DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT
Ý NGHĨA
NHNN
Ngân hàng nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
TCTD
Tổ chức tín dụng
MB
Military bank
TMCP
Thương mại cổ phần
CN
Chi nhánh
CĐKT
lợi nhuận kỳ vọng lớn nhất cho ngân hàng, nó quyết định đến sự tồn tại và
phát triển của ngân hàng. Tuy nhiên, đi cùng với lợi nhuận lớn thì rủi ro mà
hoạt động này tạo ra cũng không phải là nhỏ. Vì vậy nâng cao chất lượng tín
dụng cũng là góp phần hạn chế rủi ro này.
Ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh Thanh Xuân là một trong những
chi nhánh của Ngân hàng TMCP Quân đội nằm trên địa bàn quận Thanh
Xuân. Tuy không phải là một chi nhánh quá lớn nhưng nghiệp vụ tín dụng
cũng rất phát triển. Trong thời gian qua chi nhánh đã không ngừng tăng
trưởng tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng. Tuy nhiên tỉ
lệ nợ xấu và nợ quá hạn vẫn còn tương đối cao. Cụ thể năm 2009 tỉ lệ nợ quá
hạn là 6,36% nhưng đến năm 2010 đã tăng lên 17,40% và giảm xuống còn
8,2% vào năm 2011. Điều đó cho thấy chất lượng tín dụng của chi nhánh
trong thời gian qua chưa thật sự tốt.
2
Qua thời gian thực tập tại Ngân hàng TMCP Quân đội Chi nhánh Thanh
Xuân, nhận thấy rõ tầm quan trọng của tín dụng đối với toàn bộ hoạt động của
chi nhánh cũng như những rủi ro tiềm ẩn mà chi nhánh có thể phải đối mặt do
những hạn chế về chất lượng tín dụng, em đã chọn đề tài “ Nâng cao chất
lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh Thanh Xuân” làm
chuyên đề thực tập tốt nghiệp với mong muốn nâng cao hiểu biết cũng như
đóng góp một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại chi nhánh.
Kết cấu chuyên đề thực tập gồm 3 chương:
Chương 1: Chất lượng tín dụng trong ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội
Chi nhánh Thanh Xuân
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP
Quân đội Chi nhánh Thanh Xuân
1.1.2.1.
năng trung gian tài chính, NHTM trở thành nơi gặp gỡ giữa những người có
tiền dư thừa và những người thiếu vốn. Trong nền kinh tế thị trường nói
chung và trên thị trường tài chính nói riêng luôn tồn tại hai phạm trù là cung
và cầu. Khi chưa có sự tham gia của ngân hàng thì việc có sự tiếp xúc giữa
chủ thể có thặng dư vốn và những chủ thể thâm hụt vốn là rất khó khăn. Đây
cũng là một trong những nhược điểm của tài chính trực tiếp. NHTM ra đời đã
giải quyết dễ dàng vấn đề này. Đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người
cho vay, NHTM đã góp phần khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi, mang lại thu
nhập cho người tiết kiệm đồng thời tiết kiệm chi phí và thời gian cho những
nhà đầu tư trong quá trình tìm kiếm nguồn vốn dư thừa trong xã hội, qua đó
4
mang lại lợi nhuận cho ngân hàng thông qua chênh lệch lãi suất huy động và
cho vay.
Bên cạnh đó, với vai trò là trung gian tài chính, NHTM cũng đã khắc phục
khá triệt để nhược điểm của tài chính trực tiếp về quy mô, kì hạn cũng như
thời điểm đầu tư. Có thể thấy rằng hầu như các dự án đầu tư thường có nhu
cầu vốn lớn trong khi giá trị của các nguồn huy động thường nhỏ hơn rất
nhiều. Đồng thời kì hạn đầu tư thường dài trong khi nhu cầu tiết kiệm thường
ngắn. Vì vậy NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi của các
chủ thể trong nền kinh tế trên cơ sở đó đáp ứng nhu cầu vốn cho các hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Một đóng góp khác của NHTM với vai trò trung gian tài chính đó là phân tán
rủi ro cho các nhà đầu tư. Có thể thấy các nhà đầu tư trên thị trưởng rất khó
khăn trong việc thu thập và phân tích thông tin để đánh giá rủi ro cũng như
việc tìm kiếm vốn trong tài chính trực tiếp sẽ đưa nhà đầu tư đối mặt với rất
NHTM. NHTM là doanh nghiệp kinh doanh đặc thù với hàng hóa là tiền tệ
mà tiền lại có chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán. Ngày nay,
bên cạnh tiền giấy thì ngân hàng còn cung cấp rất nhiều các phương tiện thanh
toán như séc, lệnh chi, ủy nhiệm thu, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng,....
Với việc cung cấp các phương tiện thanh toán này giúp giảm bớt chi phí phát
hành cũng như bảo quản tiền mặt.
Với việc phát triển hoạt động thanh toán qua ngân hàng đã có tác động mạnh
mẽ tới tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế. Đại lượng tiền tệ bao
gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông , thứ hai là số dư
trên tài khoản tiền gửi giao dịch của các khách hàng tại các ngân hàng, thứ ba
là tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có ḱì hạn…Khi
ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng
tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch vụ. Do đó, thông qua
viêc cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán
1.1.2.3.
Trung gian thanh toán
Ngân hàng làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu
của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền
hàng hoá ,dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu
bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh.Ở đây ngân hàng đóng vai trò thủ
6
quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản
của khách hàng, chi tiền cho khách hàng. Nền kinh tế thị trường càng phát
triển, chức năng này càng được phát huy, việc thanh toán qua ngân hàng càng
được mở rộng.
Ngân hàng thương mại thực hiện các chức năng trung gian thanh toán trên cơ
sở nó thực hiện các chức năng trung gian tín dụng. Bởi vì thông qua việc nhận
1.1.3. Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Nghiệp vụ huy động vốn
a. Huy động vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là số vốn do chủ sở hữu ngân hàng đóng góp ban đầu và được
bổ sung trong quá trình kinh doanh. Tuy chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong cơ cấu
nguồn vốn của ngân hàng( khoảng 5% đến 10%) nhưng nó lại đóng vai trò
quan trọng trong việc đưa ngân hàng đi vào hoạt động. Đây là nguồn vốn ổn
định và có thể sử dụng lâu dài. Ngân hàng có thể gia tăng vốn chủ sở hữu
bằng nhiều cách như sử dụng lợi nhuận giữ lại để tiến hành đầu tư mở rộng
sản xuất kinh doanh sau khi đã tiến hành chia cổ tức. Nguồn vốn này cũng
được bổ sung thêm từ phần thặng dư vốn: đó là chênh lệch giữa giá phát hành
và mệnh giá cổ phiếu phát hành lần đầu của ngân hàng, hay phần chênh lệch
khi đánh giá lại tài sản.
b. Huy động vốn nợ
Vốn nợ là nguồn vốn chiếm tỉ trọng lớn nhất trong cơ cấu nguồn vốn của ngân
hàng. Nó được huy động từ nhiều nguồn như từ cá nhân, doanh nghiệp hay từ
các tổ chức tín dụng khác. Nghiệp vụ huy động vốn nợ bao gồm: huy động
tiền gửi, đi vay hay huy động từ các nguồn khác
Nghiệp vụ huy động tiền gửi:
Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng và chiếm tỉ trọng lớn trong tổng nguồn vốn
ngân hàng. Thông thường nguồn này chiếm hơn 50% tổng số nguồn vốn và là
mục tiêu tăng trưởng hàng năm của các ngân hàng. Khi bắt đầu đi vào hoạt
động thì mở các tài khoản tiền gửi là nghiệp vụ đầu tiên mà ngân hàng phải
thực hiện trước khi muốn tiến hành các nghiệp vụ khác. Thực hiện công việc
này có nghĩa là ngân hàng đã tiến hành huy động tiền gửi từ các cá nhân và tổ
chức trong xã hội. Đặc điểm chung của tiền gửi là chúng phải được thanh toán
khi khách hàng yêu cầu, ngay cả khi đó là tiền gửi có kì hạn chưa đến hạn. Sự
8
làm phong phú hơn cho tổng nguồn vốn của mình. Đây là khoản tiền có chi
phí huy động lớn do phải trả lãi suất cao hơn cho khách hàng song đây là
khoản mục có tính ổn định cao hơn do đây là loại tiền gửi có sự thỏa thuận
giữa 2 bên về số tiền cũng như thời điểm rút tiền. Nếu như khách hàng muốn
9
rút tiền cần báo trước với ngân hàng. Vì vậy ngân hàng hoàn toàn chủ động
trong việc sử dụng nguồn tiền này cho hoạt động kinh doanh của mình. Để
huy động có hiệu quả nguồn vốn này, các NHTM không ngừng đa dạng hóa
các kì hạn gửi tiền cũng như các mức lãi suất khác nhau nhằm thu hút các đối
tượng khách hàng tham gia.
-
Tiền gửi tiết kiệm của dân cư
Tiền gửi tiết kiệm của dân cư là nguồn vốn cực kì quan trọng đối với mọi
ngân hàng bởi lẽ đây là khoản tiền có mức độ ổn định cao nhất. Mọi tầng lớp
dân cư đều có những khoản tiền nhàn rỗi tạm thời chưa phải sử dụng, bởi vậy
họ luôn có nhu cầu đảm bảo an toàn cho khoản tiền của mình đồng thời có lãi.
Nhận thức được thực tế đó đồng thời xuất phát từ mục tiêu thu hút được càng
nhiều tiền tiết kiệm càng tốt, các NHTM đã và đang không ngừng khuyến
khích dân cư mở tài khoản tiết kiệm tại ngân hàng. Khách hàng cá nhân gửi
tiết kiệm tại ngân hàng với mục tiêu sinh lời nên điều điều họ quan tâm đến là
lãi suất. Đặc biệt trong điều kiện lạm phát thì vấn đề mà khách hàng quan tâm
là lãi suất thực. Chỉ khi lãi suất thực dương thì mới có thể hấp dẫn được khách
hàng. Để có thế huy động được nguồn tiền gửi tiết kiệm một cách có hiệu quả,
ngân hàng cần phải có những chính sách lãi suất phù hợp và có thể cạnh tranh
với các ngân hàng khác đồng thời thu hút được các đối tượng khách hàng này.
Để làm được điều đó, ngân hàng cần có mạng lưới rộng khắp cũng như các
hình thức huy động phong phú đa dạng
- Vay ngân hàng trung ương
Ngân hàng trung ương đóng vai trò là người cho vay cuối cùng. Trong trường
hợp các NHTM có nhu cầu chi trả cấp bách mà không thể huy động nguồn
nào khác, NHTW sẽ tiến hành cho vay dưới hình thức tái chiết khấu hoặc tái
cấp vốn. NHTW tiến hành chiết khấu các giấy tờ có giá với thời gian đáo hạn
ngắn và có khả năng trả nợ cao như tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, và
các loại giấy tờ có giá khác. Trong trường hợp các NHTM không có giấy tờ
có giá hay sở hữu giấy tờ có giá không được NHTW chấp nhận, NHTW tiến
hành tái cấp vốn cho NHTM dưới hình thức cho vay cầm cố giấy tờ có giá
hay thực hiện thấy chi và cho vay qua đêm áp dụng trong thanh toán điện tử
liên ngân hàng.
- Vốn nợ khác
+ Vốn ủy thác
11
Đi đôi với sự phát triển mạnh mẽ của các mối quan hệ kinh tế xã hội, rất nhiều
các tổ chức ra đời với mục tiêu hoạt động giống như ngân hàng. Với nguồn tài
chính dồi dào nhưng kinh nghiệm cũng như mạng lưới hoạt động còn hạn chế
nên việc tiếp cận đến người có nhu cầu vốn còn hạn chế. Vì vậy họ sử dụng
ngân hàng làm kênh dẫn vốn tới các mục tiêu. Ngân hàng thực hiện ủy thác
cho vay, ủy thác đầu tư, ủy thác giải ngân và thu hộ.. Thông qua hoạt động
này, ngân hàng huy động được nguồn vốn ủy thác cho mình và thu lợi nhuận
thông qua phí hoa hồng. Đây là nguồn vốn khá ổn định song việc tìm kiếm
khách hàng ủy thác khá khó khăn.
+ Vốn trong thanh toán
Với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt thì
nguồn vốn của ngân hàng được hình thành từ con đường này càng trở nên
phong phú. Khách hàng sử dụng các dịch vụ trung gian thanh toán như chi trả
hộ, mở LC, ... cần phải kí quỹ. Đó là nguồn hình thành nên vốn cho ngân
có tài sản đảm bảo khi sử dụng hình thức này
- Cho vay từng lần
Đây là hình thức cho vay phổ biến đối với khách hàng không có nhu cầu vay
thường xuyên, vốn ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn của chu kỳ
sản suất kinh doanh. Đây là hình thức cho vay khá đơn giản và ngân hàng có
thể kiểm soát từng món vay tách biệt cũng như hạn chế được rủi ro do cần
phải có tài sản đảm bảo. Tuy nhiên thủ tục cho vay loại này lại phức tạp hơn
so với thấu chi do mỗi một lần vay khách hàng đều phải làm đơn và trình
ngân hàng phương án sử dụng vốn vay. Sau khi tiến hành phân tích khách
hàng, ngân hàng sẽ kí hợp đồng cho vay trong đó quy định rõ về quy mô, thời
gian giải ngân, thời hạn trả nợ cũng như lãi suất và tài sản đảm bảo( nếu cần).
số lượng tiền ngân hàng cho vay được xác định
Số lượng tiền vay = nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh – (vốn chủ sở hữu
tham gia + các nguồn vốn khác tham gia)
Trong đó:
Nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh = nhu cầu vốn đầu tư cho TSLD và
TSCD – giá trị chi phí không thuộc đối tượng tài trợ của ngân hàng
Nếu cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo:
Số lượng cho vay ≤ Giá trị tài sản đảm bảo x %Tỷ lệ cho vay trên giá trị tài
sản đảm bảo
- Cho vay theo hạn mức tín dụng
Đây là nghiệp vụ tín dung theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng
hạn mức tín dụng, là số dư nợ tối đa tại bất kì thời điểm nào trong khoảng thời
13
gian xác định. hạn mức tín dụng được ngân hàng cấp dựa trên cơ sở kế hoạch
kinh doanh và nhu cầu vay vốn của khách hàng. đây là hình thức cho vay
thuận tiện đối với những khách hàng có nhu cầu vay mượn thường xuyên, vốn
vay thường xuyên tham gia vào quá trình sản xuất. Tuy nhiên ngân hàng cũng
ngân hàng chiết khấu thương phiếu, tín phiếu kho bạc ...do đây là các GTCG
chất lượng cao
c. Bảo lãnh
Theo quy chế ban hành kèm theo quyết định 26/2006/QĐ-NHNN ngày
26/6/2006 của thống đốc NHNN: “Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn
bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh)
về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh)
khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam
kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức
tín dụng số tiền đã được trả thay.”
Bảo lãnh đem lại lợi ích trực tiếp cho ngân hàng đó là phí bảo lãnh. Phí bảo
lãnh đóng góp vào lợi nhuận ngân hàng một khoản không nhỏ, chiếm tỷ lệ
khá lớn trong tổng phí dịch vụ của các ngân hàng hiện nay.
Không chỉ đóng góp vào lợi nhuận, bảo lãnh còn làm đa dạng hoá các loại
hình dịch vụ, giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro mất vốn đồng thời nâng cao uy
tín của ngân hàng
d. Cho thuê tài chính
Theo Nghị định số 16/2001/NĐ- CP ngày 02/05/2001 của Chính phủ về tổ
chức và hoạt động của công ty CTTC thì “CTTC là hoạt động tín dụng trung
và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển
và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên
thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển
và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối
với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê
trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận”. Khi kết thúc thời hạn
thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản hoặc tiếp tục thuê. (Điều 1
– Nghị Định 16)
15
người đi vay) dựa trên nguyên tắc hoàn trả và chữ tín.
16
Trong lĩnh vực ngân hàng thì tín dụng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa
ngân hàng và khách hàng trong đó ngân hàng là bên cấp tín dụng cho khách
hàng
Theo luật các tổ chức tín dụng 2010: cấp Tín dụng là việc thỏa thuận để tổ
chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một
khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ: cho vay, chiết khấu,
cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ tín
dụng khác.
Vai trò của hoạt động tín dụng NHTM
ngân hàng thương mại
Hoạt động tín dụng là nguồn thu lợi lớn nhất cho ngân hàng. NHTM thực hiện
1.2.2.
1.2.2.1. Với
cấp tín dụng cho khách hàng và thu lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cho vaylãi suất huy động. Đây là hoạt động rất quan trọng quyết định sự tồn tại và
phát triển của ngân hàng.
1.2.2.2. Đối với khách hàng
Tín dụng ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn của khách hàng. Đối với cá
nhân, ngân hàng cung cấp các sản phẩm tín dụng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
của họ. Đối với doanh nghiệp, tín dụng ngân hàng đảm bảo cho việc sản xuất
kinh doanh được thông suốt, doanh nghiệp nhờ vào nguồn vốn này mới có thể
mở rộng quy mô sản xuất . Đây là nguồn vốn nợ nên sức ép trả nợ sẽ giúp
khách hàng có ý thức hơn trong việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này. Để
kiệm được thời gian trong việc tìm kiếm vốn đầu tư từ những nguồn khác,
-
góp phần làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ
Tín dụng ngân hàng góp phần hỗ trợ các chiến lược kinh tế các chính sách
tiền tệ
Một chức năng quan trọng của NHTM là chức năng tạo tiền. Thông qua hoạt
động tín dụng và thanh toán, ngân hàng đã tạo ra một bội số tiền trong lưu
-
thông. NHTW điều
Tín dụng ngân hàng góp phần mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các hoạt động xuất
nhập khẩu càng trở nên phát triển. NHTM lại càng thúc đẩy mối quan hệ này
hơn khi cung cấp cho doanh nghiệp các dịch vụ cho vay, bảo lãnh,... tạo điều
kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện tốt các hoạt động ngoại thương của
mình. Như vậy, nhờ NHTM mà hoạt động của đất nước không chỉ gói gọn
trong phạm vi quốc gia mà đã vươn ra tầm quốc tế
1.2.3.
Phân loại tín dụng ngân hàng
18
1.2.3.1. Phân
loại theo thời gian
a. Tín dụng ngắn hạn
cho khách hàng thông qua phân tích tính khả thi của dự án mà khách hàng có
nhu cầu vay vốn. đây là khoản cho vay mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho
ngân hàng nhưng đồng thời cũng đưa tới nhiều rủi ro hơn. Vì vậy ngân hàng
cần có một chính sách tín dụng hợp lí cũng như một quy trình tín dụng chặt
chẽ để hạn chế những rủi ro có thể xảy ra.
1.2.3.2.
Phân loại theo hình thức tài trợ
Theo hình thức tài trợ, tín dụng được chia thành cho vay, bảo lãnh, cho
thuê tài chính, chiết khấu GTCG và bao thanh toán
a. Cho vay
Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết
giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong
một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và
lãi (theo Khoản 16-Điều 4-Luật các tổ chức tín dụng 2010).
Có nhiều phương thức cho vay như: thấu chi, cho vay từng lần, cho vay theo
hạn mức tín dụng, cho vay trả góp, cho vay gian tiếp
b. Chiết khấu
Chiết khấu là việc mua có kì hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các
công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá của người thụ hưởng trước khi đến hạn
thanh toán
Ngân hàng không tiến hành chiết khấu cổ phiếu do rủi ro cao, thông thường
ngân hàng chiết khấu thương phiếu, tín phiếu kho bạc ...do đây là các GTCG
chất lượng cao
c. Bảo lãnh
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín với bên có
quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách
hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên
nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số
a. Tín dụng không có đảm bảo
Là hình thức cho vay mà trong đó nghĩa vụ hoàn trả tiền vay không được bảo
1.2.3.3.
đảm bằng các tài sản thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay. Ngân hàng
thực hiện cấp loại hình tín dụng này đối với đối tượng khách hàng thân thuộc
của ngân hàng và có uy tín cao. Đây cũng được coi là hình thức tín dụng đảm
bảo bằng tín chấp. Bên cạnh đó ngân hàng cũng chi vay không cần tài sản
đảm bảo đối với các khoản vay theo chỉ thị chủa chính phủ hay những khoản
vay mà ngân hàng có khả năng giám sát chặt chẽ hoạt động của khách hàng
21
Tín dụng có đảm bảo
Là hình thức cho vay mà trong đó nghĩa vụ trả nợ tiền vay được bảo đảm
b.
bằng tài sản của bên vay hoặc của người thứ ba hay đảm bảo bằng chính tài
sản hình thành từ vốn vay. Với hình thức cấp tín dụng này, ngân hàng có thể
phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro, là ràng buộc để người vay thực hiện đúng
cam kết cũng tạo động lực giúp cho khách hang nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn.
Tín dụng phân loại theo mức độ an toàn
Dựa vào tiêu chí đánh giá rủi ro, ngân hàng phân chia tín dụng thành 5 nhóm
Nhóm 1: tín dụng đủ tiêu chuẩn
Là các khoản nợ có khả năng thu hồi cao hay nói cách khác là các khoản nợ
1.2.3.4.
chỉ tiêu như:
Số lượng khách hàng vay vốn
Số lượng khách hàng vay vốn có thể cho ta thấy khả năng đáp ứng nhu cầu
vốn của ngân hàng đồng thời thể hiện hoạt động tín dụng trong năm đạt kết
quả tốt. Có thể nói chỉ tiêu này càng cao thì quy mô cho vay càng lớn
- Doanh số cho vay
Doanh số cho vay là tổng số tiền mà ngân hàng đã cho vay theo hợp đồng tín
dụng đã ký. Doanh số cho vay thường được xác định trong một thời kì như
theo tháng, quý, năm. Doanh số cho vay lớn thể hiện quy mô tín dụng lớn.
- Dư nợ cho vay
Dư nợ cho vay là chỉ tiêu phản ánh tại một thời điểm xác định nào đó ngân
hàng hiện còn cho vay bao nhiêu. Đây cũng là khoản ngân hàng cần phải thu
về. Dư nợ cho vay là chỉ tiêu mang tính chất thời điểm và thường được tính
vào cuối năm.
Có rất nhiều các chỉ tiêu thể hiện kết quả hoạt động tín dụng nhưng đây là ba
chỉ tiêu chính. Với sự so sánh với năm hoạt động trước đó để thấy sự tăng
trưởng của các chỉ tiêu sẽ giúp cho những người quan tâm thấy được kết quả
hoạt động tín dụng năm nay là tốt hay không tốt so với năm khác.
1.2.5.
1.2.5.1. Khái
Chính sách tín dụng tại NHTM
niệm
Chính sách tín dụng là tổng thể các quy định của ngân hàng về hoạt động
tín dụng nhằm đưa ra định hướng và hướng dẫn hoạt động của cán bộ ngân
hàng trong việc cấp tín dụng cho khách hàng. Tổng thể các quy định này bao
gồm toàn bộ các vấn đề liên quan đến cấp tín dụng như: Quy mô, lãi suất, kỳ
ra sự phối hợp ăn ý, nhịp nhàng giữa các CBTD trong việc cung ứng sản
phẩm dịch vụ tín dụng đến khách hàng một cách hiệu quả nhất.
Chính sách tín dụng giúp đảm bảo tăng trưởng tín dụng hiệu quả, bền
-
vững phù hợp với kế hoạch trong từng thời kì
1.2.5.3. Nội
dung của chính sách tín dụng
Chính sách khách hàng
Chính sách khách hàng là tổng thể các quy định về phạm vi, điều kiện và phân
a.
loại đối tượng vay vốn của ngân hàng. CSTD được áp dụng cho tất cả đối
tượng khách hàng bao gồm cả tổ chức và cá nhân có nhu cầu vay vốn và có
khả năng trả nợ đồng thời đưa ra những quy định cụ thể về điều kiện đối với
một khách hàng để được cấp tín dụng.
24
CSTD cũng tiến hành phân loại khách hàng, giúp ngân hàng phát triển những
sản phẩm đặc thù phù hợp với nhu cầu, những ưu đãi thu hút khách hàng tiềm
năng, phát huy tối đa hiệu quả sử dụng nguồn lực, mở rộng thị phần.
b. Chính sách quy mô và giới hạn tín dụng
Chính sách quy mô và giới hạn tín dụng là một trong những công cụ trong
quản trị rủi ro của ngân hàng, nó giúp khống chế những rủi ro tổng thể của
khách hàng vay vốn.
Những cam kết tài trợ cho khách hàng về số tiền cũng như hạn mức được