có thể nói rằng bán hàng đa cấp đã có mặt tại hầu hết các tỉnh thành phố lớn của nước ta
với sức lan tỏa rất mạnh. Tuy nhiên nếu xem xét kỹ hơn qua độ bao phủ của các doanh
nghiệp bán hàng đa cấp bằng việc khu vực đăng ký kinh doanh. Doanh nghiệp đăng ký kinh
doanh tại một tỉnh thành không phải là chỉ kinh doanh trên địa bàn của tỉnh thành đó, họ có
thể sử dụng giấy đăng ký đó để kinh doanh ở các tỉnh thành khác, nhưng nơi đăng ký giấy
phép kinh doanh cho thấy trọng tâm phát triển của họ tại từng khu vực khác nhau.
Sự phát triển của bán hàng đa cấp ở nước ta là không đồng đều. Phân theo khu vực ta

(từ cuối năm 2010). Ngoài ra riêng Amway Việt Nam đạt mức doanh thu cả năm 2010 hơn
30 triệu USD, chiếm hơn 22% thị phần. Hai ví dụ trên cho thấy sự chênh lệch giữa các
doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp nước ngoài ( ngay cả các doanh nghiệp từ khu
vực Đông Nam Á ). Các doanh nghiệp nước ngoài họ có nhiều kinh nghiệm kinh doanh
quản lý hình thức này trên nhiều quốc gia và lợi thế về công nghệ sản phẩm nên có sự vượt
trội hơn so với các doanh nghiệp Việt.
2. Thực tiễn hoạt động bán hàng đa cấp tại Việt Nam
2.1 Về sản phẩm của hoạt động bán hàng đa cấp
Như đã đề cập bán hàng đa cấp cũng là một hình thức tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm, tuy
nhiên không phải sản phẩm nào cũng phân phối hiệu quả qua phương thức này. Có 3 nhóm
sản phẩm phù hợp nhất cho việc phân phối qua hình thức này là: Hàng tiêu dùng, Mỹ phẩm,
Thực phẩm ăn uống và Thực phẩm dinh dưỡng chức năng. Thực tiễn Việt Nam cũng chứng
minh cho điểu kiện này với 5 nhóm hàng là : vật dụng gia đình, thực phẩm chức năng, chăm

10


sóc cá nhân ( mỹ phẩm, trang sức, quần áo..), các loại dịch vụ ( du lịch…) và các sản phẩm
giải trí, học tập ( sách, videos…)
Trong hội nghị tổng kết hoạt động quản lý bán hàng đa cấp của cục quản lý cạnh tranh
cuối năm 2010 cho thấy bán hàng đa cấp tại Việt Nam phân phối hơn 1000 dòng sản phẩm
trong đó chiếm 80% lại là các dòng thực phâm chức năng và thuốc. Các loại thực phẩm
chức năng có mặt gần như trong tất cả danh mục sản phẩm đăng ký kinh doanh của các
công ty đa cấp. Riêng trong danh mục thực phẩm chức năng lại có hàng loạt các sản phẩm
khác nhau với nhiều loại nhãn hiệu như Herbalife, Noni Vina, Vina-link Group, Eternal
Sunshine Company and Kim Do Corporation…. Tổng quan thì các thực phẩm chức năng là
các sản phẩm mới xuất hiện ở nước ta có nhiều chức năng đa dạng đáp ứng nhu cầu của
người tiêu dùng như thực phẩm hỗ trợ giảm cân, bổ sung vitamin các loại, các loại nước
uống…. Tuy nhiên chính sự mới mẻ của các dòng sản phẩm này lại mang lại sự khó khăn
trong kiểm định chất lượng và khó khăn trong hoạt động quản lý.

Từ bảng 1 trang 19, doanh thu của các doanh nghiệp bán hàng đa cấp tăng nhanh qua
các năm. Đặc biệt năm 2009 doanh thu đạt hơn 2500 tỷ vnđ tăng 150 % so với năm 2008
( > 1500 tỷ ). Tốc độ phát triển này là thành tựu đáng ghi nhận vơi hoạt động bán hàng đa
cấp ở nước ta. Tuy thị trường Việt Nam còn non trẻ nhưng so sánh với các thị trường trẻ
khác tương tự thì tốc độ của họ chỉ đạt từ 20-30% năm. Con số 150% /năm cho thấy sự hấp
dẫn của thị trường nước ta với ngành hàng kinh doanh đa cấp.
Tuy nhiên, so với Malaysia một nước trong khu vực với 28 triệu dân nhưng mức doanh
thu từ bán hàng đa cấp đạt tới con số hơn 2 tỷ USD ,nước ta quy mô dân số 89 triệu nhưng
mức doanh thu xấp xỉ 2800 tỷ tương đương 140 triệu USD thì hiệu quả của hoạt động bán
hàng đa cấp của nước ta còn thấp và tiềm năng thị trường là rất lớn để có thể mở rộng.
Trong mức doanh thu gần 2800 tỷ vnđ năm 2010 thì chiếm phần lớn trong số đó là của
các doanh nghiệp nước ngoài. Điều này cũng không khó hiểu khi mà phần lớn thị trường và
các sản phẩm đều có nguồn gốc xuất xứ từ nước ngoài.
Một vấn đề gây bức xúc với hoạt động bán hàng đa cấp là việc quản lý và xác định
doanh thu của các doanh nghiệp bán hàng đa cấp. Cơ quan quản lý nhà nước không dễ gì
nắm được 100% doanh thu của DN. Là người trong cuộc, tổ chức điều hành mạng lưới bán
hàng, DN đương nhiên có các biện pháp để quản lý được doanh thu của họ, chí ít ra thì cũng

12


quản lý tốt hơn cơ quan nhà nước nhưng thực sự việc kết nối giữa doanh nghiệp và cơ quan
quản lý là chưa tốt. Thực tế là có rất nhiều doanh nghiệp bán hàng đa cấp sử dụng thủ thuật
để trốn thuế thu nhập doanh nghiệp. Chỉ khi bị điều tra thì họ mới xin nộp bổ sung vì lý do
kê khai thiếu. Ví dụ điển hình là công ty Hưng Thời Đại khi bị kiểm tra thì xin nộp bổ sung
2,2 tỷ đồng thuế thu nhập doanh nghiệp do kê khai thiếu.
2.3 Về mô hình hoạt động của hoạt động bán hàng đa cấp
Trong số các mô hình hoạt động bán hàng đa cấp đã đề cập trên phổ biến nhất ở nước ta
là 2 mô hình : nhị phân và bậc thang ly khai.
Mô hình nhị phân được áp dụng sớm hơn ở nước ta. Nó xuất hiện từ khi bán hàng đa cấp

với hình thức phân phối bán lẻ truyền thống.
Theo điều tra nghiên cứu ở các nước trên thế giới, tỷ lệ phụ nữ tham gia bán hàng đa cấp
cao hơn nam giới. có thể kể đến như Mỹ tỷ lệ nữ tham giam gia bán hàng đa cấp chiếm tới
81,8%. Thực tế nước ta tuy chưa có thống kê chính thức nhưng với đặc điểm các sản phẩm
phân phối đa cấp thì phần lớn vai trò quyết định tiêu dùng các sản phẩm loại này thường là
phụ nữ là chủ yếu nhất là các loại mỹ phẩm hay đồ dùng gia đình. Thêm vào đó là đặc điểm
văn hóa nước ta phụ nữ thường ở nhà lo nội trợ nên có nhiều thời gian rảnh và họ thường
chia sẻ hơn là nam giới nên tỷ lệ phụ nữ tham gia bán hàng đa cấp ở nước ta sẽ cao hơn nam
giới và phụ nữ cũng là đối tượng chính để được mời chào để tham gia bán hàng đa cấp.
Nếu xét theo độ tuổi của các cá nhân tham gia bán hàng đa cấp thì có thể thấy người
tham gia chủ yếu là người thuộc độ tuổi từ 18- 30, sau đó là người từ 30-46 tuổi. theo thống
kê ước lượng tỷ lệ người tham gia bán hàng đa cấp tuổi từ 18-30 chiếm khoảng 40% còn
người từ 30-46 chiếm khoảng gần 30 % ( con số so sánh ước lượng với các nước trong khu
vực ). Giai đoạn 2007-2010 cũng thấy sự gia nhập mạnh mẽ của đội ngũ sinh viên vào trong
hoạt động bán hàng đa cấp với mục đích kiếm thêm thu nhập, nâng cao kinh nghiệm và tận
dụng thời gian rỗi.
Hầu hết các cá nhân tham gia bán hàng đa cấp đều chọn nó như một công việc Part time
của họ chứ không phải là một công việc chính thức full-time. Chỉ một số ít chọn bán hàng
đa cấp là công việc chính thức do yêu cầu của bán hàng đa cấp không cần phải đầu tư nhiều
thời gian, thời gian làm việc là tự do và hơn hết đa số người tham gia coi nguồn thu từ bán

14


hàng đa cấp là phụ vì không dễ dàng để có thể có được doanh thu cao trong bán hàng đa cấp
bởi lẽ bán hàng đa cấp cũng có khó khăn và yêu cầu riêng.
Yếu điểm chung của nhân viên bán hàng đa cấp là họ thiếu hiểu biết về hoạt động bán
hàng đa cấp do nguồn thông tin còn hạn chế và việc đào tạo của các doanh nghiệp mới chỉ
tập trung vào cách bán hàng và mời người hiệu quả chứ chưa cung cấp đầy đủ thông tin cho
người tham gia bán hàng đa cấp. Nguồn thông tin về bán hàng đa cấp không chính thức

tham gia bán hàng đa cấp. Theo báo cáo của các doanh nghiệp bán hàng đa cấp, trong
những năm qua, tổng số thuế các doanh nghiệp này đã nộp vào ngân sách nhà nước đạt trên
1.200 tỷ đồng, số thuế thu nhập cá nhân đạt trên 170 tỷ đồng.
Tuy nhiên các quy định và việc xác định thuế thu nhập doanh nghiệp với các doanh
nghiệp nói chung và doanh nghiệp bán hàng đa cấp nói riêng còn nhiều hạn chế. Khó khăn
trong việc xác định doanh thu bán hàng của các doanh nghiệp và việc xác định chi phí để
làm cơ sở tính lợi nhuận qua đó có được cơ sở tính thuế còn phức tạp chưa minh bạch.
Ngoài ra việc khấu trừ thuế thu nhập cá nhân (TNCN): Người tham gia hệ thống bán hàng
đa cấp đương nhiên nhận được thu nhập từ tỷ lệ % hoa hồng được hưởng, doanh nghiệp bán
hàng đa cấp sẽ phải thực hiện nghĩa vụ khấu trừ thuế theo quy định của pháp luật. Tuy
nhiên, khấu trừ theo tỷ lệ 10% đối với những món chi trả có trị giá 500.000 đồng/lần trở lên
hay khấu trừ theo Biểu thuế lũy tiến từng phần? Tính khấu trừ trên tổng số tiền cá nhân
được hưởng hay cho loại trừ một phần bởi thu nhập thực của cá nhân là bao nhiêu khi họ
phải tự trả tiền chi phí đi lại, bảo quản, vận chuyển hàng hóa, mở các lớp huấn luyện người
tham gia mới, tổ chức các cuộc hội thảo,… chỉ trong khuôn khổ tỷ lệ % hoa hồng có được ?
Việc xem xét đánh thuế TNCN đối với người tham gia được nhận % hoa hồng có được xem
xét trong mối liên quan tính vào chi phí của doanh nghiệp bán hàng đa cấp hay không ? còn
là các câu hỏi khó trả lời.

III. KẾT LUẬN
Bán hàng đa cấp có thể đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng như: mua
được hàng trực tiếp từ nhà sản xuất nên tránh được nạn hàng giả, hàng kém chất lượng. Đối
với doanh nghiệp, bán hàng đa cấp tiết kiệm được chi phí quảng cáo, cắt giảm được hàng
loạt các chi phí khác như chi phí thuê mặt bằng trưng bày, chi phí vận chuyển; mặt khác do
16


mạng lưới phân phối được tổ chức để đưa hàng hóa trực tiếp đến người tiêu dùng nên có
nhiều thuận lợi trong việc quảng bá hàng hóa một cách trực tiếp và hữu hiệu. Bên cạnh đó,
bán hàng đa cấp còn tạo ra nhiều việc làm cho xã hội vì cơ chế hoạt động của phương thức

Điển hình là các vụ công ty bán hàng đa cấp trá hình vẫn còn tồn tại, việc quản lý bán hàng
đa cấp còn lỏng lẻo, chờ sự việc xảy ra rồi mới nghĩ biện pháp giải quyết.
Thứ hai là tốc độ phát triển nhanh nhưng ẩn chứa nhiều nguy cơ. Thực tế, giai đoạn vừa
qua bán hàng đa cấp ở nước ta phát triển rất nóng,lượng cá nhân tham gia vào lớn nhưng
lượng người ngừng tham gia cũng nhiều. Hoạt động chưa thực sự dựa trên sản phẩm mà còn
tập trung nhiều vào lôi kéo người tham gia thành lập mạng lưới dễ gây nhầm lẫn với các
hình thức lừa đảo khác.
Thứ ba, môi trường cạnh tranh nội bộ ngành không trong sạch. Thể hiện sự mất cân
bằng giữa các doanh nghiệp Việt và các doanh nghiệp nước ngoài,số lượng doanh nghiệp
nước ngoài chiếm đa số và lượng lớn thị phấn. Mặt khác là sự cạnh tranh không lành mạnh,
không ít doanh nghiệp để kéo người doanh nghiệp khác đã nói xấu lẫn nhau gây ra sự hoài
nghi cho người trong và ngoài bán hàng đa cấp.
Thứ tư, hệ thống thông tin chính thức về bán hàng đa cấp chưa đầy đủ, thống nhất. Hiện
nay, có rất nhiều luồng thông tin trái chiều về bán hàng đa cấp trên báo chí, mạng , truyền
khẩu,…khiến người dân khó có cái nhìn đúng đắn về bán hàng đa cấp. Thêm vào đó là hệ
thống thông tin hướng dẫn của nhà nươc về bán hàng đa cấp còn chưa đầy đủ gây lúng túng
cho doanh nghiệp trong thực hiện .
Thứ năm, hạn chế về sản phẩm. Chủ yếu là các sản phẩm nhập khẩu của các công ty
nước ngoài, các sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu và chưa có nhiều và thiếu
sức cạnh tranh mạnh. Các sản phẩm phân phối bởi bán hàng đa cấp tuy độc đáo nhưng giá
thành thường cao hơn các sản phẩm cùng loại, điều này gây ra sự khó khăn trong tiếp cận
của một số người dùng thật sự có nhu cầu. Mặt khác, hàng hóa trong bán hàng đa cấp vẫn
còn tồn tại các sản phẩm kém chất lượng, không đủ tiêu chuẩn, không tuân theo quy định
kiểm soát của nhà nước.Thêm vào đó là việc thông tin mập mờ không đày đủ về lợi ích, tính
năng của sản phẩm là chuyện khá phổ biến.
Thứ sáu là hình thức kinh doanh biến tướng, bóp méo, tháp ảo của bán hàng đa cấp còn
tồn tại và thường xuyên xuất hiện gây thiệt hại về kinh tế - xã hội, môi trường kinh doanh
của nước ta.

18

19


Minh tiến hành cấm mô hình đa cấp nhị phân vì cho rằng nó là không hợp lệ nhưng các sở
công thương khác hoặc không đồng ý hoặc không ý kiến.
Thứ năm là trình độ hiểu biết về hình thức bán hàng đa cấp ở nước ta còn thấp, chưa rõ
ràng. Nhiều người tham gia chỉ do lời chào mời đầy hứa hẹn của người khác, hoặc tham gia
bán hàng đa cấp rồi mà chưa rõ ràng mình đang làm gì và làm như thế nào? Thói quen suy
nghĩ rằng bán hàng đa cấp là dễ dàng và dễ trở nên giàu có nên nhiều người không tìm hiểu
kỹ đã tham gia bán hàng đa cấp và đã bị lợi dụng
Thứ sáu là hệ thống thông tin chính thức về bán hàng đa cấp của chính phủ còn ít, chưa
đầy đủ và khó tiếp cận. trong khi trên các phương tiện thông tin khác có vô vàn các thông
tin khác nhau về bán hàng đa cấp khiến người dân không có định hướng cụ thể. Hệ thống
thông tin này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bán hàng đa cấp bất chính có thể thổi
phồng sự thật về họ, sản phẩm của họ hay hình thức kinh doanh này mà không có bất kỳ hệ
quy chiếu nào đối chứng. Hiện chỉ có các sở công thương, cục quản lý cạnh tranh chịu trách
nhiệm chính về vấn đề này.
2.1.2 Chủ quan
Bản thân doanh nghiệp hoặc do các thành viên tham gia bán hàng đa cấp.
Thuộc về doanh nghiệp kinh doanh đa cấp: Đầu tiên là việc các doanh nghiệp chưa ý
thức hết về tính lâu dài và phát triển bền vững của hoạt động bán hàng đa cấp, chạy theo cái
lợi trước mắt bỏ qua các điều kiện phát triển bền vững và lợi dụng sự lỏng lẻo của hệ thống
luật pháp để kinh doanh bất chính. Những Doanh nghiệp này đưa ra thị trường những sản
phẩm kém chất lượng, không đủ tiêu chuẩn. Việc này thường xuất hiện và tùy mức độ và do
công ty muốn tối đa hóa lợi nhuận mà đi ngược nguyên tắc của bán hàng đa cấp. Ở một góc
độ khác, các công ty cũng thường hay thổi phòng tính năng, tác dụng lợi ích sản phẩm của
mình hơn sô với thực tế nhằm thu hút người tham gia. Tuy nhiên nó vô hình chung làm
giảm lòng tin và gây ra sự thất vọng, cảm giác bị lừa đảo của những người tham gia. Kết
hợp vào đó là sử dụng các mô hình bất chính,tháp ảo của một số công ty làm biến tướng
hình thức bán hàng đa cấp. Chính việc làm của những công ty này khiến cho mọi người có

quy định pháp luật về bán hàng đa cấp.
Thứ ba, tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng đến người dân để
người dân có cơ hội tiềm hiểu về hình thức kinh doanh bán hàng đa cấp; những quy định

21


của pháp luật về bán hàng đa cấp để người dân phân biệt đâu là bán hàng đa cấp và đâu là
bán hàng đa cấp bất chính nhằm trách sự lôi kéo của những kẻ xấu.
Thứ tư, thường xuyên thành lập các đoàn kiểm tra giám sát, xử lý triệt để các hính vi bán
hàng đa cấp tại các công ty bán hàng đa cấp. Kèm theo đó là thường xuyên công khai danh
sách các công ty bán hàng có dấu hiệu kinh doanh đa cấp bất chính cho người dân biết.
Từ những nhận định trên, tác giả cho rằng, để kết quả chống các hành vi lợi dụng bán
hàng đa cấp để cạnh tranh bất chính, cần phải phối hợp đồng bộ nhiều biện pháp kinh tế - xã
hội khác nhau, trong đó, nâng cao trình độ tiêu dùng cho người dân, đặc biệt là các vùng
sâu, vùng xa, bằng các biện pháp tuyên truyền, giáo dục; cần phải có quy chế về minh bạch
thông tin liên quan đến sản phẩm được tiêu thụ theo phương thức bán hàng đa cấp, và xác
định trách nhiệm cụ thể của từng chủ thể có liên quan trong việc xây dựng, truyền bá thông
tin, bao gồm doanh nghiệp và người tham gia; cuối cùng, đối với những loại sản phẩm đặc
biệt, có khả năng gây ảnh hưởng lớn đối với đời sống xã hội, như thực phẩm, thuốc chữa
bệnh, chế phẩm hỗ trợ dinh dưỡng,... cơ quan quản lý kỹ thuật (Bộ Y tế...) cần có những quy
định cụ thể về tiêu chuẩn kỹ thuật, về chất lượng của sản phẩm; đồng thời thông tin kịp thời
cho xã hội về công dụng, chất lượng và những khả năng gây hại của sản phẩm. Đối với
những người tham gia, khi truyền tiêu những sản phẩm có ảnh hưởng đến sức khỏe của con
người, họ không chỉ đơn giản là người bán hàng. Thực tế cho thấy, để bán được sản phẩm
những người tham gia đã kiêm luôn chức năng tư vấn cho khách hàng về công dụng và cách
thức sử dụng sản phẩm. Do đó, trong quản lý các lĩnh vực nhạy cảm đó, cần thiết phải đặt ra
điều kiện về trình độ chuyên môn cho người tham gia.

22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status