NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
- CNTT
:
Công nghệ thông tin
- CMTS
:
Cách mạng tư sản
- DHLS
:
Dạy học lịch sử
- ĐHQG
:
Đại học quốc gia
- ĐHSP
:
Đại học sư phạm
- LLSX
:
Lực lượng sản xuất
- Nxb
:
Nhà xuất bản
- PPDH
:
Phương pháp dạy học
- QHSX
:
Quan hệ sản xuất
- SGK
:
Sách giáo khoa
Đề tài: Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở
trƣờng trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 –
chƣơng trình chuẩn)
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xác định được tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục trong thời kì đổi
mới, văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Phát triển giáo
dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam
theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc
tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán
bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo,
coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả
năng lập nghiệp. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ
giữa nhà trường với gia đình và xã hội”. Quan điểm chỉ đạo trên đây của Đảng
đã đặt ra hệ thống tổng hợp của các nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, trong đó việc
nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng năng lực sáng tạo, kỹ năng thực
hành cho HS là một trong những nhiệm vụ quan trọng.
Để nâng cao chất lượng dạy học theo định hướng phát huy năng lực sáng
tạo và khả năng thực hành cho HS hiện nay, vấn đề tạo hứng thú học tập và
năng lực nhận thức tích cực cho HS trong dạy học luôn là nhân tố cơ bản và
có ảnh hưởng quyết định tới việc thực hiện mục tiêu nói trên.
Bộ môn LS ở trường phổ thông với đặc trưng riêng của mình có vị trí
quan trọng trong việc bồi dưỡng nhận thức và giáo dục nhân cách cho thế hệ
trẻ. Nội dung học tập nhằm trang bị cho học sinh những tri thức lịch sử cơ bản
hiện đại, những tri thức về quy luật xã hội, những kinh nghiệm và bài học lịch
sử. Trên cơ sở đó dần hình thành cho các em có được hệ thống thế giới quan
duy vật biện chứng khoa học, xây dựng niềm tin vững chắc vào sự phát triển
môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú học tập cho học sinh” 1
Nhận thức tích cực là yêu cầu quan trọng, có giá trị quyết định tới chất
lượng dạy học, và theo đó cũng có ảnh hưởng quyết định tới hiệu quả của
hoạt động dạy học. Nhưng nhận thức tích cực không phải tự nhiên mà có. Để
có nhận thức tích cực, phải hiểu bản chất của nhận thức tích cực và quan
1
[http://vi.wikisource.org].
2
Đề tài: Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở
trƣờng trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 –
chƣơng trình chuẩn)
trọng hơn, phải hình thành được kỹ năng nhận thức tích cực và thường xuyên
rèn luyện kỹ năng ấy trong thực tiễn nhận thức. Không quan tâm tới kỹ năng
nhận thức tích cực và thường xuyên rèn luyện kỹ năng ấy, mục tiêu của nhận
thức tích cực, mặc dù rất quan trọng và cần thiết, nhưng mãi sẽ chỉ là khẩu
hiệu xuông mà thôi. Vấn đề này càng trở nên quan trọng hơn trong dạy học
lịch sử hiện nay, khi mà việc học tập lịch sử theo lối nhận thức thụ động, nhồi
nhét, thầy đọc trò chép vẫn đang còn là phổ biến và dẫn đến thực trạng báo
động: học sinh chán sử, thờ ơ với lịch sử, không hứng thú học tập lịch sử.
Xuất phát từ quan điểm trên, chúng tôi chọn vấn đề “Rèn luyện kỹ năng
nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trƣờng trung học
phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 –
chƣơng trình chuẩn) làm đề tài Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ của mình. Với
hành”. Ông cho rằng: “Muốn đạt được mục tiêu này, tốt nhất, hiệu quả nhất
là bắt trò liên tục hành để học, học qua hành. Vậy vấn đề không phải là giảng
dạy một cách giáo điều, thầy nói liên tục, thao thao bất tuyệt. Trái lại, chủ yếu
là bắt trò hoạt động, vận dụng khả năng xét đoán của mình...”. Như vậy,
Montaigne đã chú ý đến kỹ năng nhận thức tích cực và đặc biệt nhấn mạnh
đến kỹ năng thực hành.
Tác phẩm “Lí luận dạy học vĩ đại” của J.A Comenxki (1592 – 1670), cha
đẻ của nền giáo dục cận – hiện, đã đưa ra những yêu cầu cải tổ nền giáo dục
theo hướng phát huy sự tích cực, chủ động, sáng tạo nhu cầu người học. Theo
ông, dạy học thế nào để người học thích thú học tập và có những cố gắng bản
thân để nắm lấy tri thức.
Sang những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, J.Dewey với tác phẩm
“The school and Societ”, 1899 (Trường học và xã hội), ông cho rằng: vừa học
vừa làm nghĩa là giáo dục không nên quá coi trọng vào lý thuyết mà phải chú
trọng đến rèn luyện kỹ năng, chú ý đến nhận thức tích cực và kỹ năng thực
hành cho học sinh.
Nửa sau thế kỷ XX, Kixegof X.I với tác phẩm “Hình thành các kỹ năng
và kỹ xảo sư phạm cho sinh viên trong điều kiện của nền giáo dục Đại học”
(Vũ Năng Tính (dịch) – 1977. Tác giả chỉ ra và nhấn mạnh rằng: “việc hình
thành kỹ năng, kỹ xảo khái quát có liên quan đến việc phát triển tư duy và
4
Đề tài: Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở
trƣờng trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 –
chƣơng trình chuẩn)
việc làm phong phú tầm hiểu biết của người được dạy dỗ. Việc hình thành các
kỹ năng chỉ có kết quả khi con người ý thức được rõ rệt mục đích, nhiệm vụ,
trƣờng trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 –
chƣơng trình chuẩn)
kỹ năng cần thiết cho HS như: kỹ năng nhận ra sự giống và khác nhau, kỹ
năng tóm tắt - ghi ý chính, kỹ năng làm bài tập về nhà, kỹ năng thực hành, kỹ
năng làm việc nhóm... Đồng thời, GV cũng cần ghi nhận và khích lệ các em
trong quá trình học tập. Như vậy, đây cũng là một trong những biện pháp góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Trong “Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi” của Giselle
O.Martin- Kniep cũng đề cập đến các kỹ năng trên và đưa ra cách chấm điểm
của GV đối với các kỹ năng của HS trong đó coi trọng kỹ năng nhận thức
theo hướng tích cực hóa.
Mặc dù có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau nhưng các tác
giả đều cho rằng để nâng cao chất lượng dạy học ngoài đổi mới về mục tiêu,
nội dung và phương pháp còn phải chú ý đến HS nhất là quan tâm đến việc
HS suy nghĩ như thế nào? Tức HS phải có những kỹ năng cơ bản, trong đó
nhận thức tích cực là một trong những kỹ năng quan trọng.
Ngoài những tài liệu về giáo dục học, phương pháp dạy học, vấn đề kỹ
năng và nhận thức tích cực còn được thể hiện qua các sách giáo trình về
phương pháp dạy học lịch sử, tiêu biểu nhất là:
N.G Đairi trong “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” đã nhấn mạnh:
để phát huy tư duy độc lập và nhận thức tích cực của HS cần xây dựng và sử
dụng hệ thống câu hỏi trong quá trình dạy học. Qua việc giải đáp câu hỏi cũng
chính là rèn cho các em những kỹ năng cơ bản của nhận thức. Những lập luận
của Đairi giúp GV lịch sử hiểu rõ cách sử dụng câu hỏi phù hợp với nhận thức
học sinh. Ông chú ý đến dạy học “nêu vấn đề” là cách rèn cho học sinh kỹ
năng nhận thức tích cực một cách tốt nhất.
I.F.Kharlamop trong “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như
thế nào” (1978) , Nxb Giáo dục, Hà Nội. Ngay trong phần lời nói đầu: “Một
trong những vấn đề căn bản mà nhà trường Xô viết hiện đang lo lắng và giải
vấn đề” trong quá trình dạy học. Theo tác giả, thông qua các biện pháp này sẽ
kích thích năng lực sáng tạo, nhận thức tích cực của học sinh. Do đó, sẽ nâng cao
chất lượng dạy học môn lịch sử nói riêng và quá trình dạy học nói chung.
2.2. Các công trình nghiên cứu trong nước
Về vấn đề kỹ năng nhận thức và nhận thức tích cực, các nhà giáo dục
học, tâm lý học, giáo dục lịch sử Việt Nam đã đạt được một số thành tựu đáng
7
Đề tài: Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở
trƣờng trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 –
chƣơng trình chuẩn)
kể. Ngay từ những năm 60 của thế kỉ XX, dạy học tích cực đã bắt đầu được
đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong giáo trình Giáo dục học, Tâm lí
học, phương pháp giảng dạy bộ môn. Trong trường THPT đã xuất hiện tư
tưởng “Phương pháp giáo dục tích cực”, khẩu hiệu “Biến quá trình đào tạo
thành quá trình tự đào tạo”.
Trước hết, là nguồn tài liệu giáo dục học
Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học” đã nhấn mạnh
những phẩm chất quan trọng của hoạt động nhận thức tự giác, tính tích cực,
tính độc lập và tác dụng của chúng đối với kết quả học tập của HS. Các tác giả
còn chỉ ra rằng “kiểm tra và đánh giá tri thức, rèn luyện kỹ năng và kỹ xảo của
học sinh là một khâu quan trọng của quá trình dạy học...” [61; tr.258].
Thái Duy Tuyên trong các tác phẩm của mình như: “Những vấn đề cơ
bản của giáo dục hiện đại”, “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới”,
(2008), đã tập trung nghiên cứu các phương pháp dạy học hiện đại được sử
dụng rộng rãi trên thế giới như dạy học nêu vấn đề, dạy học tương tác, dạy
học theo thuyết kiến tạo... qua đó rèn cho HS kỹ năng nhận thức tích cực để
thức, kỹ năng thực hành của HS được tăng lên rõ rệt: “học sinh được đặt vào
tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm
thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm
được kiến thức kỹ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức,
kỹ năng đó và phát huy tiềm năng sáng tạo” [32; tr.15].
Ngoài ra, vấn đề kỹ năng, nhận thức tích cực còn được bàn đến nhiều
trong các bài viết ở các báo và tạp chí chuyên ngành như: “Hình thành kỹ
năng cho học sinh trong dạy học lịch sử cấp II” của tác giả Nguyễn Cao Lũy
đăng trên Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 10/1986; Phạm Văn Đồng trong
bài: “Một phương pháp cực kỳ quý báu” đăng trên báo Nhân dân ngày
18/11/1994 viết: PPDH mà các đồng chí nêu ra, nói gọn lại là lấy người học
làm trung tâm. Người ta phải đặt ra những câu hỏi, đưa ra câu chuyện có tính
hấp dẫn, khêu gợi, đòi hỏi người nghe, người học, dẫu là người suy nghĩ kém
cỏi cũng phải chịu khó suy nghĩ, tìm tòi... PPDH tích cực này có khả năng
phát triển được những năng lực đang ngủ yên ở mỗi con người...
Tác giả Trần Quốc Tuấn với “Bài tập lịch sử trong việc tích cực hóa
hoạt động nhận thức của học sinh” – Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 2/1998;
tác giả Nguyễn Mạnh Hưởng với bài viết “Một số vấn đề về đổi mới phương
pháp dạy học môn lịch sử ở trường phổ thông hiện nay” đăng trên Tạp chí
9
Đề tài: Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở
trƣờng trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 –
chƣơng trình chuẩn)
Dạy và học ngày nay – số 5/2012; bài “Đặc trưng của việc rèn luyện kỹ năng
nghiệp vụ sư phạm trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông” đăng trên tạp
chí Giáo dục số 304 (2/2012) ... Đây chính là những gợi mở quan trọng để
chƣơng trình chuẩn)
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Việc rèn luyện kỹ năng nhận thức
tích cực cho HS trong dạy học lịch sử ở trường THPT và vận dụng vào việc
dạy học lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chương trình chuẩn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu và đề xuất những biện pháp sư phạm nhằm
rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho HS trong DHLS ở trường THPT và
vận dụng vào quá trình học tập lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chương
trình chuẩn.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của kỹ năng nhận thức tích cực
đối với sự phát triển toàn diện của HS, chúng tôi đề xuất một số biện pháp
nhằm rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho HS trong suốt quá trình dạy
học lịch sử, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng yêu cầu của bộ
môn và của chương trình giáo dục.
4.2. Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ cụ thể:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về nhận thức tích cực, kỹ năng nhận thức tích
cực cho HS trong DHLS.
- Tìm hiểu chương trình SGK, nội dung phần lịch sử Việt Nam từ 1945
đến 1954 trường THPT – chương trình chuẩn
- Xác định yêu cầu và nội dung các kỹ năng nhận thức tích cực của học
sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT.
- Đề xuất các biện pháp nhằm rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho
học sinh trong dạy học lịch sử.
11
- Đề xuất được các biện pháp nhằm rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực
cho HS trong DHLS ở trường THPT.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú thêm lý luận về
12
Đề tài: Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở
trƣờng trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 –
chƣơng trình chuẩn)
kỹ năng nhận thức tích cực của HS trong dạy học lịch sử.
- Đề xuất được nội dung và biện pháp rèn luyện kỹ năng nhận thức tích
cực cho HS trong DHLS ở trường THPT.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đối với GV: có thể vận dụng các biện pháp sư phạm nhằm rèn luyện kỹ
năng nhận thức tích cực cho HS trong quá trình học tập một cách toàn diện,
nâng cao hiệu quả DHLS ở trường THPT.
- Đối với HS: góp phần tạo hứng thú học tập, phát huy tính tích cực của
HS, có thêm mục đích phấn đấu trong học tập.
- Đối với bộ môn Lịch sử: đóng góp một cách nhìn nhận mới về bộ môn
lịch sử trước thực trạng học tập lịch sử hiện nay. Đồng thời đề xuất một số
biện pháp nhằm rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho HS.
8. Giả thuyết khoa học
Trong DHLS ở trường phổ thông, nếu vận dụng các biện pháp sư phạm
nhằm rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực theo những yêu cầu mà đề tài đưa
ra sẽ góp phần nâng cao chất lượng DHLS, giúp HS nhận thức đúng về bộ
môn, từ đó tạo hứng thú và say mê học tập lịch sử cho các em.
tái tạo thực tiễn vào trong tư duy con người. Điểm xuất phát đầu tiên của nhận
thức là cảm giác, cảm giác được lặp lại tạo thành tri giác. Các sự vật, hiện
tượng đã được tri giác trước đó nay dù không hiện diện trước mặt nhưng vẫn
có thể hình dung thấy, vẫn được tái hiện dưới dạng biểu tượng. [62; tr.432]
Một cách chung nhất, theo chúng tôi:
Nhận thức là quá trình tiếp thu và xử lý thông tin vào trong tư duy con
người nhằm phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng xung quanh giúp chúng ta
nắm được đặc tính, bản chất của chúng.
Nhận thức tích cực
Theo tâm lí học: tính tích cực của HS có mặt tự phát và mặt tự giác:
Mặt tự phát: là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò,
hiếu kì, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà trẻ đều có ở những
mức độ khác nhau.
Mặt tự giác: là trạng thái tâm lí có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có
hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó. Tính tích cực tự giác thể hiện ở óc
quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học.
14
Đề tài: Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở
trƣờng trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 –
chƣơng trình chuẩn)
Nhận thức tích cực còn biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với
đối tượng trong quá trình học tập, nghiên cứu; thể hiện sự nỗ lực của hoạt
động trí tuệ, sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí (như hứng thú,
chú ý, ý chí...) nhằm đạt được mục đích đặt ra với mức độ cao.
Từ những quan điểm trên, theo chúng tôi hiểu:
Nhận thức tích cực là quá trình nhận thức chủ động, tự giác của chủ
thể, nhằm chiếm lĩnh đối tượng nhận thức bằng sự nỗ lực cao của hoạt
tượng, từ ở mức độ thấp trong phạm vi bản chất một sự kiện, của một giai
đoạn lịch sử cụ thể, đến bản chất của một thời đại, một thời kỳ lịch sử, cũng
như cả quá trình phát triển của lịch sử nhân loại.
Ba là, nhận thức bản chất của sự kiện, của quá trình lịch sử - mặc dù rất
quan trọng – nhưng chưa phải là mục tiêu cuối cùng của nhận thức lịch sử nói
chung và hoạt động DHLS nói riêng. Vấn đề ở chỗ, phải khai thác được giá trị
của sự kiện lịch sử cho việc giáo dục thế giới quan và nhân sinh quan của HS,
là vận dụng việc hiểu biết quá khứ vào thực tiễn cuộc sống. Đó là một nguyên
tắc rất cơ bản của hoạt động dạy học [33].
Từ những nội dung trên đây, theo chúng tôi, có thể hiểu khái quát:
Nhận thức tích cực trong học tập lịch sử là quá trình nhận thức chủ
động, tự giác của người học, nhằm chiếm lĩnh tri thức lịch sử bằng sự nỗ lực
cao của hoạt động trí tuệ và tự huy động tối ưu các chức năng tâm lý dựa trên
nền tảng của hứng thú và khát vọng sáng tạo, phù hợp với đặc trưng, bản
chất của tri thức lịch sử và vận dụng sáng tạo tri thức đó vào cuộc sống.
1.1.1.2 Kỹ năng nhận thức tích cực và kỹ năng nhận thức tích cực trong
học tập lịch sử
Để hiểu được thế nào là kỹ năng nhận thức tích cực trong DHLS chúng
ta cần làm rõ khái niệm kỹ năng và kỹ năng nhận thức.
Kỹ năng
Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: kỹ năng là khả năng vận dụng những
kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế [64; tr.520]
Từ điển Tâm lý học: kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri
thức về phương thức hoạt động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những
nhiệm vụ tương ứng [18; tr.421].
16
Đề tài: Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở
17
Đề tài: Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở
trƣờng trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 –
chƣơng trình chuẩn)
năng nhận thức tích cực nói chung trong nhận thức LS. Đó là sự thể hiện của
hệ thống các kỹ năng nhận thức nhằm phản ánh trung thực sự kiện LS thông
qua hệ thống các thao tác tư duy nhưng với tính chủ động, tự giác cao.
Có thể thấy, gốc của kỹ năng nhận thức tích cực trong dạy học nói chung
và trong DHLS nói riêng là “tính có vấn đề”. Chính “tính có vấn đề” đó thôi
thúc con người ta phải nhận thức được sự kiện, hiện tượng lịch sử để hiểu bản
chất, từ đó có biểu tượng lịch sử cụ thể, chân thực. Đó còn là nhu cầu luôn
mong muốn tìm kiếm cái mới (thể hiện sự gắn bó chặt chẽ giữa nhận thức
cảm tính và nhận thức lý tính). Khi HS có kỹ năng nhận thức tích cực trong
học tập lịch sử thì nhận thức sẽ mang tính khoa học, liên tục và đạt được nhận
thức hoàn chỉnh các sự kiện, để từ đó nêu quy luật (nếu có) và rút ra bài học,
vận dụng sắc bén vào thực tiễn cuộc sống.
Từ cơ sở lý luận trên, chúng tôi hiểu:
“Kỹ năng nhận thức tích cực trong học tập lịch sử là khả năng HS tiếp
thu và xử lý kiến thức lịch sử một cách hứng thú, chủ động và tích cực thông
qua hệ thống của các thao tác tư duy thuần thục nhằm giúp các em có khả
năng vừa nhận thức hiệu quả kiến thức đã học, vừa vận dụng sáng tạo kiến
thức vào cuộc sống”.
1.1.2 Cơ sở xuất phát điểm của vấn đề nghiên cứu
1.1.2.1 Xuất phát từ mục tiêu và đặc trưng của bộ môn lịch sử
Mục tiêu của bộ môn lịch sử
Mục tiêu của bộ môn LS ở trường THPT được xây dựng dựa trên cơ sở
lí luận và thực tiễn. Nó thể hiện thông qua chức năng, nhiệm vụ, đặc trưng nội
Việc nắm vững các đặc trưng của môn LS ở trường phổ thông cũng là
căn cứ để đề xuất các biện pháp nhằm rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực
cho HS. Những đặc trưng của bộ môn LS là:
Một là, LS mang tính quá khứ. Nói đến LS là nói đến những gì đã qua
trong quá khứ (các sự kiện, hiện tượng, biến cố lịch sử), chỉ xảy ra một lần
duy nhất và không bao giờ lặp lại. Chúng ta không thể trực tiếp quan sát và
cũng không thể khôi phục lại được diễn biến của nó trong phòng thí nghiệm
mà phải tiếp nhận lịch sử một cách gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu
giữ lại.
19
Đề tài: Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở
trƣờng trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 –
chƣơng trình chuẩn)
Hai là, LS mang tính không lặp lại về không gian và thời gian. Mỗi sự
kiện, hiện tượng LS chỉ xảy ra trong một thời gian, không gian xác định và
chỉ xảy ra một lần duy nhất, nếu lặp lại chỉ là sự kế thừa “lặp lại trên cơ sở
không lặp lại”.
Ba là, LS mang tính cụ thể. Mỗi sự kiện LS bao giờ cũng diễn ra trong
một hoàn cảnh cụ thể về không gian, thời gian nhất định, nên khi trình bày
chúng ta rất cần phải cụ thể, sinh động. Vì thế, khi DHLS, GV phải giúp HS
hiểu được các yếu tố đó đã chi phối, ảnh hưởng như thế nào đối với các sự
kiện liên quan đã xảy ra.
Bốn là, khoa học LS mang tính hệ thống. Sự vận động của hiện thực LS
luôn là quá trình phát triển hợp quy luật. Do vậy, khi DHLS giáo viên phải
chú ý đến mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng, các vấn đề LS để cung cấp
cho HS những tri thức LS mang tính hệ thống và hoàn chỉnh, đảm bảo sự
thống nhất giữa “sử” và “luận”.
Theo số liệu thống kê của Bộ GDĐT, trong mùa tuyển sinh ĐH, CĐ năm
2013, thí sinh thi vào khối C giảm mạnh, từ 4% trên tổng số hồ sơ của các
khối năm 2012 xuống còn 2,6% năm 2013. Cụ thể: năm 2013, hồ sơ tuyển
sinh khối C ở TPHCM chỉ có 2.639/148.290 số hồ sơ dự thi; Đồng Tháp
có 778/21.902 tổng số hồ sơ; ĐH Sư phạm Hà Nội năm 2013 chỉ có 3.306 bộ,
giảm so với năm 2012 là 4.042 bộ 3. Đặc biệt vào tháng 4/2014 học sinh khối
12 của trường THPT Nguyễn Hiền (TP.HCM) xé đề cương ôn luyện môn
Lịch sử khi biết môn này không thi tốt nghiệp và trường Lương Thế Vinh (Hà
Nội): 0% học sinh chọn môn Sử thi tốt nghiệp. Đó là thực trạng đáng buồn,
tiếng chuông báo động đối với giáo dục Việt Nam nói chung và với bản thân
mỗi GV dạy học lịch sử nói riêng.
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên. Từ việc nhận thức chưa
đúng về vai trò, chức năng của bộ môn LS trong hệ thống các môn học ở
trường phổ thông; từ chương trình và SGK; từ đặc trưng riêng của bộ môn LS
mà lâu nay phương pháp dạy học vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu
riêng khi giảng dạy; một bộ phận đội ngũ GV chưa tâm huyết với nghề... Đó
là những tác nhân dẫn tới thực trạng đáng báo động nêu trên, kết quả thấp là
điều khó tránh khỏi.
3
http://baodientu.chinhphu.vn
21
Đề tài: Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở
trƣờng trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 –
chƣơng trình chuẩn)
Đề tài: Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở
trƣờng trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 –
chƣơng trình chuẩn)
những yếu tố đó, hướng dẫn các em tự giác học tập. Đó là việc GV khơi gợi
được hứng thú học tập, từ đó HS sẽ chủ động lĩnh hội kiến thức.
Hiểu được trình độ tư duy và đặc điểm tâm lý lứa tuổi với những nét đặc
thù sẽ là điều kiện quan trọng để GV có những phương pháp thích hợp giúp nâng
cao hiệu quả bài học LS. Trong đó, việc rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực
phù với khả năng nhận thức và tâm lí của HS sẽ gây được chú ý, sự thích thú ban
đầu tạo động lực cho các em nỗ lực làm việc trong suốt quá trình học tập LS.
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực
cho học sinh trong DHLS ở trường THPT
Mỗi con người đều có một sở trường nào đó, có thể nó đang “ngủ yên”
chưa được phát huy, chưa được rèn luyện. Việc hình thành và thường xuyên
rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho HS sẽ “khêu gợi, kích thích, đòi hỏi
con người phải suy nghĩ, tìm tòi và phát huy đến mức cao nhất, moi móc
trong con người cái gì có thể giải quyết vấn đề đặt ra” [26; tr.5]. Vì vậy,
chúng tôi khẳng định việc rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực có vai trò và
ý nghĩa to lớn.
1.1.3.1 Vai trò
Thứ nhất, đối với GV: kiến thức của bộ môn LS ở trường phổ thông mà
GV phải dạy, HS phải học rất phong phú và đa dạng. Để giúp HS lĩnh hội tốt
những kiến thức cơ bản, có những kỹ năng cần thiết để giải quyết bài tập
đồng thời mở rộng hiểu biết của các em, GV phải giải quyết tốt mối quan hệ
giữa nội dung bài học và phương pháp thực hiện. Vì vậy, thông qua việc rèn
luyện kỹ năng nhận thức tích cực giúp cho GV không ngừng nâng cao trình
độ lý luận dạy học bộ môn, từ đó góp phần đổi mới phương pháp dạy học.
Thứ hai, đối với HS: với việc nhận thức tích cực, HS vừa được rèn luyện kỹ
anh bị tách rời ra khỏi hệ thống tín hiệu thứ nhất thì anh sẽ thành chàng nói
suông, ba hoa và anh sẽ chẳng tìm thấy chỗ đứng cho mình trong cuộc sống”
[1; tr.138].
Như vậy, trước hết rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực có ý nghĩa quan
trọng trong việc hình thành kiến thức LS cho HS
Chất lượng DHLS ở trường phổ thông qua việc rèn kỹ năng nhận thức
tích cực cho HS phải được kiểm chứng thông qua kết quả HS nắm vững kiến
24