skkn sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với phương pháp thảo luận nhóm nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học giáo dục pháo luật ở môn giáo dục côn - Pdf 37

Sáng kiến kinh nghiệm

Trường THPT Kiệm Tân

MỤC LỤC
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.. ……………………………………………..Trang 3-5
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ……………………………...Trang 6-8
1. Cơ sở lý luận …………………………………………………………Trang 6-7
2. Cơ sở thực tiễn ……………………………………………………….Trang 7-8
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP……………………. Trang 8-26
PHẦN 1: KHÁI QUÁT VỀ KỸ THUẬT SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀ PHƯƠNG
PHÁP THẢO LUẬN NHÓM
1. Một số vấn đề chung về sơ đồ tư duy ………………………………..Trang 9-12
1.1. Giới thiệu đôi nét về sơ đồ tư duy…………………………………Trang 9
1.2. Nguyên lý và ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học……………….Trang 10
1.3.Giảng dạy và học tập với kỹ thuật sơ đồ tư duy ………………….Trang 10-11
1.4.Giới thiệu một số phần mềm dùng để tạo sơ đồ tư duy …………….Trang 12
2. Khái quát về phương pháp thảo luận nhóm……………………..Trang 12-13
2.1. Quy trình thực hiện………………………………………………….Trang 13
2.2. Ưu điểm…………………………………………………………. ….Trang 13
2.3. Hạn chế…………………………………………………………. …..Trang 13
3. Mục tiêu của việc sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy kết hợp với phương pháp thảo luận
nhóm trong dạy học giáo dục pháp luật ở môn Giáo Dục Công Dân ……..Trang 14
PHẦN 2: DẠY HỌC THEO KỸ THUẬT SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY KẾT
HỢP VỚI PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM
1.Hướng dẫn học sinh làm sơ đồ tư duy…………………………... Trang 15-17
1.1. Lợi ích của việc học tập với sơ đồ tư duy ……………………….Trang 15-16
1.2. Hướng dẫn học sinh làm một sơ đồ tư duy: ……………………..Trang 16
1.3. Những lưu ý học sinh khi sử dụng sơ đồ tư duy…………………Trang 16-17
2. Tiến trình một tiết dạy theo kỹ thuật sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với
phương pháp thảo luận nhóm………………………………………. Trang 17-20


Trường THPT Kiệm Tân

SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY KẾT HỢP VỚI PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN
NHÓM NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở MÔN GDCD
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Điều 2 Luật Giáo dục khẳng định: Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt
nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp,
trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi
dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường có vị trí đặc biệt quan trọng trong
công cuộc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến với người dân. Là biện
pháp cơ bản có ý nghĩa chiến lược trong việc bồi dưỡng, xây dựng, hình thành
những thế hệ công dân, người lao động mới trong nhà nước pháp quyền XHCN
Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện tại và tương lai. Đối với người dân nói
chung và học sinh, sinh viên nói riêng thì trong cuộc sống hàng ngày luôn cần đến
pháp luật. Hiểu biết pháp luật sẽ giúp họ nắm được những chuẩn mực ứng xử trong
đời sống xã hội, tạo điều kiện cho họ thực hiện tốt những quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân, khuyến khích họ tham gia các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp
luật.
Thực hiện chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2013 của ban bí thư TW Đảng về
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng
cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân và triển khai thực hiện Đề án 1928 “
Nâng cao chất lượng công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong Nhà trường”,
ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng đổi mới, thực hiện nghiêm túc và đạt hiệu quả
cao trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên.
Bước vào giai đoạn mới của cách mạng, giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước và để đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế, đòi hỏi sự nghiệp

với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.
- Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức, kĩ thuật dạy học.
Tùy theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ
chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, ngoài lớp…
Việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên thông qua việc tổ chức liên tiếp các
hoạt động học tập, từ đó giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không phải
thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn. Theo tinh thần này, giáo viên là người
tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập như nhớ lại kiến thức cũ, phát
hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc
tình huống thực tiễn. Chú trọng rèn luyện cho học sinh những tri thức phương pháp để họ
biết cách đọc sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức
đã có, biết cách suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới. Tăng cường phối hợp học
tập cá thể với học tập hợp tác theo phương châm “ tạo điều kiện cho học sinh nghĩ nhiều
hơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn”. Điều đó có nghĩa là, mỗi học sinh vừa cố
gắng tự học một cách độc lập, vừa hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình tiếp cận và
tìm tòi kiến thức mới. Lớp học trở thành môi trường giao tiếp thầy- trò và trò- trò nhằm
vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các
nhiệm vụ học tập chung. Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong
suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập. Chú trọng phát triển kỹ năng
tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh.
Kĩ thuật dạy học bằng sơ đồ tư duy ngày càng trở nên phong phú và được nhiều nước
tiên tiến trên thế giới sử dụng đạt hiệu quả cao. Phương pháp thảo luận nhóm hay hình
thức xã hội của dạy học đã được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho học sinh tham gia một
cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho học sinh có thể chia sẻ kiến thức, kinh
nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến nội dung bài học. Vì vậy nếu
người giáo viên biết khai thác tốt những ưu thế của phương pháp thảo luận nhóm kết hợp
với sử dụng kĩ thật dạy học sơ đồ tư duy sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả mỗi
bài học nói chung và bài học giáo dục pháp luật trong môn Giáo dục công dân nói riêng.
Người thực hiện: Hoàng Thị Minh Hoạt


Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi hiếu động, thích tìm tòi, khám phá, thích
được tự khẳng định bản thân, nhưng lứa tuổi này còn thiếu kiến thức và kinh
nghiệm sống nên dễ vấp váp trong cuộc sống, dễ nản lòng, bi quan khi gặp khó
khăn. Tuổi học sinh THPT cũng là lứa tuổi khát khao sống tình cảm, thường chịu
ảnh hưởng sâu sắc từ bạn bè và những người được các em coi là “thần tượng”…Vì
vậy muốn đạt hiệu quả trong dạy học giáo dục pháp luật, giáo viên cần thiết lập
được quan hệ thân thiện, tin cậy với học sinh, đồng thời lựa chọn và sử dụng
phương pháp dạy học phù hợp với tâm sinh lí của lứa tuổi học sinh để có thể khai
thác, phát huy tối đa tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học.
Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng,
hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức… bằng cách kết hợp việc sử
dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Tác
giả của sơ dồ tư duy là Tony Buzan, ông là người đã thúc đẩy làn sóng cách mạng
học tập bùng nổ tại nhiều nước trên thế giới và khu vực, trong đó có Việt Nam. Có
thể nói, sơ dồ tư duy là con đường dẫn học sinh đến với phương pháp “học cách
học”.
Lí luận dạy học đã chỉ ra rằng, học sinh vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của
quá trình dạy học. Việc kết hợp phương pháp thảo luận nhóm với sử dụng kĩ thuật
dạy học sơ đồ tư duy làm cho học sinh có điều kiện trao đổi với thầy với bạn, sẽ
phát huy tốt tính tích cực chủ động của học sinh. Thay đổi phương pháp, mô hình
dạy học là yêu cầu không thể thiếu trong xã hội hiện đại, nó vừa phát huy tốt ưu thế
của mỗi môn học, vừa tạo được sự hấp dẫn đối với học sinh, thông qua đó vừa giáo
dục và hình thành những kĩ năng sống cơ bản cho học sinh.
Tuy nhiên, việc tổ chức bài học sôi động và chuyển đổi các dòng chữ dài và
đơn điệu trong sách giáo khoa thành các bài học với những hình vẽ, đường cong
sinh động và dễ hiểu không phải là vấn đề dễ dàng đối với giáo viên và học sinh
hiện nay. Việc thay đổi cách nghĩ, cách học đối với lớp học mà học sinh có mặt
bằng nhận thức không đồng đều, lại càng khó khăn và phức tạp hơn. Bởi vì, từ lâu
học sinh đã quen với việc chỉ cần ghi chép các nội dung mà thầy, cô truyền đạt, khi
về nhà chỉ cần học thuộc lòng bài cũ, không cần hiểu sâu hay áp dụng vào thực tế,

hành an toàn giao thông: Tiểu học 4%, THCS 35%, THPT 70%... Những con số
này cho thấy càng lớn ý thức đạo đức của học sinh càng đi xuống. Hiện nay tình
trạng đạo đức, lối sống của một bộ phận giới trẻ còn nhiều bất ổn, từ thái độ học
tập, ý thức chấp hành nội qui, kỉ luật nhà trường, chấp hành pháp luật đến những
hành vi tiêu cực trong học tập, thi cử của học sinh và sự xâm nhập các tệ nạn xã hội
trong học đường. Nhìn chung sự hiểu biết về pháp luật của thanh thiếu niên Việt
Nam hiện nay còn nhiều hạn chế. Đa phần không hiểu những quyền và nghĩa vụ
của bản thân cũng như người khác, không hiểu biết về những nội dung các qui định
của pháp luật để biết rằng mình được làm gì, không được làm gì, phải làm như
thế nào…không biết về những điều luật, bộ luật có ảnh hưởng trực tiếp đến mình
như luật dân sự, luật hình sự. luật lao động… Trong khi đó phổ biến giáo dục pháp
luật trong trường THPT được thực hiện thông qua chương trình chính khóa theo qui
định của Bộ giáo dục và đào tạo, thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp, đồng thời được thực hiện bằng con đường dạy học tích hợp trong môn Giáo
dục công dân thì học sinh THPT nói chung và học sinh lớp 12 nói riêng luôn coi
môn Giáo dục công dân là môn học phụ, không ảnh hưởng đến việc thi cử nên
thường không quan tâm chú ý đến nội dung bài học. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên
dạy Giáo dục công dân phải luôn tìm mọi biện pháp để thu hút được sự quan tâm,
chú ý của học sinh và hơn hết là phải phát huy được tính tích cực của học sinh
trong mỗi bài học.
Hiện nay trong thực tế, còn nhiều học sinh, sinh viên học tập một cách thụ động,
đơn thuần là chỉ nhớ kiến thức một cách máy móc mà không rèn luyện kỹ năng tư
Người thực hiện: Hoàng Thị Minh Hoạt

7


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường THPT Kiệm Tân


Trường THPT Kiệm Tân

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
PHẦN 1: KHÁI QUÁT VỀ KỸ THUẬT SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀ PHƯƠNG
PHÁP THẢO LUẬN NHÓM
1. Một số vấn đề chung về sơ đồ tư duy
1.1. Giới thiệu đôi nét về sơ đồ tư duy
Việc phát triển tư duy cho học sinh và giảng dạy kiến thức về thế giới xung
quanh luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của những người làm công tác
giáo dục. Nhằm hướng học sinh đến một phương cách học tập tích cực và tự chủ,
giáo viên không những cần giúp học sinh khám phá các kiến thức mới mà còn phải
giúp học sinh hệ thống được những kiến thức đó. Việc xây dựng được một “hình
ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan
tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng
sáng tạo…Một trong những công cụ hết sức hữu hiệu để tạo nên các “hình ảnh liên
kết” là sơ đồ tư duy.

Người thực hiện: Hoàng Thị Minh Hoạt

9


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường THPT Kiệm Tân

Sơ đồ tư duy hay bản đồ tư duy (Mind Map) là hình thức ghi chép sử dụng
màu sắc, hình ảnh nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý
chính của một nội dung, hệ thống hoá một chủ đề. Nó là một công cụ tổ chức tư

1.3.Giảng dạy và học tập với kỹ thuật sơ đồ tư duy
1.3.1. Giảng dạy với kỹ thuật sơ đồ tư duy tăng tính tích cực của học sinh
Sơ đồ tư duy đặc biệt chú trọng về màu sắc, hình ảnh với từ ngữ ngắn gọn thể
hiện qua mạng liên tưởng (các nhánh trong bài giảng). Từ phần nội dung chính, giáo
Người thực hiện: Hoàng Thị Minh Hoạt

10


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường THPT Kiệm Tân

viên vẽ ra từng nhánh nhỏ theo từng tiểu mục chính của bài giảng và chú thích, giảng
giải theo một ngôn ngữ dễ hiểu và gần gũi với học sinh.
Như vậy, thay vì phải học thuộc lòng các khái niệm, định nghĩa hay cả bài
giảng đọc chép như lúc trước, giờ đây học sinh có thể hiểu và nắm được khái niệm
qua hình vẽ. Chính sự liên tưởng theo hướng dẫn của giáo viên cũng giúp học sinh
nhớ được phần trọng tâm của bài giảng.
Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ
về trí tuệ, vẽ, viết gì trên sơ đồ tư duy, hệ thống hóa kiến thức chọn lọc những phần
nào trong bài để ghi, thể hiện dưới hình thức kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc,
vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống.
Để giảng dạy theo sơ đồ tư duy, giáo viên có thể chủ động vẽ hình trên bảng rồi
cho học sinh tiếp tục lên phân nhánh sơ đồ hay để học sinh chia thành từng nhóm
nhỏ rồi tự vẽ sơ đồ theo cách hiểu của mình sau đó giáo viên định hướng lại từng nội
dung cho học sinh.
Sơ đồ tư duy thực chất là một sơ đồ mở không theo một khuôn mẫu hay tỷ lệ
nhất định mà là cách hệ thống kiến thức tạo ra một tiết học sinh động, đầy màu sắc
và thực sự hiệu quả.

cách hệ thống, khoa học.
Trong dạy học việc sử dụng sơ đồ tư duy huy động tối đa tiềm năng của bộ não,
giúp học sinh học tập tích cực, hỗ trợ hiệu quả các phương pháp dạy học.Vận dụng
sơ đồ tư duy trong dạy học, giáo viên giúp học sinh có thói quen tự tay ghi chép
hay tổng kết một vấn đề, một chủ đề đã đọc – đã học, theo cách hiểu của học sinh
với dạng sơ đồ tư duy.
1.4.Giới thiệu một số phần mềm dùng để tạo sơ đồ tư duy
Một sơ đồ tư duy có thể được thực hiện dễ dàng trên một tờ giấy với các loại
bút màu khác nhau, tuy nhiên, cách thức này có nhược điểm là khó lưu trữ, thay
đổi, chỉnh sửa. Một giải pháp được hướng đến là sử dụng các phần mềm để tạo ra
sơ đồ tư duy. Một số phần mềm tiêu biểu trong thể loại “phần mềm mind mapping”
(mind mapping software) để tạo sơ đồ tư duy:
- Phần mềm Buzan’s iMindmap™: một phần mềm thương mại, tuy nhiên có
thể tải bản dùng thử 30 ngày. Phần mềm do công ty Buzan Online Ltd. thực hiện.
Trang chủ tại www.imindmap.com
- Phần mềm Inspiration: sản phẩm thương mại của công ty Inspiration
Software, Inc. Sản phẩm có phiên bản dành cho trẻ em (các em từ mẫu giáo đến lớp
5) rất dễ dùng và nhiều màu sắc. Có thể dùng thử 30 ngày. Trang chủ tại
www.inspiration.com
Người thực hiện: Hoàng Thị Minh Hoạt

12


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường THPT Kiệm Tân

- Phần mềm Visual Mind: sản phẩm thương mại của công ty Mind
Technologies. Phần mềm dễ sử dụng và linh hoạt trong sắp xếp các nút chứa từ

hứng thú trong học tập.
- Vốn hiểu biết và kinh nghiệm xã hội của học sinh thêm phong phú; các kỹ
năng xã hội như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác, kỹ năng thương lượng, kỹ
Người thực hiện: Hoàng Thị Minh Hoạt

13


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường THPT Kiệm Tân

năng lắng nghe tích cực, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng giải quyết vấn đề của học
sinh được phát triển.
2.3. Hạn chế
- Một số học sinh không tham gia vào hoạt động chung của nhóm.
- Ý kiến của các nhóm có thể quá phân tán hoặc mâu thuẫn gay gắt với nhau.
- Thời gian có thể bị kéo dài.
- Lớp học ồn ào, ảnh hưởng đến các lớp khác.
3. Mục tiêu của việc sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy kết hợp với phương pháp thảo
luận nhóm trong dạy học giáo dục pháp luật ở môn Giáo Dục Công Dân
- Giúp học sinh chuyển từ cách học truyền thống sang cách học tích cực thông
qua thảo luận nhóm và kỹ thuật sơ đồ tư duy. Tận dụng tối đa thời gian của tiết học
vào các hoạt động tích cực của học sinh, giảm việc ghi chép trên lớp. Do đó, giúp
học sinh bớt căng thẳng, mệt mỏi. Sự kết hợp này cũng sẽ khắc phục được một số
hạn chế của phương pháp thảo luận nhóm.
- Làm cho mỗi bài học giáo dục pháp luật không còn khô khan, cứng nhắc mà
nó trở nên sinh động, hấp dẫn từ chính các ý tưởng thiết kế sơ đồ tư duy của học
sinh và các ví dụ minh họa từ thực tiễn mà các em đưa vào. Chính vì vậy mà mỗi
bài học giáo dục pháp luật được học sinh tiếp thu một cách tự nhiên và chính các

- Nhìn thấy bức tranh tổng thể
- Tổ chức và phân loại suy nghĩ của học sinh
và nhiều vấn đề khác trong quá trình học tập…
Lập sơ đồ tư duy (hoặc sơ đồ ý tưởng) là việc bắt đầu từ một ý tưởng trung tâm
và viết ra những ý khác liên quan tỏa ra từ trung tâm. Bằng cách tập trung vào
những ý tưởng chủ chốt được viết bằng từ ngữ của học sinh, sau đó tìm ra những ý
tưởng liên quan và kết nối giữa những ý tưởng lại với nhau hình thành nên một sơ
đồ tư duy. Tương tự, nếu học sinh lập một sơ đồ kiến thức, nó sẽ giúp học sinh hiểu
và nhớ những thông tin mới và nắm kiến thức sâu hơn.
Hướng dẫn học sinh sử dụng những đường thẳng, màu sắc, mũi tên, nhánh rẽ
hoặc những cách khác để thể hiện kết nối giữa những ý tưởng được đưa ra trong
bản đồ tư duy của học sinh. Những mối quan hệ này sẽ quan trọng khi học sinh
đang tìm hiểu những thông tin mới hoặc xây dựng cấu trúc của một bài học. Bằng
cách cá nhân hoá sơ đồ với những ký hiệu và thiết kế riêng của mỗi học sinh, học
sinh sẽ xây dựng được những mối quan hệ trực quan và có ý nghĩa giữa những ý
tưởng; điều này sẽ hỗ trợ học sinh rất nhiều trong việc gợi nhớ và hiểu.
Ý tưởng của bản đồ tư duy là suy nghĩ sáng tạo và liên kết bằng một cách thức
phi tuyến tính. Có rất nhiều thời gian để chỉnh sửa thông tin sau này nhưng ở bước
Người thực hiện: Hoàng Thị Minh Hoạt

15


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường THPT Kiệm Tân

đầu tiên, việc đưa mọi khả năng vào bản đồ là rất quan trọng. Đôi khi một trong
những khả năng tưởng như là không thể ấy lại trở thành ý tưởng chủ chốt đưa học
sinh đến kiến thức đó.

học sinh có thể gạch chéo, đánh dấu cộng, hay chấm bi trong đó – rất mới mẻ và
tốn ít thời gian.
Người thực hiện: Hoàng Thị Minh Hoạt

16


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường THPT Kiệm Tân

- Vẽ nhiều nhánh cong hơn là đường thẳng để tránh sự buồn tẻ, tạo sự mềm
mại, cuốn hút.
Khi học sinh sử dụng những từ khóa riêng lẻ, mỗi từ khóa đều không bị ràng
buộc, do đó nó có khả năng khơi dậy các ý tưởng mới, các suy nghĩ mới.
- Nếu trên mỗi nhánh học sinh viết đầy đủ cả câu thì như vậy học sinh sẽ dập
tắt khả năng gợi mở và liên tưởng của bộ não. Não của học sinh sẽ mất hết hứng
thú khi tiếp nhận một thông tin hoàn chỉnh. Vì vậy, trên mỗi nhánh học sinh chỉ
viết một, hai từ khóa mà thôi. Khi đó, học sinh sẽ viết rất nhanh và khi đọc lại, não
của học sinh sẽ được kích thích làm việc để nối kết thông tin và nhờ vậy, thúc đẩy
năng lực gợi nhớ và dần dần nâng cao khả năng ghi nhớ của học sinh.
- Giáo viên nên thường xuyên cho học sinh sử dụng sơ đồ tư duy khi làm việc
nhóm và làm việc cá nhân để hệ thống kiến thức đã học trong môn học. Sơ đồ tư
duy cũng giúp học sinh và giáo viên tiết kiệm thời gian làm việc ở nhà và trên lớp
rất nhiều với các phần mềm sơ đồ tư duy trên máy tính.
2. Tiến trình một tiết dạy theo kỹ thuật sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với
phương pháp thảo luận nhóm
2.1. Công tác chuẩn bị:
Đối với giáo viên: soạn bài và thiết kế bài học theo sơ đồ tư duy. Dựa vào nội
dung bài mới để đưa ra hệ thống câu hỏi. Phần câu hỏi này có thể được ghi chép

bài học cần có năng khiếu và thời gian làm quen. Qua hoạt động kiểm tra nội dung
chuẩn bị ở nhà của học sinh giáo viên sẽ khởi động tiết học, gây hứng thú cho học
sinh ngay khi mới vào giờ học.
Cũng qua thao tác này, bước đầu giáo viên đã định hình cho học sinh biết phải
làm gì với bài học mới thông qua các bài chuẩn bị của các học sinh được biểu
dương. Giáo viên cũng đánh giá được thái độ học tập của tập thể cũng như cá nhân,
qua đây cũng có thể cho điểm học sinh hay cộng điểm để khuyến kích học sinh.
Hoạt động 2: Thảo luận nhóm lập sơ đồ tư duy
Giáo viên giới thiệu bài mới
Giáo viên chia nhóm, phân công nhiệm vụ cho các nhóm và qui định thời gian
làm việc cho các nhóm.
Giáo viên có thể gợi ý hoặc đưa ra hệ thống câu hỏi liên quan tới nội dung bài
học, khi trả lời các câu hỏi này, học sinh sẽ nắm được nội dung bài mới. Các câu
hỏi này có thể được chuẩn bị trước bằng bảng phụ hay giáo viên sẽ viết lên bảng
trong khi các nhóm thảo luận.
Học sinh các nhóm trao đổi, thảo luận để thiết kế được sơ đồ tư duy thể hiện nội
dung bài học, trong quá trình thảo luận học sinh sẽ đưa các sơ đồ tư duy đã thiết kế ở
nhà để so sánh, đối chiếu với sơ đồ tư duy của nhóm mình, kiểm tra lại các mục và
nội dung chính, bổ sung các thông tin còn thiếu trong bài của mình, trả lời các câu
hỏi trong sách giáo khoa.
Hoạt động 3: Đại diện các nhóm báo cáo, thuyết trình về sơ đồ tư duy của
nhóm mình
Mỗi nhóm cử 1 học sinh đại diên nhóm mình mang sơ đồ tư duy lên treo trước
lớp và thuyết trình về sơ đồ tư duy mà nhóm mình đã thiết lập.( Giáo viên có thể
yêu cầu bất kì một học sinh nào trong nhóm lên thuyết trình sơ đồ tư duy của nhóm
mình để tránh hiện tượng ỷ lại trong học sinh).
Học sinh nhận xét, bổ sung sơ đồ tư duy của các nhóm
Đối với những bài học có nội dung dài gồm nhiều phần khác nhau giáo viên có
thể tổ chức cho học sinh thiết kế sơ đồ tư duy của bài học lên bảng bằng cách:
- Sau khi kết thúc thảo luận nhóm, giáo viên yêu cầu các nhóm cử đại diện lên

háo hức nhìn xem bạn mình đang thiết kế và có ý tưởng gì mới trên bảng, các ý
tưởng đó có đúng như nhóm đã thảo luận không? Các nhóm bên cạnh có ý tưởng gì
mới không? Nên lúc này nếu giáo viên không chỉnh đốn kịp thời, lớp học sẽ dễ bị
mất tập trung và rơi vào tình trạng ồn ào mất kiểm soát.
Hoạt động 4: Học sinh thảo luận lớp, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện sơ
đồ tư duy về kiến thức của bài học.
Hoạt động 5: Củng cố kiến thức bằng một sơ đồ tư duy mà giáo viên đã
chuẩn bị sẵn hoặc một sơ đồ tư duy mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn
chỉnh.
Hoạt động 6: Giáo viên nhận xét tiết học, đánh giá hoạt động từng nhóm
và cho điểm những học sinh có thành tích tốt trong tiết học và dặn dò chuẩn bị
bài mới.
Kết quả bài học được xây dựng bởi hoạt động chuẩn bị ở nhà của học sinh, hoạt
động thảo luận nhóm, thuyết trình trước lớp, thiết kế sơ đồ tư duy của các nhóm và
hoạt động thảo luận chung của cả lớp.
Lưu ý: Sơ đồ tư duy là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhóm học
sinh có chung một kiểu sơ đồ tư duy, Giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho học sinh về
mặt kiến thức, góp ý thêm về đường nét vẽ, màu sắc và hình thức (nếu cần).
Sử dụng sơ đồ tư duy sẽ dễ dàng hơn trong việc phát triển ý tưởng, tìm tòi xây
dựng kiến thức mới. Nhờ sự liên kết các nét vẽ cùng với màu sắc thích hợp và cách
diễn đạt riêng của mỗi người, sơ đồ tư duy giúp bộ não liên tưởng, liên kết các kiến
thức đã học trong sách vở và những hiểu biết của học sinh trong cuộc sống… để
Người thực hiện: Hoàng Thị Minh Hoạt

19


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường THPT Kiệm Tân

- Biết giữ gìn, bảo vệ tài sản của trường, lớp và tài sản nơi công cộng.
1.3. Về thái độ
- Tôn trọng pháp luật, thực hiện đúng các qui định của pháp luật trong các lĩnh
vực cụ thể của cuộc sống.
- Ủng hộ những hành vi thực hiện đúng pháp luật. Khi thấy những người xung
quanh thực hiện đúng pháp luật thì phải có thái độ đồng tình, khuyến khích, không
bàng quan.
2. Nội dung
- Khái niệm thực hiện pháp luật.
- Các hình thức thực hiện pháp luật.
3. Phương pháp và kỹ thuật dạy học
- Phương pháp thảo luận nhóm, thảo luận lớp, thuyết trình.
- Kỹ thuật sơ đồ tư duy.
4. Tài liệu và phương tiện
- Sách giáo khoa, tranh ảnh, giấy khổ lớn, bút màu.
- Máy tính, máy chiếu.
Người thực hiện: Hoàng Thị Minh Hoạt

21


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường THPT Kiệm Tân

5. Hoạt động dạy học
Hoạt động 1: Giáo viên kiểm tra công tác chuẩn bị ở nhà của học sinh
- Giáo viên kiểm tra và nhận xét việc chuẩn bị bài ở nhà của học sinh.

Hình 1: Một bài chuẩn bị ở nhà của học sinh


Hình 2: Sơ đồ bài học của nhóm 3

Hình 2: Sơ đồ bài học của nhóm 4
Người thực hiện: Hoàng Thị Minh Hoạt

23


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường THPT Kiệm Tân

Hoạt động 3: Đại diện các nhóm báo cáo, thuyết trình về sơ đồ tư duy của
nhóm mình
Mỗi nhóm cử 1 học sinh đại diên nhóm mình mang sơ đồ tư duy lên treo trước
lớp và thuyết trình về sơ đồ tư duy mà nhóm mình đã thiết lập.( Giáo viên có thể
yêu cầu bất kì một học sinh nào trong nhóm lên thuyết trình sơ đồ tư duy của nhóm
mình để tránh hiện tượng ỷ lại trong học sinh)
Học sinh nhận xét, bổ sung sơ đồ tư duy của các nhóm
Hoạt động 4: Học sinh thảo luận lớp, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện sơ
đồ tư duy về kiến thức của bài học.
Giáo viên hướng dẫn học sinh cả lớp tìm ra một sơ đồ tư duy tốt nhất của các
nhóm, sau đó cố vấn giúp học sinh cả lớp hoàn chỉnh sơ đồ tư duy thể hiện nội
dung bài học.
Hoạt động 5: Củng cố kiến thức bằng một sơ đồ tư duy mà giáo viên đã
chuẩn bị sẵn hoặc một sơ đồ tư duy mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn
chỉnh.
Giáo viên treo sơ đồ tư duy đã được học sinh chỉnh sửa hoàn chỉnh ở giữa bảng
hoặc chiếu sơ đồ tư duy mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn và cho học sinh lên thuyết

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status