BM 01-Bia SKKN
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT XUÂN THỌ
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
VẬN DỤNG THƠ VĂN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Người thực hiện: Hà Thụy Ngọc Diễm
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Lich sử
- Lĩnh vực khác: .......................................................
Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
Mô hình
Phần mềm
Phim ảnh
Hiện vật khác
Năm học: 2012 – 2013
2
BM03-TMSKKN
VẬN DỤNG THƠ VĂN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG
PHẦN I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1-Cơ sở lý luận:
Trong đời sống xã hội, lịch sử đóng một vai trò vô cùng quan trọng, nó vừa là
một công cụ của công tác sư phạm, lại có tác dụng giáo dục trí tuệ và tình cảm. Tri
thức lịch sử là một trong những bộ phận quan trọng nhất của nền văn hóa chung
của nhân loại và không có bộ phận quan trọng này thì không thể coi việc giáo dục
con người đã hoàn thành đầy đủ. Bác Hồ, lúc sinh thời đã rất quan tâm đến việc
học và truyền bá kiến thức lịch sử nước nhà. Câu thơ mở đầu trong quyển “Lịch sử
nước ta” của Bác được xem là “Tuyên ngôn”, “Lời chỉ dẫn sư phạm” trong giáo
dục lịch sử nói chung, trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông nói riêng: "Dân ta
phải biết sử ta, Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam" Trước hết phải “biết” và
trên cơ sở ấy để “tường” (“hiểu sâu sắc”) lịch sử, từ nguồn gốc dân tộc, từ thuở ban
đầu dựng nước và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho cuộc sống hiện
tại và tương lai Lịch sử không chỉ góp phần phát triển trí tuệ mà trong một chừng
mực không nhỏ, còn là công cụ giáo dục tình cảm , đạo đức, phẩm chất. Đó là giáo
dục lòng yêu nước, trung thành với dân tộc, với cách mạng, với Đảng ; là việc noi
gương người xưa để hành động trong ngày nay. Vì vậy, từ xưa, lịch sử được xem
là “triết lí của việc noi gương” (lịch sử treo “một tấm gương sáng” để người đời
sau noi theo, qua những bài học kinh nghiệm rút ra từ quá khứ). Lịch sử có vai trò
to lớn như vậy, nhưng hiện nay trong xã hội và nhà trường, môn Lịch sử vẫn còn bị
xem là môn phụ. Học sinh thì học chiếu lệ, dạy học Lịch sử thì chưa được quan
tâm đúng mức. Giới trẻ hầu như chỉ tiếp cận với lịch sử đất nước qua các bài giảng
không gây được hứng thú học tập cho học sinh, làm cho tiết học trở nên nặng nề.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính làm cho học sinh chưa thích học
bộ môn Lịch Sử.
Tuy nhiên, trái với thực trạng trên. Qua giảng dạy và dự giờ đồng nghiệp
trong 2 năm qua, tôi đã rút ra được một kinh nghiệm mà bản thân tôi cho là rất
quý. Đó là: khi áp dụng kiến thức thơ, văn, ca dao vào việc giảng dạy Lịch sử sẽ
gây hứng thú cho học sinh trong việc tiếp thu bài. Những tiết học như vậy trở nên
sinh động hẳn, để lại trong lòng các em những ấn tượng lâu bền. Chắc chắn những
sự kiện trong bài học Lịch sử sẽ lưu lại trong ký ức các em sâu hơn, lâu hơn. Qua
thể nghiệm nhiều lần dạy hai cách ở 1 tiết học: một là giảng dạy không vận dụng
kiến thức thơ văn, ca dao; hai là có vận dụng kiến thức thơ văn, ca dao vào trong
tiết dạy, tôi thấy chất lượng hai tiết dạy hoàn toàn khác nhau, kể cả tâm lý, hứng
thú của người dạy cũng hoàn toàn khác nhau.
4
Trên thực tế, sự phong phú của nguồn thơ, văn, ca dao, dân ca, chuyện cổ....
viết về Lịch sử hoặc liên quan đến Lịch Sử vô cùng phong phú, nếu người giáo
viên biết cách vận dụng, chắc chắn sẽ đạt kết quả cao trong giảng dạy lịch sử dân
tộc. Vì vậy, thông qua đề tài nghiên cứu này, tôi muốn góp phần nhỏ trong việc
nâng cao chất lượng giáo dục ở bộ môn lịch sử
PHẦN II – GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Như đã nói ở trên, nguồn thơ, văn… của chúng ta (liên quan đến Lịch sử) rất
phong phú. Trong điều kiện chủ quan và khách quan cho phép, tôi chỉ giới hạn
phạm vi tìm hiểu là: Bước đầu khai thác và vận dụng một số kiến thức thơ, văn
(chủ yếu là thơ, ca dao) vào việc giảng dạy một số bài trong chương trình Lịch sử
Lớp 10, 12 THPT
PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng, phạm vi vận dụng của đề tài là chương trình Lịch sử lớp10, 12.
giáo viên biết vận dụng những dẫn chứng từ thơ ca thì tiết dạy sẽ sinh động và hiệu
quả hơn nhiều.
Ca dao là một bộ phận của văn học. Nó không chỉ là một sản phẩm nghệ thuật
dân gian mà còn tâm thức của dân gian về những hiện tượng lịch sử, xã hội nhất
định. Ca dao phản ánh lịch sử trực tiếp hoặc gián tiếp, ở những góc độ, những cung
bậc khác nhau. Kí ức dân gian về các sự kiện, hiện tượng lịch sử trong ca dao thì
thường không được ghi rõ về mốc thời gian, nhưng nó rất dễ nhớ bởi nó thường
được diễn đạt bởi thể thơ lục bát, bằng những hình ảnh sinh động và phản ánh rất
chân thực cái nhìn của dân gian về các sự kiện, hiện tượng lịch sử mà nhân dân
quan tâm.
Vì vậy, chúng ta cũng có thể khai thác ca dao như là một nguồn tư liệu bổ ích
phục vụ cho các bài giảng lịch sử. Cụ thể ở chương trình lịch sử lớp 10 có thể áp
dụng ở một số bài:
1-Bài 14: Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam
- Giáo viên có thể giới thiệu sự ra đời của nhà nước Văn Lang Âu Lạc, qua đó
khắc sâu cho học sinh về ngày dỗ tổ Hùng Vương: Khoảng thế kỉ VII trước công
nguyên, người Việt cổ đã xây dựng nhà nước đầu tiên trong lịch sử - nước Văn
Lang. Đến cuối thế kỉ III trước công nguyên, quân Tần phát binh xâm chiếm nước
ta. Nhân dân Văn Lang đã đoàn kết với người Tây Âu cùng tiến hành cuộc kháng
chiến chống Tần. Lúc bấy giờ vua Hùng đã già yếu, lại không có con trai nên thủ
lĩnh người Tây Âu là Thục Phán đã trở thành người chỉ huy tối cao. Cuộc kháng
chiến thắng lợi, nước Âu Lạc ra đời trên cơ sở sát nhập Tây Âu với Văn Lang.
Thục Phán lên ngôi vua và xưng là An Dương Vương. Để tưởng nhớ công ơn các
vua Hùng, Thục Phán đã cho dựng cột đá thề đời đời thờ cúng vua Hùng. Tục giỗ
tổ Hùng Vương xuất phát từ đây. Nói về tục giỗ tổ Hùng Vương của dân tộc dân
gian có câu ca:
Ai về Phú Thọ cùng ta
Vui ngày giỗ tổ tháng 3 mồng 10.
Hoặc:
6
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi, đánh cồng.
Hay
Ai qua Nông Cống tỉnh Thanh
Dừng chân nhớ Triệu Thị Trinh anh hùng.
7
Ai về Hậu Lộc, Phú Điền,
Nơi đây Bà Triệu trận tiền xung phong.
Nói về nỗi thống khổ của nhân dân vì nạn cống vải và cuộc khởi nghĩa của
Mai Thúc Loan, ca dao cũng phản ánh:
Nhớ khi nội thuộc Đường triều
Giang sơn cố quốc nhiều điều ghê gai.
Sâu quả vải vì ai vạch lá
Ngựa hồng trần kể đã héo hon.
…..
Đường đi cống vải từ đây dứt
Dân nước đời đời hưởng lộc chung.
Hay câu ca:
Sa nam trên chợ dưới đò
Nơi đây Hắc Đế kéo cờ dựng binh.
Sông Bạch Đằng là một địa danh đã đi vào lịch sử dân tộc với những chiến
thắng hiển hách của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nam Hán (938), quân
Tống (981) và quân Nguyên (1288). Con sông này chảy giữa thị xã Quảng Yên
(Quảng Ninh) và huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng) rồi đổ ra biển. Bình thường
sông hẹp, khi triều dâng lòng sông rất rộng, thường xuất hiện những cơn sóng bạc
đầu lớn nên gọi là Bạch Đằng giang. Xưa kia hai bên bờ sông là rừng rậm ken dày
do đó dân gian còn gọi là sông Rừng. Cha ông ta xưa đã từng dặn dò:
Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền.
4- Bài 21: Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỷ
XVI-XVIII
Từ thế kỉ XVI, chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn suy yếu.
Cảnh thái bình thịnh trị đã không còn nữa. Đời sống nhân dân trở nên khó khăn.
Điều đó đã được phản ánh trong câu ca:
Đời vua Vĩnh Tộ lên ngôi
Cơm trắng đầy nồi, trẻ chẳng buồn ăn
Từ ngày Cảnh Trị lên ngôi
Khoai chửa mọc chồi đã nhổ lên ăn.
Nhà Lê suy vi, Mạc Đăng Dung cướp ngôi lập ra nhà Mạc. Nhưng cũng chỉ
được mấy chục năm thì bị lực lượng Lê Trung - Trịnh đánh bật khỏi Thăng Long
(1692). Một số người trong tôn thất nhà Mạc chạy lên Cao Bằng, xây dựng thành
lũy cát cứ ở đây mãi đến năm 1677 mới bị tiêu diệt hoàn toàn. Kí ức dân gian về
thời kì này được thể hiện trong câu ca:
Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo, đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.
9
Ở nhà cò nhớ anh chăng?
Để anh kể chuyện Cao Bằng cho nghe.
Sau nội chiến Nam – Bắc triều, bước sang thế kỉ XVII đất nước tiếp tục
vướng nạn binh đao, nồi da xáo thịt bởi cuộc phân tranh giữa hai tập đoàn phong
kiến Trịnh – Nguyễn. Quảng Bình lúc ấy là chiến địa của các cuộc giao tranh. Nỗi
lòng người dân nơi này được thể hiện qua câu ca:
Sông Gianh nước chảy đôi dòng
Có ao tắm mát có nghề quay tơ.
Hay:
Lụa là nhất ở Phương La
Kinh kì xưa vẫn thường qua nơi này.
Quảng Nam có lụa Phú Bông
Có khoai Trà Đảo, có sông Thu Bồn.
Phú Bông dệt lụa, dệt sa
Kim Bồng thợ mộc, Ô Gia thợ rừng.
Về nghề làm giấy, in tranh:
Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng Mái quê anh thì về
Làng Mái có lịch có lề
Có ao tắm mát, có nghề in tranh.
Làng Mái là tên Nôm chỉ làng Đông Hồ (Bắc Ninh) - nơi có nghề in tranh nổi
tiếng. Về các làng nghề ở Thăng Long có câu:
Lĩnh hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng
Thợ vàng Định công, thợ đồng Ngũ Xã.
Các làng nghề ở Hải Dương, Hưng Yên có câu:
Ai về Đông Tĩnh, Huê Cầu
Đông Tĩnh bán thuốc, Huê Cầu nhuộm thâm
Nào ai đi chợ Thanh Lâm
Cho anh gửi một áo thâm hạt dầu
Nghề làm đường ở Quảng Ngãi cũng đã đi vào cao dao với câu:
Mặn mà muối biển Sa Huỳnh
Ngọt đường Quảng Ngãi thắm tình quê ta
Đường phổi, chim mía, mạch nha
Ai về Quảng Ngãi thử qua một lần.
Cũng trong các thế kỉ XVII – XVIII, văn hóa dân tộc tiếp tục phát triển mạnh
mẽ. Đạo Phật không bị sự hạn chế của chính quyền nữa nên tiếp tục phát triển, ăn
sâu, bám rễ vào đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Chùa – Phật trở thành
Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa.
Dù xây chín bậc phù đồ,
Chẳng bằng làm phúc cứu cho một người.
6- Bài 23: Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước, bảo vệ
tổ quốc cuối thế kỷ XVIII
12
Cuối thế kỉ XVIII, sự suy đồi của chế độ phong kiến ngày càng nghiêm trọng.
Cuộc khởi nghĩa của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ bùng nổ
và nhanh chóng lan rộng. Kí ức về sự kiện lịch sử này còn được dân gian ghi lại
qua câu ca dao:
An Khê nổi tiếng Hòn Bình,
Khi xưa Nguyễn Huệ ẩn danh nơi này.
An Khê, Hòn Bình là những địa danh gắn với ngày đầu dựng cờ khởi nghĩa
của ba anh em Tây Sơn ở vùng Tây Sơn thượng đạo (Gia Lai ngày nay).
Bần Gie đốm đậu sáng ngời
Rạch Gầm soi dấu muôn đời oai danh
Về việc Nguyễn Huệ ra Bắc Hà lần thứ nhất, lật đổ chúa Trịnh, trao quyền lại
cho nhà Lê được ghi nhớ trong kí ức dân gian qua câu:
Nguyễn ra thì Nguyễn lại về
Chúa Trịnh mất đất, vua Lê hãy còn
Về cuộc kháng chiến chống Thanh xuân Kỉ Dậu:
Xuân xưa vang tiếng Hà Hồi
Oai danh Nguyễn Huệ muôn đời còn ghi
Một trời khí phách uy nghi
Đón xuân không thẹn tu mi Lạc Hồng.
7-Bài 26: Tình hình xã hội ở nửa đầu thế kỷ XIX và phong trào đấu tranh
của nhân dân
Thắng lợi của phong trào nông dân Tây Sơn đã lập nên vương triều Tây Sơn
Khi đi trai tráng, khi về bủng beo...
Cây cao su quý hơn người,
Mỗi khi cây bệnh, cây thời nghỉ ngay.
Lang ta cho chí lang Tây,
Đêm dêm lo lắng, ngày ngày chăm nom.
Còn ta đau yếu gầy còm,
Đau không được nghỉ, chết hòm cũng không.
(Ca dao chống Pháp)
hoặc:
“Cha trốn ra Hòn Gai cuốc mỏ
Anh chạy vào Đất Đỏ làm phu
Bán thân đổi mấy đồng xu
Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng!”
(Ba mươi năm đời ta có Đảng - Tố Hữu)
b) Làm sáng tỏ: “Thuế khoá trong bất cứ thời gian nào cũng là nguồn bóc lột
chủ yếu của thực dân đế quốc nói chung và thực dân Pháp đối với nhân dân Đông
Dương nói riêng”
“… Thuế đến cả phấn son phường phố
Thuế môn bài, thuế đuốc, thuế đèn
Thuế nhà cửa, thuế chùa chiền
Thuế rừng tre gỗ, thuế tiền bán buôn
…
Trăm thứ thuế, thuế gì cũng ngặt
Thắt chặt dần như thắt chỉ xe”
14
(Á tế á ca)
2. Bài 13 – “Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam 1925-1930”
Làm sáng tỏ gương hy sinh anh dũng quên mình của liệt sĩ Phạm Hồng Thái
Anh Sơn, Hà Tĩnh bốn bên dậy rồi
Không có lẽ ta ngồi chịu chết
Phải cùng nhau kiên quyết một phen
Tổng này, xã nọ kết liên
Ta hò, ta hét, thét lên thử nào”
(Tố Hữu)
4/ Bài 16 – “…..Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám 1939-1945…”
15
a) Nhằm khắc họa hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh và tình cảm của Người khi
trở về quê hương sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, có thể khai thác sử
dụng:
“…Ôi sáng xuân nay, xuân bốn mốt
Sáng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về… Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ…
Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!
Nhớ thương hòn đất, ấm hơi Người
Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ
Mà đến bây giờ mới tới nơi!”
(Theo chân Bác - Tố Hữu)
b) Khi nói về kết quả của cuộc khởi nghĩa Nam Kì: bị thất bại, thực dân
Pháp đã đàn áp dã man cuộc khởi nghĩa nhiều cán bộ lãnh đạo Nam Kì bị bắt, bị
kết án tử hình, nhưng dù trong hy sinh vẫn giữ nguyên tư thế của người chiến
thắng:
“Các anh chị bước lên đài gươm máy
Đầu sắp rơi mà môi vẫn cười tươi”
(Quyết hy sinh - Tố Hữu)
c) Nói về diễn biến của tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945:
“Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng.
Hoặc: Lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu.”
(Ta đi tới - Tố Hữu)
6/ Bài 21– “Xây dựng CNXH ở miền Bắc…1954-1965”
Sau 1954 miền Bắc hoàn toàn giải phóng bắt tay xây dựng CNXH, nông thôn
miền Bắc phấn khởi trên con đường làm ăn tập thể:
“Dân có ruộng dập dìu hợp tác
Lúa mượt đồng ấm áp làng quê
Chiêm mùa, cờ đỏ ven đê
Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn”
(Ba mươi năm đời ta có Đảng - Tố Hữu)
7/ Bài 22– “Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu…miền Bắc vừa chiến
đấu vừa sản xuất 1965-1973”
a) Giữa lúc sự nghiệp chống Mĩ, cứu nước đang giành được những thắng lợi
ngày càng lớn thì xảy đến một cái tang chung, ngày 2/9/1969, Bác Hồ mất. Để lại
nỗi tiếc thương khôn nguôi:
“Bác đã đi rồi sao, Bác ơi
Mùa thu đang đẹp nắng xanh trời
Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội
Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười.”
(Bác ơi - Tố Hữu)
b) Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết cho thấy sự phấn khởi của nhân dân ta
“Khao khát trăm năm, mãi đợi chờ
Hôm nay vui đến ngỡ trong mơ”
(Việt nam, máu và hoa - Tố Hữu)
8/ Bài 23– “Khôi phục và phát triển kinh tế xã hội miền Bắc giải phóng
hoàn toàn miền Nam 1973-1975”
Với chiến dịch Hồ Chí Minh, toàn thắng đã về ta, trong giờ phút thiêng liêng
ấy lòng mỗi người dân đều rạo rực muốn dâng chiến công lên Bác:
phương pháp, điều này sẽ có hiệu quả hơn nếu chúng ta biết cách vận dụng cho
phù hợp ở từng bài học cụ thể.
KẾT LUẬN
Ngoài việc xây đắp tâm hồn và tri thức cho học sinh, dạy sử bằng thơ ca giúp
các em sưu tầm, thu thập thêm thông tin tư liệu để có thêm nhiều góc nhìn khác
nhau về lịch sử. Qua sự tìm tòi, các em sẽ được rèn luyện thêm kỹ năng thực hành,
biết vận dụng lý thuyết vào thực tế cuộc sống.
Thơ văn nói chung với ưu thế của nó: dễ thuộc, dễ đi vào lòng người… sẽ là
một thế mạnh trong việc hỗ trợ đắc lực cho việc truyền thụ kiến thức lịch sử thông
qua đó góp phần giáo dục đạo đức, lòng biết ơn đối với truyền thống, lãnh tụ cũng
18
như những anh hùng liệt sĩ đã hi sinh, đã đóng góp xương máu của mình để làm
rạng rỡ thêm lịch sử nước nhà.
Cũng như các môn học khác, khi học sinh đã tường tận từ lý thuyết và được
“trang bị” thêm lời nhạc tiếng thơ thì rõ ràng các tri thức khô cứng sẽ được “mềm
hóa” hơn. Từ đó bài học trở nên mềm mại, bớt sự khô khan, đơn điệu mà còn giúp
học sinh rất dễ nhớ, dễ hình dung về các sự kiện hiện tượng lịch sử được cung cấp
trong bài học. Bài học luôn được khắc sâu và đi vào lòng người một cách tự nhiên.
Không những thế, khi thơ ca được sử dụng đúng chỗ thì tiết học thực sự sinh động
hơn, tạo thêm “chất xúc tác” trong hứng thú của người học và đưa đến hiệu quả bất
ngờ là học sinh tham gia tiết học sáng tạo và hăng say hơn. Đây cũng là cách giáo
viên thực hiện được yêu cầu tổ chức hoạt động học tập theo hướng tích hợp mà cụ
thể là môn lịch sử đã tích hợp được với văn học, âm nhạc và mỹ thuật.
Tuy nhiên cũng cần lưu ý thêm, cách sử dụng nên ở mức độ vừa phải, cho
phép. Tránh lạm dụng, tham lam quá nhiều dễ biến giờ học sang giờ giảng văn.
GV phải biết chọn lọc tư liệu, đưa ra đúng lúc đúng chỗ mới gây hiệu ứng mạnh.
Cách liên hệ cũng nhẹ nhàng, phù hợp và tự nhiên. Không nên khiên cưỡng, máy
BM04-NXĐGSKKN
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
Đơn vị :
Trường THPT Xuân Thọ
Xuân Lộc-Đồng Nai
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Xuân Thọ, ngày 15 tháng 05 năm 2013
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2012-2013
Tên sáng kiến kinh nghiệm: VẬN DỤNG THƠ VĂN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở
TRƯỜNG THPT
Họ và tên tác giả: Hà Thụy Ngọc Diễm
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường THPT Xuân Thọ-Xuân Lộc-Đồng Nai
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)
- Quản lý giáo dục
20
- Phương pháp dạy học bộ môn: ...............................
- Phương pháp giáo dục
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại
đơn vị có hiệu quả
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Tốt
Khá
Đạt
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và
dễ đi vào cuộc sống:
Tốt
Khá
Đạt
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả
trong phạm vi rộng:
Tốt
Khá
Đạt
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký tên, ghi rõ họ tên và đóng dấu)
21