Phân tích tìnhh hình sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phúc mạc tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGÔ QUỐC THẮNG

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH
TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM PHÚC MẠC
TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

HÀ NỘI 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGÔ QUỐC THẮNG

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH
TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM PHÚC MẠC
TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC

CHUYÊN NGÀNH: DƯỢC LÝ VÀ DƯỢC LÂM SÀNG
MÃ SỐ: 60 72 04 05

là những người đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày

tháng 03 năm 2016
Học viên

Ngô Quốc Thắng


MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương 1. TỔNG QUAN ............................................................................................... 1
1.1. TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIÊM PHÚC MẠC.................................................1
1.1.1. Cấu tạo và vai trò của phúc mạc .................................................................1
1.1.2. Khái niệm VPM ..........................................................................................3
1.1.3. Phân loại, nguyên nhân VPM......................................................................3
1.1.4. Cơ chế bệnh sinh của VPM .........................................................................4
1.1.5. Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng ...........................................................5
1.1.6. Các vi khuẩn thường gặp trong VPM .........................................................6
1.1.7. Phương pháp điều trị bệnh lý VPM ............................................................8
1.2. TỔNG QUAN VỀ SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG ĐIỀU TRỊ VPM .........9
1.2.1. Xu hướng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn ................................................9
1.2.2. Nguyên tắc đều trị kháng sinh theo kinh nghiệm ........................................12
1.2.3. Nguyên tắc sử dụng kháng sinh dựa trên bằng chứng vi khuẩn học ...........12
1.2.4. Các phương pháp đánh giá sử dụng kháng sinh ..........................................13
1.2.5. Một số hướng dẫn sử dụng kháng sinh trong điều trị VPM.........................15

4.3.5. Sự phù hợp của phác đồ kháng sinh ban đầu với IDS&TSSG ....................73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................................................... 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Chú thích

C2G

Cephalosporin thế hệ 2

C3G

Cephalosporin thế hệ 3

C4G

Cephalosporin thế hệ 4

DDD

Liều xác định hàng ngày

ESBL

Men beta – lactamase phổ rộng


Tụ cầu vàng kháng methicilin

NKOB

Nhiễm khuẩn ổ bụng

VPM

Viêm phúc mạc

VRSA

Tụ cầu vàng kháng vancomycin

VRE

Enterococcus spp kháng vancomycin

WSES

Hội phẫu thuật cấp cứu thế giới


DANH MỤC VIẾT TẮT TÊN VI KHUẨN
Tên viết tắt

Tên đầy đủ

A. baumanii


P. aeruginosa

Pseudomonas aeruginosa

P. vulgaris

Proteus vulgaris

S. aureus

Staphylococcus aureus

S. pneumoniae

Streptococcus pneumoniae


DANH MỤC BẢNG
Tên bảng

Bảng

Trang

1.1

Một số đặc điểm khác nhau giữa VPM tiên phát và thứ phát

6


3.2

Các nguyên nhân gây VPM

31

3.3

Đặc điểm bệnh mắc kèm của người bệnh

32

3.4

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng thường gặp

33

3.5

Đặc điểm chung về xét nghiệm vi sinh

34

3.6

Kết quả phân lập vi sinh

35


3.12

Danh mục phác đồ ban đầu 2 kháng sinh

47

3.13

Danh mục phác đồ ban đầu 3 kháng sinh

48

3.14

Đặc điểm thay đổi phác đồ kháng sinh

49

3.15

Nguyên nhân thay đổi phác đồ KSBĐ

49

3.16

Thời gian sử dụng phác đồ KSBĐ

50

64


DANH MỤC HÌNH
Hình

Tên hình

Trang

1.1

Cấu tạo phúc mạc của thành bụng sau

2

3.1

Độ nhạy cảm của họ trực khuẩn Gram (-) đường ruột với kháng sinh

37

3.2

Độ nhạy cảm của các vi khuẩn sinh ESBL với kháng sinh

38

3.3


Tỷ lệ sử dụng của các KS tính theo DDD/100 ngày nằm viện

44

3.9

Các phác đồ KSBĐ điều trị VPM tại bệnh viện Việt Đức

46


ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay tình trạng lạm dụng kháng sinh trong điều trị tại cộng đồng cũng như
trong bệnh viện làm cho tỷ lệ vi khuẩn đề kháng kháng sinh ngày càng tăng cao. Vi
khuẩn đề kháng kháng sinh làm giảm hiệu quả điều trị của kháng sinh, làm tăng nhiễm
khuẩn bệnh viện dẫn đến kéo dài thời gian nằm viện, tăng chi phí điều trị và tử vong
của người bệnh. Kháng sinh là một nhóm thuốc đặc biệt vì việc sử dụng không đúng
không chỉ ảnh hưởng đến người bệnh mà còn ảnh hưởng đến cộng đồng. Với những
nước đang phát triển như Việt Nam, đây là một nhóm thuốc rất quan trọng vì bệnh lý
nhiễm khuẩn là một trong những bệnh đứng hàng đầu về cả tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử
vong. Trong khi việc phát minh ra kháng sinh mới trên thế giới ngày càng giảm thì
mức độ đề kháng kháng sinh ngày càng gia tăng. Đặc biệt, ở Việt Nam mức độ kháng
kháng sinh đã ở mức báo động [3], [31], [35]. Nhiều nghiên cứu trong nước và trên thế
giới đã cho thấy rằng việc sử dụng kháng sinh hợp lý sẽ rút ngắn được thời gian nằm
viện, giảm tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn, giảm tỷ lệ tử vong và chi phí điều trị
cho người bệnh cũng như gánh nặng của ngành Y tế [77]. Vì vậy kháng kháng sinh và
sử dụng kháng sinh hợp lý là vấn đề đang được quan tâm hàng đầu tại các bệnh viện
trên toàn thế giới cũng như ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.
Viêm phúc mạc (VPM) là biến chứng thường gặp trong bệnh lý ngoại khoa ổ
bụng cần phải được chẩn đoán và xử lý trong cấp cứu. Đây cũng là một tình trạng

2. Phân tích việc sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phúc mạc tại bệnh viện
Hữu Nghị Việt Đức.


Chương 1. TỔNG QUAN
1.1.

TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIÊM PHÚC MẠC

1.1.1. Cấu tạo và vai trò của phúc mạc
1.1.1.1. Cấu tạo của phúc mạc
Phúc mạc (hay màng bụng) là một màng thanh mạc che phủ tất cả các thành ổ
bụng, bao bọc các tạng thuộc hệ tiêu hóa và che phủ phía trên các tạng thuộc bộ tiết
niệu, sinh dục. Diện tích của phúc mạc gần bằng diện tích của da (khoảng 1500 cm2),
khi viêm phúc mạc thường gây nhiễm độc nặng.
Phúc mạc là màng liên tục gồm 2 lá: lá thành và lá tạng. Lá thành (phúc mạc
thành) là phần phúc mạc lót mặt trong thành bụng. Lá tạng (phúc mạc tạng) bao bọc
mặt ngoài các tạng trong ổ bụng.
Phúc mạc được cấu tạo bởi 2 lớp: lớp bề mặt và lớp trong. Lớp bề mặt (hay lớp
thanh mạc) được cấu tạo bởi một lớp tế bào thượng mô hình vảy làm cho thành bụng
rất trơn láng và óng ánh. Lớp này luôn tiết ra một lớp dịch mỏng làm thấm ướt màng
bụng. Vì vậy, khi lớp thượng mô hình vảy bị tổn thương thì các tạng trong ổ bụng rất
dễ bị dính với nhau hoặc dính vào thành bụng. Lớp trong (hay lớp dưới thanh mạc) là
lớp mô sợi liên kết, nhờ có lớp này mà phúc mạc có độ chắc chắn và độ đàn hồi cao,
giúp cho việc khâu nối các tạng có phúc mạc che phủ rất dễ dàng [5], [13], [24].
Cấu tạo phúc mạc của thành bụng sau được thể hiện trong hình 1.1.

1



24,7% [81]. Obstein K.L nghiên cứu 111 trường hợp xơ gan cổ trướng tỷ lệ VPM tiên
phát là 26,1% [64]. Chủng vi khuẩn thường gặp trong VPM tiên phát là E. coli, phế
cầu hoặc liên cầu. Ở trẻ em, VPM tiên phát do vi khuẩn có thể là biến chứng của hội
chứng thận hư và căn nguyên thường gặp là phế cầu [3], [37].
 VPM thứ phát:
Là VPM khu trú hoặc lan tỏa có thể được gây ra do thủng ổ loét ở đường tiêu
hóa như dạ dày, ruột non, ruột già, thủng bàng quang hoặc đường tiết niệu; do viêm
ruột thừa, viêm tụy, viêm túi thừa, nhồi máu ruột, bệnh viêm đường ruột, viêm túi mật;
các bệnh về đường sinh dục nữ như nạo phá thai, nhiễm trùng tử cung sau phẫu thuật;
Bục chỗ khâu đường mật, tiêu hóa sau phẫu thuật [47], [69].

3


VPM thứ phát là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong trong
giai đoạn hậu phẫu sau phẫu thuật ổ bụng. Cùng với bệnh ung thư, tai biến mạch máu
não thì VPM là một trong ba nguyên nhân chính kéo dài thời gian nằm viện của người
bệnh [48].
 VPM thì ba:
VPM thì ba là VPM thứ phát hoặc tiên phát đã được điều trị nhưng vẫn tồn tại
các triệu chứng hoặc tái xuất lại các triệu chứng của VPM [3].
VPM thì ba được xác định là VPM phát sinh ít nhất 48 giờ sau lần điều trị
dường như thành công của VPM tiên phát hay thứ phát. Đây là một tình trạng nặng
của người bệnh nên thường phải điều trị ở đơn vị điều trị tích cực. Sự khác biệt của
VPM loại này so với VPM tiên phát và thứ phát là quần thể vi khuẩn khác hẳn, điều
này liên quan đến rối loạn chức năng các cơ quan, có tỷ lệ tử vong rất cao mặc dù
thuốc kháng sinh dường như có hiệu quả và kiểm soát được nguồn nhiễm [30], [59].
VPM thì ba được hiểu đơn giản là sự viêm nhiễm lan tỏa phúc mạc sau khi kiểm soát
VPM thứ phát thất bại. VPM này thường được phát hiện ở người bệnh có vài lần phẫu
thuật do nhiễm khuẩn ổ bụng thất bại trước đó [29].

cơ thể. VPM làm ức chế sự di chuyển của cơ hoành gây xẹp phổi hay viêm phổi, tăng
tính thấm của mạch máu phổi gây thiếu oxy, suy hô hấp. Sự thoát dịch trong lòng
mạch gây hạ huyết áp. Việc tưới máu cho gan và thận có thể bị suy giảm và dẫn đến
suy gan, suy thận. Nhiều trường hợp bệnh nhân tử vong do nhiễm trùng, nhiễm độc,
suy đa tạng [6], [47].
1.1.5. Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng
Người bệnh VPM tiên phát và thứ phát thường có biểu hiện khác nhau. VPM
tiên phát thường tiến triển qua một vài ngày đến vài tuần và thường chậm hơn VPM
thứ phát [47].
Các triệu chứng lâm sàng thường gặp của VPM thứ phát là: Đau bụng toàn
thể, khó thở, nhịp tim nhanh, buồn nôn và nôn; đôi khi xuất hiện tiêu chảy hoặc bí
trung đại tiện. Nhiệt độ ban đầu bình thường sau đó tăng lên 37,7 – 38,8 0C trong vòng
vài giờ đầu và có thể tiếp tục tăng sau đó. Hạ huyết áp và sốc nếu thể tích dịch không
được khôi phục đầy đủ. Lượng nước tiểu giảm do mất nước hoặc nặng hơn do suy
thận. Khám lâm sàng: bụng đau, trướng, co cứng thành bụng và có cảm ứng phúc mạc.
Trường hợp nặng có thể có rối loạn ý thức, mạch nhanh, hạ huyết áp [3], [6], [47].

5


Các đặc điểm cận lâm sàng thường gặp là: Số lượng bạch cầu tăng, tỷ lệ
bạch cầu đa nhân trung tính tăng, CRP tăng, điện giải đồ thay đổi. Siêu âm: ứ dịch
trong lòng ruột, các quai ruột giãn chứa dịch và hơi; có thể thấy nguyên nhân gây
VPM như áp xe gan, viêm phần phụ, viêm ruột thừa. Chụp ổ bụng tư thế đứng trên
phim thẳng có thể thấy mờ vùng thấp, quai ruột giãn, thành ruột dày [3], [6].
Chẩn đoán phân biệt VPM tiên phát và VPM thứ phát: Về mặt lâm sàng,
rất khó để phân biệt giữa VPM tiên phát và VPM thứ phát bởi cả hai đều có mặt của
nhiễm trùng trong ổ bụng. Tuy nhiên, cấy dịch ổ bụng có thể giúp phân biệt hai dạng
này. Sự khác nhau trong dịch ổ bụng giữa VPM tiên phát và VPM thứ phát được trình
bày trong bảng 1.1 [72].


1.1.6. Các vi khuẩn thường gặp trong VPM
Tác nhân gây VPM rất đa dạng, gồm phần lớn các chủng vi khuẩn ưa khí, kỵ
khí có nguồn gốc từ đường tiêu hóa hay nấm Candida spp [36]. Nấm Candida spp là
một thành phần trong hệ vi khuẩn nội sinh của đường tiêu hóa. Đây có thể là nguyên
nhân gây ra các nhiễm trùng trong ổ bụng và thường được tìm thấy trong VPM thứ
phát do thủng ruột [27], [73]. Các tác nhân gây VPM có thể xâm nhập bằng nhiều
đường khác nhau như: đường máu, bạch huyết hay xâm nhập qua thành các cơ quan
trong hệ tiêu hóa [17]. Các vi sinh vật thường phân lập được là trực khuẩn Gram (-)
(E. coli, K. pneumoniae), cầu khuẩn Gram (+) (Streptococcus spp, Enterococcus spp),
vi khuẩn kỵ khí (Bacteroides spp) và nấm men (Candida spp) [53]. Trong đó E. coli là
vi khuẩn phổ biến nhất, thông thường hơn 50% người bệnh nhiễm trùng ổ bụng bị
nhiễm vi khuẩn này [28], [40], [55].

6


VPM tiên phát do vi khuẩn thường được gây ra bởi một loại vi khuẩn. Ở trẻ em,
các tác nhân gây VPM thường là: Streptococcus spp nhóm A, E. coli, S. pneumoniae,
hoặc B. species. VPM ở người bệnh xơ gan cổ trướng tác nhân gây bệnh thường là E.
coli. Các tác nhân gây bệnh tiềm tàng khác là: P. haemophilus, Klebsiella spp,
Pseudomonas spp, S. pneumoniae, vi khuẩn kỵ khí và đôi khi có thể bị gây ra bởi M.
tuberculosis. Tỷ lệ tử vong ở người bệnh VPM tiên phát do vi khuẩn Gram (-) lớn hơn
rất nhiều so với vi khuẩn Gram (+) [36], [47], [58].
Với trường hợp VPM thứ phát, theo tác giả Solomkin, E. coli chiếm 56,8%,
Enterobacter spp 13,5%, P. aeruginosa 14,8% [78]. Trong nghiên cứu của Mosdell
DM E. coli chiếm 68,4%, Enterobacter spp 6,1%, P. aeruginosa 19,1% [62]. Tác giả
Toni Hau Nghiên cứu 385 trường hợp VPM cho kết quả E. coli 60%, Klebsiella spp
26%, Proteus spp 22%, Enterococcus spp 17%, vi khuẩn kỵ khí 38% [82]. Ở các
nghiên cứu trong nước, Lê Đức Thuận cho thấy vi khuẩn Gram (-) chiếm 84,4% với

kháng sinh sớm để diệt các vi khuẩn chưa được loại trừ hết bằng phẫu thuật. Bên cạnh
đó phải dự phòng và điều trị suy đa tạng đồng thời bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng
cho người bệnh [38], [71].
Kháng sinh là một nhóm thuốc rất quan trọng trong điều trị VPM cho dù bệnh
nhân có phẫu thuật hay không. Mục đích của việc điều trị bằng kháng sinh là kiểm soát
nhiễm khuẩn, ngăn chặn sự lây lan của vi khuẩn sang các cơ quan khác; giảm biến
chứng sinh mủ sau nhiễm khuẩn vì sau khi đã có mủ thì việc sử dụng một kháng sinh
để điều trị là rất khó khăn. Nhiều kháng sinh có thể được sử dụng để cải thiện hiệu quả
của phẫu thuật. Trong VPM thứ phát việc chỉ sử dụng kháng sinh mà không có can
thiệp phẫu thuật đi kèm theo thường là không đủ [47].
1.1.7.2. Nguyên tắc sử dụng kháng sinh trong điều trị VPM
Việc sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm được khuyến cáo là phải bắt đầu
sớm khi có nghi ngờ nhiễm khuẩn ổ bụng. Do đó kháng sinh thường được sử dụng
trước khi có kết quả xác định vi khuẩn gây bệnh. Việc điều trị cần được tiến hành dựa
trên khả năng gây bệnh của các tác nhân, vị trí nhiễm khuẩn và quá trình bệnh lý đi
kèm [43], [44], [57].
Hiện nay với sự ra đời của nhiều kháng sinh mới phổ rộng đã giúp cho việc
điều trị VPM có nhiều tiến bộ, làm giảm đáng kể biến chứng và tỷ lệ tử vong. Tuy
nhiên các vi khuẩn gây VPM ngày càng kháng với nhiều loại kháng sinh, kể cả các
kháng sinh phổ rộng, thế hệ mới. Việc sử dụng kháng sinh không đúng cách, không

8


đúng liều lượng sẽ không mang lại hiệu quả điều trị, càng làm gia tăng hiện tượng
kháng kháng sinh [68].
Trong điều trị VPM, việc lựa chọn kháng sinh ban đầu theo kinh nghiệm một
cách phù hợp có tính quyết định đến hiệu quả điều trị và tiên lượng của người bệnh
[20]. Các phác đồ điều trị và thời gian điều trị phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể.
Phác đồ kháng sinh nên có phổ rộng tác dụng lên các vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí ở

cấy được vi khuẩn và thực hiện được kỹ thuật kháng sinh đồ theo hướng dẫn của tổ
chức Y tế thế giới (WHO) và viện tiêu chuẩn thực hành lâm sàng và xét nghiệm
(CLSI) của Hoa kỳ. Các số liệu nghiên cứu trong nước và nước ngoài cho thấy vi
khuẩn ngày càng đề kháng kháng sinh nhanh hơn, nhiều hơn và đề kháng đồng thời
nhiều kháng sinh ở mức độ cao [3]. Đặc biệt một số loại vi khuẩn đã đề kháng ở mức
độ cao với nhiều loại kháng sinh khác nhau như: tụ cầu vàng kháng methicillin
(MRSA), E. faecium, P. aeruginosa, Acinetobacter spp, vi khuẩn Gram (-) sinh ESBL
[42]. Một số vi khuẩn có khả năng kháng tất cả các kháng sinh đang sử dụng và chỉ có
thể điều trị bằng các thuốc đang được nghiên cứu thử nghiệm hay các thuốc có độc
tính cao [70].
Xu hướng đề kháng của các vi khuẩn Gram (-): Hiện nay, vai trò gây bệnh
của các vi khuẩn Gram (-) đang chiếm ưu thế với tỷ lệ khoảng 70%. Tại bệnh viện
Việt Đức (2012) tỷ lệ vi khuẩn Gram (-) phân lập được là 83,3% [11]. Các vi khuẩn
Gram (-) gây bệnh thường gặp là họ trực khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae (E.
coli, K. pneumoniae, Proteus spp…), A. baumannii, P. aeruginosa. Các vi khuẩn này
có thể tiết ra men β – lactamase phổ rộng (ESBL) đề kháng tất cả kháng sinh nhóm β –
lactam trừ carbapenem. Hơn nữa, một số chủng được phát hiện đã có khả năng tiết
carbapenemase đề kháng carbapenem [3]. E. coli và Klebsiella spp là hai chủng vi
khuẩn Gram (-) gây nhiễm khuẩn ổ bụng chủ yếu nhất. Trước đây, việc điều trị hai
chủng vi khuẩn này tương đối dễ dàng nhưng trong vài thập niên trở lại đây, nhiều
nghiên cứu dịch tễ đã ghi nhận tình hình rất báo động về vi khuẩn kháng thuốc. Đặc
biệt chúng có khả năng tiết ra men ESBL [25].
Nghiên cứu của Lê Đức Thuận năm 2009 về đặc điểm vi khuẩn trong VPM tại
bệnh viện Việt Đức cho thấy tỷ lệ kháng của E. coli với các kháng sinh là
amoxicillin/acid clavulanic 21,8%, cefuroxim 50,0%, cefotaxim 50,9%, ciprofloxacin
40,0%, gentamicin 34,9%. Tỷ lệ kháng của Klebsiella spp là amoxicillin/acid
clavulanic 36,8%, cefuroxim 31,6%, cefotaxim 31,6%, ciprofloxacin 21,1%,
gentamicin 13,3% [23].

10

Lạm dụng kháng sinh là một vấn đề chưa được giải quyết tốt, do đó cần giám
sát nghiêm ngặt việc sử dụng kháng sinh để thúc đẩy sử dụng hợp lý và giảm kháng

11


thuốc [67]. Quản lý sử dụng kháng sinh là một vấn đề quan trọng hiện nay, cần xác
định các chiến lược, biện pháp can thiệp nhằm nâng cao việc kê đơn kháng sinh thích
hợp cho người bệnh tại các cơ sở y tế. Mục tiêu cuối cùng là bảo tồn các kháng sinh
hiện tại và tương lai trước mối đe dọa của kháng kháng sinh [39].
1.2.2. Nguyên tắc đều trị kháng sinh theo kinh nghiệm
Việc điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm được tiến hành khi chưa có bằng
chứng về vi khuẩn học do không có điều kiện nuôi cấy vi khuẩn (không có phòng xét
nghiệm vi sinh, không thể lấy được bệnh phẩm), hoặc khi đã nuôi cấy mà không phát
hiện được nhưng có bằng chứng lâm sàng rõ rệt về nhiễm khuẩn. Các nguyên tắc trong
điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm là:
- Phác đồ sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm là lựa chọn kháng sinh có phổ
hẹp nhất gần với hầu hết các tác nhân gây bệnh hoặc với các vi khuẩn nguy hiểm có
thể gặp trong từng loại nhiễm khuẩn.
- Kháng sinh phải có khả năng đến được vị trí nhiễm khuẩn với nồng độ hiệu quả
nhưng không gây độc.
- Trước khi bắt đầu điều trị, cố gắng lấy mẫu bệnh phẩm để phân lập vi khuẩn gây
bệnh. Nếu không có bằng chứng về vi khuẩn sau 48h điều trị, cần đánh giá lại lâm
sàng trước khi quyết định tiếp tục sử dụng kháng sinh.
- Cần thường xuyên cập nhật tình hình dịch tễ và độ nhạy cảm của vi khuẩn tại
địa phương để lựa chọn được kháng sinh phù hợp [3].
Lựa chọn kháng sinh theo kinh nghiệm phù hợp ngay từ ban đầu là yếu tố quan
trọng nâng cao hiệu quả điều trị (giảm số ngày sử dụng kháng sinh, giảm nguy cơ xảy
ra biến chứng, giảm thời giam nằm viện) trên những người bệnh có nhiễm khuẩn nặng
[51], [61].

định lượng.
1.2.4.1. Đánh giá định tính
Nghiên cứu đánh giá định tính nhằm đánh giá tính phù hợp của việc dùng thuốc
trên phương diện chất lượng và sự cần thiết của việc sử dụng thuốc so với các tiêu
chuẩn được xây dựng trước đó.
Mục tiêu của chương trình đánh giá sử dụng thuốc là cải thiện chất lượng, độ an
toàn và cân bằng giữa chi phí – hiệu quả của việc dùng thuốc thông qua việc xây dựng
được sự đồng thuận đa ngành. Các hoạt động cụ thể là: tiến hành kiểm tra thường
xuyên; cung cấp những kết quả phản hồi đến người kê đơn và các bên liên quan; thúc

13



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status