DẠY học học PHẦN PHƯƠNG PHÁP dạy học TIẾNG VIỆT ở TIỂU học THEO CÁCH TIẾP cận PHÁT TRIỂN NĂNG lực NGƯỜI học - Pdf 37

HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

DẠY HỌC HỌC PHẦN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở
TIỂU HỌC THEO CÁCH TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC
GS.TS. Lê Phương Nga
Trường ĐHSP Hà Nội
Tóm tắt: Bài viết giới thiệu một thử nghiệm dạy học nội dung Tìm hiểu sách
giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học thuộc học phần Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở
Tiểu học, hệ đào tạo cử nhân Giáo dục Tiểu học, theo định hướng phát triển năng lực
người học. Kết quả ban đầu của thử nghiệm dạy học này gợi ra cho giảng viên những
định hướng giúp người học làm được trên cơ sở những điều đã biết, thích ứng với
những gì sẽ diễn ra trong tương lai ở trường phổ thông.
Từ khóa: Dạy học, tiếp cận năng lực, sách giáo khoa, điều chỉnh
Abstract: The article introduces a teaching content experiment: Investigation
of Vietnamese language textbook in primary according to learners' competency
development orientation. This content belongs to Vietnamese language
teaching methods in primary school module - Bachelor of Primary Education. The
preliminary results of this experiment indicate numerous suggestions for lecturers to
help learners practicing on the basic of knowing, adapting to what happen in primary
schools in the future.
Key words: teaching, competency approach, textbook, adjust
1. Đặt vấn đề
Chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam sau 2015 và cả chương trình đào
tạo cử nhân giáo dục tiểu học (GDTH) hiện nay phải được xây dựng theo định hướng
phát triển năng lực (ĐHPTNL).
Năng lực (NL) được hiểu là sự tích hợp của nhiều thành tố như tri thức, kĩ
năng, sự sẵn sàng hoạt động, khả năng hợp tác, khả năng huy động những nguồn
thông tin mới của người học để giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống.
Cách tiếp cận này đặt ra mục tiêu căn bản của chương trình không phải là người
học biết được gì mà là có thể làm được gì từ những điều đã biết.
Trường sư phạm, với tư cách là một trường dạy nghề phải gắn với thực tiễn

2.1. Điểm khác biệt giữa chương trình dạy học tiếp cận nội dung và chương
trình dạy học tiếp cận năng lực
Theo cách tiếp cận nội dung, đầu giờ học, GV sẽ đưa ra một sườn bài giảng mà
thực chất là thứ tự các kiến thức GV sẽ cung cấp cho SV theo dự tính họ cho rằng SV
cần. Nguồn thông tin chủ yếu là GV. Chẳng hạn, hai năm học 2013 - 2014, 2014 2015, khi dạy nội dung Định hướng soạn thảo sách giáo khoa (SGK) Tiếng Việt (TV)
sau 2015 (thuộc chuyên đề Định hướng đổi mới chương trình (CT) và SGK TV sau
2015) chúng tôi đã trình bày các vấn đề: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng
CT và đổi mới SGK theo ĐHPTNL  CT giáo dục phổ thông tổng thể sau 2015 
CT Ngữ Văn sau 2015  Định hướng soạn thảo SGK TV ở Tiểu học sau 2015.
Theo cách tiếp cận năng lực, trước hoặc đầu giờ học, GV sẽ ra một đề bài, thực
chất là một kết quả đầu ra mong đợi được diễn đạt dưới dạng một năng lực thực tiễn
cần có ở SV. Đồng thời GV gợi ý thêm về các nguồn thông tin (SV cần được học cách
thu thập, chia sẻ thông tin như một kĩ năng học tập ngay từ những ngày đầu vào trường

388


HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

đại học: chú ý trên nhiều nguồn, đa phương thức, đa phương tiện). Năm học 2015 2016, cũng dạy học chuyên đề Định hướng đổi mới CT và SGK TV sau 2015, ngay từ
đầu, chúng tôi đã giao nhiệm vụ cho SV: Bạn hãy soạn thảo tài liệu dạy học Tiếng
Việt ở tiểu học theo định hướng phát triển năng lực người học cho một tuần học của
một lớp. Các nhóm và toàn lớp với sự trợ giúp của GV sẽ xác định tuần tự các việc cần
làm: Xây dựng CT giả định cho cấp học  Xây dựng CT giả định cho từng lớp  Lập
ma trận các nội dung cốt lõi cho từng tuần học  Lựa chọn văn bản có khả năng tích
hợp dạy tiếp nhận (đọc-xem) và tạo lập (nói/viết- trình bày), thiết kế các hoạt động dạy
đọc, viết, nghe, nói... Vì mới thử nghiệm lần đầu, chưa hoàn tất học phần nên chưa thể
có những kết luận về tính hiệu quả của chuyên đề. Chỉ biết rằng, giờ học không dừng
lại trên lớp, SV rất hứng thú, ngoài giờ học, các nhóm vẫn thường xuyên chia sẻ và
tham vấn GV.

- Mỗi bạn tìm trong một tuần học của SGK, chia sẻ trong nhóm những điểm
mình chưa hiểu hoặc thấy bất hợp lí (chưa phù hợp với mục tiêu dạy học, thực tế dạy
học, đặc điểm nhận thức và hứng thú của HS...), những điểm còn băn khoăn, thắc mắc,
cảm thấy sẽ gặp khó khăn nếu tiến hành dạy học.
- Nhóm thảo luận xem những điểm bạn mình đề xuất điều chỉnh có hợp lí
không, vì sao.
- Nhóm thảo luận, theo từng nguyên tắc soạn thảo SGK được đề xuất có những
cách thức nào để điều chỉnh tài liệu dạy khi vi phạm nguyên tắc.
Sau đây là tóm tắt kết quả tổng hợp mà SV các nhóm K60, 61 đã chia sẻ trước
lớp về việc điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học: Điều chỉnh yêu cầu (lệnh) của
hoạt động. Thay đổi, điều chỉnh ngữ liệu. Thêm mẫu thực hiện, thêm gợi ý. Thêm nội
dung phân tích mẫu. Thay đổi đồ dùng dạy học. Điều chỉnh hình thức lưu giữ kết quả
hoạt động.
GV cùng các nhóm nhận xét, bổ sung để rút ra những cách thức giảm độ khó
hoặc tăng độ thú vị của câu hỏi/ bài tập.
Phân tích một cách đơn giản nhất, một câu hỏi/ bài tập được trình bày trong
SGK gồm có hai phần: phần lệnh và phần ngữ liệu. Riêng Tập làm văn (TLV), ngoài
lệnh và ngữ liệu còn có thể có thêm phần dẫn. Phần ngữ liệu trong đề TLV còn được
hiểu là phạm vi hiện thực được nói tới. Ứng với hai phần cơ bản của một câu hỏi/ bài
tập, ta có hai cách để giảm độ khó và tăng độ thú vị: tác động vào phần lệnh hoặc phần
ngữ liệu.
Hướng cơ bản để tăng độ thú vị của một câu hỏi/ bài tập là sử dụng các trò chơi,
câu đố, sử dụng các ngữ liệu trực quan (tranh ảnh), những ngữ liệu có khả năng tích
hợp với các hoạt động vẽ, hát...
GV chốt lại cách điều chỉnh câu hỏi/ bài tập trong SGK theo từng mạch nội
dung dạy học:
1) Hoạt động (HĐ) viết chính tả
Hướng cơ bản để điều chỉnh HĐ viết chính tả là lựa chọn ngữ liệu mang tính
tiết kiệm (tần xuất xuất hiện các nội dung chính tả cao), sử dụng nhiều văn vần cho dễ
nhớ, sử dụng nhiều đồng âm để rèn luyện chính tả so sánh.

- Giảm độ khó bằng cách:
+ Bỏ bớt yêu cầu của phần lệnh hoặc điều chỉnh yêu cầu của phần lệnh cho dễ hơn.
+ Thay thế ngữ liệu gốc bằng ngữ liệu điển hình, tường minh, đơn giản hơn.
- Tăng độ thú vị (nhiều khi cũng là độ khó), có hai cách làm:
+ Thêm yêu cầu của phần lệnh hoặc điều chỉnh yêu cầu của phần lệnh thú vị
hơn. Đó là những yêu cầu chỉ ra nghĩa, cách sử dụng, chỉ ra sự tương hợp giữa nội
dung và hình thức ngữ pháp, biến đổi mục đích, hoàn cảnh giao tiếp để HS tạo ra
những phiên bản mới so với bài tập gốc.

391


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

+ Thay thế ngữ liệu gốc bằng ngữ liệu thú vị hơn. Đó có thể là những ngữ liệu
mang tính văn chương hơn, có kiểu loại văn bản hấp dẫn hơn, có thể là những ngữ liệu
phản ánh sự thú vị của ngôn ngữ nói chung và đặc điểm tiếng Việt nói riêng: tính đa
trị, năng sản, đồng âm, đồng nghĩa, nhiều nghĩa.
Ngoài ra, còn có thể giảm độ khó của các HĐ bằng cách chuyển hình thức của
câu hỏi/ bài tập, ví dụ chuyển từ yêu cầu tự luận thành trắc nghiệm. Trong trắc
nghiệm cũng có những kĩ thuật để giảm độ khó hoặc tăng độ thú vị. Ví dụ: đẩy các
phần lựa chọn ra xa nhau sẽ làm giảm độ khó hoặc đưa các phần chọn lại gần nhau,
trau chuốt lời ở phần chọn để có các mẫu văn chương đích thực là cách tăng độ thú vị
của bài tập trắc nghiệm dạy đọc hiểu.
Nhờ cách làm này mà hoạt động học tập của sinh viên diễn ra rất sôi nổi: Họ
tranh luận về việc một bài tập nào đó của SGK có lợi ích hay không lợi ích (với hoạt
động giao tiếp của HS), khó hay không khó, thú vị hay không thú vị... Để bảo vệ ý
kiến của mình, họ say sưa giải thử bài tập, nghĩ ra từng bước hướng dẫn giải bài tập cụ

vườn, lắc lư những chùm quả xoan vàng lịm không trông thấy cuống, như những
chuỗi tràng hạt bồ đề treo lơ lửng.
TÔ HOÀI
Tràng hạt bồ đề: chuỗi hạt mà người theo đạo Phật dùng để lần từng hạt khi
tụng kinh, niệm Phật.
Thay những từ in đậm trong mỗi ví dụ trên cho nhau rồi rút ra nhận xét: Những
từ nào thay thế được cho nhau? Những từ nào không thay thế được cho nhau? Vì sao?
Ghi nhớ
1. Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau
hoặc gần giống nhau.
VD: siêng năng, chăm chỉ, cần cù,…
2. Có những từ đồng nghĩa hoàn toàn, có thể thay
thế cho nhau trong lời nói. VD: hổ, cọp, hùm,…
3. Có những từ đồng nghĩa không hoàn toàn. Khi
dùng những từ này, ta phải cân nhắc lựa chọn cho đúng.
VD:
- Ăn, xơi, chén,… (biểu thị thái độ, tình cảm khác
nhau đối với người đối thoại hoặc điều được nói đến).
- Mang, khiêng, vác,… (biểu thị những cách thức
hành động khác nhau ).
Sinh viên đã trao đổi, thảo luận, thống nhất ý kiến ngữ liệu và lệnh trong SGK
hiện hành chưa phù hợp với học sinh. Được sự phân tích, gợi ý của giảng viên, các
nhóm đã đưa ra đề xuất điều chỉnh ngữ liệu và lệnh. Trên cơ sở sinh viên trao đổi,
đánh giá ý tưởng điều chỉnh của các nhóm, giảng viên đã tổng hợp, bổ sung để đưa ra
phương án điều chỉnh khả thi nhất.
Nhận xét
So sánh nghĩa của hai cặp từ sau để hiểu thế nào là từ đồng nghĩa:

393



394


HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

Đối chiếu SGK và sản phẩm của SV, ta thấy về mục tiêu, SGK chú ý phân biệt
đồng nghĩa hoàn toàn và không hoàn toàn, sản phầm của SV chú ý đến sự khác biệt
của các từ đồng nghĩa để lưu ý cách sử dụng. Về ngữ liệu, SGK lấy động từ (kiến thiết,
xây dựng), sản phẩm của SV lấy danh từ cụ thể (học trò, học sinh) và khơi gợi trải
nghiệm bằng tranh minh họa bài Hoa học trò mà HS đã học.Về cách thể hiện, sản
phẩm của SV dùng phương tiện trực quan và trích đoạn từ điển mô tả nghĩa để HS
nhận ra sự khác biệt về nghĩa của hai từ khiêng, vác.
Như vậy, sản phẩm của SV đã lựa chọn được ngữ liệu gần gũi, phù hợp với HS
và chú ý hướng dẫn HS hoàn cảnh sử dụng từ ngữ, tức là hướng đến phát triển năng
lực người học.
2) Điều chỉnh bài Từ nhiều nghĩa (SGK TV5, tập 1, tr.66-67)
Cách trình bày của SGK:
Từ nhiều nghĩa
I. Nhận xét
1. Tìm nghĩa ở cột B thích hợp với mỗ từ ở cột A
A

B

Răng

a) Bộ phận ở hai bên đầu người và động vật, dùng để nghe.

Mũi

a) Quan sát tranh và đọc lời giải nghĩa dưới tranh.
A

B

R Răng (người): Phần xương
Răng (lược): Bộ phận của cái lược
cứng, nhiều chiếc màu trắng mọc trên gồm nhiều chiếc chìa ra, sắp đều nhau
hàm để cắn, giữ, nhai thức ăn.
thành hàng.

Mũi (người): Bộ phận nhô lên ở
Mũi (kéo): Bộ phận của cái kéo có
giữa mặt người, dùng để thở và ngửi.
đầu nhọn nhô ra phía trước.
b) So sánh nghĩa của các từ răng, mũi trong các trường hợp trên để hiểu thế nào
là từ nhiều nghĩa.
(Các nghĩa của từ ở cột A và cột B có gì khác nhau? Có gì giống nhau?)
Rõ ràng bằng hình vẽ và đặt từ dùng trong thế đối lập nghĩa gốc và nghĩa
chuyển, sản phẩm của SV đã chỉ ra một cách trực quan mối liên hệ về nghĩa giữa nghĩa
gốc và nghĩa chuyển mà SGK hiện hành chưa chỉ ra được. Cách làm này giúp HS có
thể dễ dàng tự chiếm lĩnh kiến thức một cách hiệu quả.
Trong quá trình thực hành điều chỉnh SGK, SV đã đưa ra rất nhiều ý tưởng,
nhiều sản phẩm điều chỉnh hay. Đó là những gợi ý thú vị cho giảng viên với tư cách là
người dạy, cao hơn nữa, với tư cách là người thực hiện nhiệm vụ đổi mới CT - SGK
sau năm 2015.
3. Kết luận

396


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status