skkn KINH NGHIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG dạy học LỊCH sử 8 - Pdf 37

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THCS & THPT HUỲNH VĂN NGHỆ
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG NHÓM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ 8

Người thực hiện: HÀ THỊ HUỆ
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục



- Phương pháp dạy học bộ môn:



- Lĩnh vực khác: Lịch sử 8

Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình
Phần mềm
Phim ảnh
Hiện vật khác
Năm học: 2011-2012

1




I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
- Để nâng cao chất lượng giảng dạy môn lịch sử, việc đổi mới phương pháp giảng dạy
và bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho giáo viên là điều rất cần thiết. Nhưng trong
thực tế, không ít giáo viên chưa chú trọng lắm việc tích hợp các phương pháp trong
quá trình giảng dạy nên chất lượng bộ môn chưa cao.
- Lâu nay có một thực tế đáng buồn là tâm lí xem nhẹ bộ môn tồn tại trong không ít
người, nhất là ở học sinh, thường cho lịch sử là môn học bài, không quan trọng như
những môn khác, chỉ cần học thuộc bài là được cho nên lơ là trong việc học tập bộ
môn, dẫn đến chất lượng bộ môn lịch sử ngày càng thấp ở tất cả các cuộc thi ở các
cấp học. Tình trạng học sinh học sử nhưng mù sử ngày càng phổ biến, hoặc biết
nhưng mơ hồ, nhầm lẫn kiến thức lịch sử cũng không phải là hiếm.
- Việc dạy và học lịch sử trong trường Trung học cơ sở có nhiệm vụ vô cùng quan
trọng cho việc giáo dục con người, từ những kiến thức lịch sử, học sinh hiểu biết quá
khứ, hiểu biết cội nguồn lịch sử, truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc.
Bên cạnh đó là truyền thống xây dựng đất nước.
- Để giáo dục học sinh trở thành con người phát triển một cách toàn diện, trong đó có
sự hiểu biết một cách đúng đắn về lịch sử, ngoài nổ lực tự học của học sinh thì vai trò
của người thầy là vô cùng quan trọng.
- Học theo nhóm là một trong những phương pháp học tập có hiệu quả trong công
việc tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trung học.
- Khi học theo nhóm hoc sinh sẽ được thảo luận theo từng vấn đề của bài học. Đó là
cơ hội cho mọi học sinh tham gia hoạt động học tập. Học theo nhóm cũng là cơ hội
cho học sinh học hỏi lẫn nhau, hỗ trợ nhau về cách tìm kiếm những giải pháp để giải
quyết những tình huống trong bài học. Khi học theo nhóm, học sinh có thể cùng nhau
đạt được những điều mà các em không làm được một mình mà phải giải bằng cách là
mọi người trong nhóm đóng góp một phần hiểu biết của mình rồi cả nhóm tập hợp
thành một cách giải quyết tốt nhất nhiệm vụ nhận thức mà giáo viên giao cho. Qua đó
tính tích cực, chủ động của học sinh được phát huy đến cao độ.
-Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy hiện nay, phương pháp học theo nhóm vẫn còn

- Phần lớn các tiết có tổ chức thảo luận nhóm đều vượt quá thời gian một tiết dạy
(cháy giáo án), hoặc để đảm bảo thời gian thì giáo viên cắt xén thời gian của các
phần, các khâu khác dẫn đến phân phối thời gian trong tiết dạy không hợp lí.
- Thực hiện không đầy đủ các bước quy trình thảo luận nhóm như chỉ nêu câu hỏi cho
học sinh thảo luận rồi cho các nhóm báo cáo. Sau đó giáo viên nhận xét đúng, sai, đầy
đủ hay chưa đầy đủ nội dung của các nhóm và chuẩn xác kiến thức rồi ghi bảng cho
học sinh ghi theo. Làm như vậy sẽ thiếu một bước quan trọng là cho học sinh trong
nhóm hoặc các nhóm khác nhận xét, bổ sung làm rõ vấn đề. Vì thế mỗi nhóm chỉ
quan tâm đến câu hỏi của nhóm mình mà không cần biết đến câu hỏi của nhóm khác
dẫn đến kết quả là học sinh nhận thức không đầy đủ nội dung bài học.
- Một số giáo viên lại có quan niệm là tổ chức bao nhiêu nhóm thì phải đưa ra bấy
nhiêu câu hỏi nên khi tổ chức 6 nhóm thì đưa ra 6 câu hỏi thảo luận. Khi các nhóm
thảo luận và lần lượt báo cáo xong 6 câu trả lời, tiếp đến học sinh các nhóm nhận xét,
bổ sung chéo lẫn nhau và cuối cùng giáo viên nhận xét, chuẩn xác xong 6 đơn vị kiến
thức thì cũng sắp hết thời gian tiết học. Phần thảo luận nhóm kéo quá dài như vậy sẽ
gây nên tâm lí nhàm chán trong học sinh, làm cho tiết học lẽ ra sinh động nhưng lại
trở nên buồn tẻ.
- Có giáo viên muốn rút ngắn thời gian thảo luận nhóm để đảm bảo thời gian tiết dạy
bằng cách đưa ra những câu hỏi rất đơn giản ở dạng “câu hỏi đóng” (dạng đúng, sai,
có, không ) hoặc nhìn vào sách giáo khoa hay nhìn ảnh là đã biết được nội dung trả
lời, làm cho hoạt động thảo luận trở nên tẻ nhạt, mang tính hình thức. Học sinh trong
nhóm không cần đóng góp ý kiến, chỉ cần một mình thư ký hoặc nhóm trưởng mở

4


sách giáo khoa, ghi lại nội dung trả lời là xong, không cần phải xin ý kiến các bạn
trong nhóm.
- Chưa có hình thức biện pháp kích thích những học sinh lười biếng hoặc học sinh yếu
tham gia thảo luận. Vì vậy trong nhóm chỉ có một số ít học sinh hoạt động.

nhất là viết sẵn trong bảng phụ. Những câu hỏi cần phải tham khảo nhiều tài liệu mới
trả lời được thì giáo viên nên phổ biến ở cuối tiết trước (trong phần hướng dẫn học ở
nhà) và giới thiệu tên tài liệu tham khảo. Cần lưu ý là mức độ và dung lượng kiến
thức trong mỗi câu hỏi phải tương đối đồng đều với nhau, tránh trường hợp giao cho
nhóm này câu hỏi quá dễ trong khi nhóm kia lại câu hỏi quá khó.
c. Cách xếp nhóm:
- Vấn đề cần đặt ra là xếp bao nhiêu học sinh vào một nhóm là vừa ?

5


- Cần phải suy nghĩ cẩn thận khi chia học sinh thành nhóm. Nếu chia nhóm không
hợp lí thì hoạt động nhóm sẽ thất bại ngay từ đầu vì giáo viên bị mất khả năng kiểm
soát lớp.
- Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy xếp từ 6 đến 8 học sinh vào một nhóm là hợp lí, có
hiệu quả nhất và nhanh nhất vì khi giáo viên yêu cầu thảo luận nhóm thì từng cặp bàn
(loại bàn 4 chỗ ngồi tương ứng với một nhóm 8 học sinh) quay lại với nhau là xong, ít
tốn thời gian di chuyển và không gây mất trật tự. Mặt khác nhóm có ít học sinh thì
càng có ít học sinh “ăn theo”, nên mỗi học sinh đều phải hoạt động, không có học
sinh đứng xớ rớ bên ngoài và có ít học sinh thì sự thống nhất ý kiến càng nhanh, đỡ
tốn thời gian.
- Số lượng nhóm ít nhất phải gấp đôi số lượng câu hỏi thảo luận. Nghĩa là một câu hỏi
thì phải có ít nhất hai nhóm cùng thảo luận câu hỏi đó thì mới thực hiện được khâu
quan trọng tiếp theo là nhận xét đánh giá lẫn nhau giữa các nhóm. Nhóm này có ý
kiến thảo luận khác nhóm bạn, hoặc tìm ra đáp án hợp lí hơn nhóm bạn thì hoạt động
thảo luận mới sôi nổi.
d. Các bước thực hiện khi tiến hành thào luận nhóm:
- Cử nhóm trưởng điều khiển hoạt động thảo luận và thư kí ghi những ý kiến của các
thành viên trong nhóm.
- Phổ biến rõ các câu hỏi thảo luận cho từng nhóm đã được chuẩn bị sẵn trong bảng

giáo viên không nên đưa ra câu hỏi chất vấn hoặc nhận xét đúng, sai ngay lập tức sẽ
làm cho học sinh lúng túng, mà phải để ngỏ cho cả lớp cùng nhận xét.
- Nếu bài dài, để tiết kiệm thời gian, mỗi câu hỏi thảo luận giáo viên chỉ yêu cầu một
vài nhóm trình bày (nếu các nhóm cùng thảo luận một câu hỏi), các nhóm không được
yêu cầu trình bày kết quả thì có nhiệm vụ nhận xét, bổ sung phần trình bày của nhóm
bạn nhằm đảm bảo tất cả có cơ hội đóng góp ý kiến trong tiết học, qua đó giáo viên
cũng đánh giá được kết quả làm việc của các nhóm. Khi học sinh các nhóm khác nhận
xét, bổ sung, giáo viên phải lắng nghe cẩn thận và ghi tóm tắt lên bảng những điểm cơ
bản của mỗi ý kiến phát biểu để phát hiện những mâu thuẫn giũa các ý kiến, nếu có ý
kiến khác nhau thì kịp thời nêu vấn đề cho học sinh giải quyết, tuy nhiên không nên
để cuộc thảo luận đi sai mục đích ban đầu vì một vấn đề quá nhỏ.
- Khi các nhóm không còn ý kiến bổ sung, giáo viên nên dành đủ một khoảng thời
gian thích đáng trong giờ giảng để nhận xét các ý kiến của học sinh và thực hiện một
quá trình phản hồi đầy đủ và hoàn chỉnh các thông tin mà học sinh cần ghi nhớ, giáo
viên nên chuẩn bị sẵn trong bảng phụ hoặc phim trong, sau đó đặt câu hỏi kiểm tra
một số em, xem các em đã nắm được vấn đề hay chưa. Cuối cùng, giáo viên cũng nên
khuyến khích, động viên học sinh tiếp tục tham gia phát biểu trong những lần sau
bằng cách tỏ thái độ hài lòng, thích thú, khen gợi kịp thời những câu trả lời của học
sinh, hoặc cho điểm những học sinh xuất sắc.
e. Biện pháp khuyến khích mọi thành viên trong nhóm tham gia thảo luận
- Trong các tài liệu hướng dẫn yêu cầu giáo viên cho mỗi nhóm tự bầu nhóm trưởng,
thư ký. Tuy nhiên qua thực tế áp dụng tôi thấy không hiệu quả bằng việc giáo viên chỉ
định và bồi dưỡng lần lượt từng học sinh trong nhóm luân phiên theo thứ tự làm nhóm
trưởng hoặc thư ký. Làm như vậy để mỗi học sinh đều có khả năng hướng dẫn thảo
luận trong nhóm mình. Kinh nghiệm này theo tôi là có thể chấp nhận được vì nó giúp
cho mọi học sinh đều có điều kiện để bồi dưỡng cho mình năng lực tổ chức, điều
khiển hoạt động học tập và nâng cao hứng thú tìm tòi, nghiên cứu, tránh được thói
quen cả nhóm chỉ trông chờ, ỷ lại vào một vài thành viên nổi trội trong nhóm mình.
- Đối với những lớp chưa có phong trào và thói quen học tập tốt, giáo viên cũng
không nên để cho nhóm tự cử đại diện báo cáo kết quả thảo luận mà giáo viên chỉ

Hình 18: Lược đồ nước Anh nửa đầu TK XIX

8


PHIẾU HỌC TẬP
Nội dung
- Số trung tâm sản xuất
thủ công.
- Số thành phố trên 50
000 dân.
- Hệ thống giao thông
vận tải:

Nước Anh giữa TK XVIII
…………………………..
…………………………
…………………………
…………………………
…………………………
…………………………

Nước Anh giữa TK XIX
………………………
………………………
………………………
………………………

…………………………
…………………………

? Vậy cách mạng công nghiệp đã làm thay đổi bộ mặt nước Anh như thế nào?
+ Học sinh trả lời được câu hỏi này xem như các em đã nắm được kiến thức của phần
này, thảo luận đạt kết quả.
Ví dụ 2: Bài 8 (Sử 8): Sự phát tiển của khoa học kỹ thuật, văn học và nghệ thuật
thế kỷ XVIII – XIX
9


- Khi thiết kế bài này tôi cho học sinh thảo luận ở mục 2: Những tiến bộ về khoa học
tự nhiên và khoa học xã hội
- Ở mục này cần phải đạt được hai mục tiêu :
- Kiến thức: Học sinh trình bày được những thành tựu về khoa học tự nhiên của thế kỷ
XVII- XIX, các nhà khoa học, phát minh của họ, ý nghĩa và tác dụng của những phát
minh đó trong cuộc sống xã hội loài người.
- Kĩ năng: Biết phân tích giữa mặt hạn chế và tích cực của các phát minh này
- Để đạt hai mục tiêu trên, tôi chọn phương pháp thảo luận theo nhóm.
- Ở bước chuẩn bị:
+ Tôi thiết kế hai phiếu học tập phục vụ cho hoạt động nhóm
Phiếu học tập số 1: Thiết kế dạng bảng tổng hợp để học sinh dựa vào trình bày các
phát minh, các nhà khoa học tương ứng, lĩnh vực…
Phiếu học tập số 2: Ý nghĩa và tác dụng của những phát minh đó trong cuộc sống xã
hội loài người.
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
Thời gian
Tên nhà bác học
Phát minh khoa học
Lĩnh vực
Đầu thế kỉ
Niu-tơn (Anh)
Thuyết vạn vật hấp dẫn

+ Giáo viên treo bảng phụ có phiếu học tập số 1 + số 2 và hướng dẫn học sinh thu
thập thông tin kênh chữ (mục 2) SGK điền vào các ô trống của phiếu học tập.
+ Giáo viên phân nhóm theo dự kiến, cử nhóm trưởng, thư kí.
+ Giáo viên giao nhiệm vụ cho từng nhóm (nhóm 2, 4, 6 làm phiếu học tập số 1,
nhóm 1,3,5 làm phiếu học tập số 2)
+ Yêu cầu các nhóm ngồi vào vị trí ( Từng cặp bàn quay lại với nhau )
+ Phát phiếu học tập, bút, quy định thời gian hoàn thành hoạt động
+ Giáo viên đi quan sát hoạt động của từng nhóm để uốn nắn kịp thời.
10


+ Nhắc sắp hết thời gian.
- Kết thúc hoạt đông:
+ Giáo viên gọi học sinh quay về vị trí ban đầu.
+ Gọi các nhóm treo kết quả thảo luận của nhóm mình (nếu các nhóm cùng thảo luân
một nội dung thì giáo viên chỉ cần treo 2 tới 3 kết quả thôi)
+ Giáo viên gọi học sinh nhóm làm phiếu học tập số 1 lên báo cáo kết quả thảo luận
của nhóm mình cho cả lớp nghe.
+ Nhóm khác có ý kiến bổ sung, nhận xét (hoặc ngược lại).
+ Giáo viên yêu cầu cả lớp bổ sung nếu thấy chưa đủ. Các ý kiến bổ sung giáo viên
ghi tóm tắt nhanh lên bảng.
+ Đến đây học sinh mới dừng lại ở mức độ nhận biết và thu nhập các thông tin từ sách
giáo khoa mà chưa hiểu rõ vấn đề:
? Trong các phát minh trên phát minh nào có ý nghĩa quan trọng nhất. Vì sao ?
+ Giáo viên treo nội dung chuẩn xác về kết quả thảo luận của phiếu học tập số 1 khen
gợi những ý kiến bổ sung đúng.
+ Để rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức, giáo viên tiếp tục nhận xét phiếu học tập
số 2.
+ Các nhóm trình bày xong và học sinh không còn ý kiến, giáo viên treo kết quả hoàn
chỉnh và đối chiếu lại với kết quả thảo luận của từng nhóm để nhận xét.

1825-1850
400.000
1850-1875
5.000.000
1875-1900
15.000.000

11


PHIẾU HỌC TẬP:
Nhận xét:……………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………..
Hậu quả: ……………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………..
+ Phương thức thực hiện: Giáo viên cho học sinh quan sát bảng số liệu trong sách
giáo khoa, câu hỏi viết trên bảng phụ hoặc đưa cả câu hỏi và bảng số liệu đưa lên máy
vi tính cho học sinh quan sát.
+ Dự kiến thời gian thích hợp cho hoạt động nhóm: 3 phút
+ Chuẩn bị phương tiện thực hiện gồm: bảng phụ, phiếu học tập, bút dạ
+ Tổ chức nhóm: Tôi chia 6 nhóm, mỗi nhóm 2 bàn
- Tiến hành hoạt động:
+ Giáo viên hướng dẫn và yêu cầu học sinh tiến hành thảo luận theo từng bước tương
tự như ví dụ trên
- Kết thúc hoạt đông:
+ Giáo viên gọi học sinh quay về vị trí ban đầu.
+ Gọi các nhóm treo kết quả thảo luận của nhóm mình.
+ Giáo viên gọi học sinh nhóm này nhận xét bài làm của nhóm bạn cho cả lớp nghe
+ Nhóm khác có ý kiến bổ sung, nhận xét (hoặc ngược lại).
+ Giáo viên yêu cầu cả lớp bổ sung nếu thấy chưa đủ. Các ý kiến bổ sung giáo viên

+ Giáo viên hướng dẫn và yêu cầu học sinh thảo luận theo từng bước tương tự như ví
dụ trên
- Kết thúc hoạt đông:
+ Giáo viên cũng làm tương tự như các ví dụ ở trên
+ Cuối cùng giáo viên treo kết quả hoàn chỉnh và đối chiếu lại với kết quả thảo luận
của từng nhóm để nhận xét, khen gợi những ý kiến bổ sung đúng.
Ví dụ 5: Bài 18: Nước Mỹ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới
- Đối với bài này tôi cho học sinh thảo luận ở mục 2: Nước Mỹ giữa những năm
1929-1939.
- Ở mục này cần phải đạt được hai mục tiêu:
- Kiến thức: Tác dụng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) và chính
sách mới nhằm đưa nước Mỹ thoát khỏi khủng hoảng.
- Kĩ năng: Học sinh có khả năng tư duy, so sánh, miêu tả tranh ảnh
- Để đạt hai mục tiêu trên, tôi chọn phương pháp thảo luận theo nhóm.
- Ở bước chuẩn bị :
+ Trước tiên giáo viên và học sinh tìm hiểu về tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế
thế giới tới nền kinh tế của Mỹ, sau đó đặt câu hỏi:
? Để thoát khỏi cuộc khủng hoảng này giới cầm quyền Mỹ đã làm gì?
? Em hãy khái quát nội dung chính của chính sách mới này.
+ Tôi thiết kế hoạt động nhóm ở phần này bằng câu hỏi:
? Quan sát bức tranh: Nêu nhận xét của em về Chính sách mới của Ru-dơ-ven.

13


+
Phương
thức
thực
hiện: Giáo viên cho học sinh quan sát tranh trong sách giáo khoa, câu hỏi viết trên

? Tại sao nói cuộc khởi nghĩa Hương Khê là tiêu biểu nhất trong phong trào Cần
Vương?
PHIẾU HỌC TẬP:
Nội dung
Đặc điểm tiêu biểu
1. Lãnh đạo
2. Thành phần tham gia
3. Thời gian tồn tại
4. Quy mô
5. Tính chất ác liệt
6. Chiến công lập được
+ Phương thức thực hiện: Giáo viên viết câu hỏi trên bảng phụ hoặc đưa câu hỏi lên
máy vi tính.
+ Dự kiến thời gian thích hợp cho hoạt động nhóm: 5 phút
+ Chuẩn bị phương tiện thực hiện gồm: bảng phụ, phiếu học tập, bút dạ
+ Tổ chức nhóm: Tôi chia 6 nhóm, mỗi nhóm 2 bàn
- Tiến hành hoạt động:
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận theo từng bước như ví dụ trên
- Kết thúc hoạt đông:
+ Giáo viên gọi học sinh quay về vị trí ban đầu.
+ Gọi các nhóm treo kết quả thảo luận của nhóm mình.
+ Giáo viên làm từng bước tương tự như trên
+ Cuối cùng giáo viên sẽ treo kết quả chuẩn xác, khen gợi những ý kiến bổ sung
đúng.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
- Khi sử dụng phương pháp dạy học hợp tác nhóm nhỏ trong những ngày đầu thử
nghiệm , tôi rất lúng túng. Trong lớp học chỉ có khoảng một nửa số học sinh làm việc,
lớp chưa có thể gọi là thảo luận mà có thể coi là mất trật tự. Kết quả đạt được không
thoả mãn mục tiêu của bài.
- Khi đó tôi đã điều tra học sinh của 4 lớp 8/1, 8/2, 8/3, 8/4 Trường THCS & THPT

- Vận dụng phương pháp dạy học này đã làm cho lưu lượng thông tin trao đổi giữa
thầy - trò, giữa trò - trò được tăng cường nhiều hơn hẳn so với các phương pháp
truyền thống. Phương pháp dạy học này cùng với phương pháp đặt và giải quyết vấn
đề đang chiếm ưu thế trong dạy lịch sử hiện nay ở THCS, đòi hỏi học sinh làm nhiều
hơn, nghĩ nhiều hơn kéo theo giáo viên làm việc với cường độ cao hơn để dự kiến các
hoạt động trên lớp. Đổi lại hiệu quả giáo dục tăng lên nhiều so với trước.
Tuy nhiên, để tạo ra một hoạt động nhóm có kết quả như mong muốn là một việc
tương đối khó, việc này xuất phát từ lí do khách quan cũng có mà chủ quan cũng có.
Nhưng tôi nghĩ rằng ai cũng làm được với điều kiện là giáo viên phải yêu nghề, tâm
huyết với nghề thì mới dành nhiều thời gian đầu tư, suy nghĩ, lập kế hoạch cụ thể,
phải chu đáo và phải mạnh dạn thực hành.
VI. ĐỀ XUẤT VÀ KHUYẾN NGHỊ VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG:
1. Đề xuất:
Muốn nâng cao hiệu quả thảo luận nhóm, giáo viên phải dốc hết nhiệt tình, tâm
hồn cho nghề nghiệp, tìm ra những giải pháp tốt nhất, phù hợp với điều kiện thực tế
giảng dạy ở cơ sở, tạo ra cho học sinh có nề nếp, có thói quen làm việc theo nhóm.
Thầy tổ chức hoạt động tốt, trò học tốt, chắc chắn là hiệu quả của một hoạt động
thảo luận theo nhóm sẽ đạt được hiệu quả cao.
Hoạt động thảo luận nhóm được xem như là một phương pháp mới mà thời gian
thực hiện cũng chưa nhiều, do đó những gì mà tôi tích lũy được và trình bày trên đây
cũng là kinh nghiệm bước đầu, rất mong sự góp ý của đồng nghiệp.
2. Khuyến nghị:
- Giáo viên phải luôn cập nhật thông tin để bổ sung cho bài giảng.
17


- Thường xuyên dự giờ đồng nghiệp để học hỏi kinh nghiệm.
- Đề nghị nhà trường trang bị thêm đồ dùng dạy học (tranh ảnh, lược đồ, biểu đồ…)
để phục vụ cho công tác dạy học tốt hơn.
- Mua thêm các tài liệu tham khảo để bổ sung kiến thức mới

4. Tài liệu giảm tải chương trình lịch sử 8 – Bộ giáo dục và đào tạo
3. Tài liệu bồi dưỡng lịch sử - Nhà xuất bản giáo dục Đồng Nai
Các trang web:
http://thuvientructuyenviolet.vn
http://tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki

19


MỤC LỤC
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.…………………………………………………………..3
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI …….………………………………………..4
1.



sở



luận

.4
2. Nội dung và biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
.5
III.

HIỆU

QUẢ


Đề

xuất

Khuyến

nghị

17
2.
17
3. Phạm vi áp dụng …………………………………………………………………. 17
V.

TÀI

LIỆU

THAM

18

20

KHẢO


21



Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có



2. Hiệu quả:
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
trong toàn ngành có hiệu quả cao

- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao



- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại
đơn vị có hiệu quả
3. Khả năng áp dụng:
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Tốt 
Khá 
Đạt 
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ
đi vào cuộc sống:
Tốt 
Khá 
Đạt 
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả
trong phạm vi rộng:
Tốt 
Khá 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status