SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN
Số:..........................
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Giảng dạy nội dung khó trong tin học 11
bằng phương pháp đặt và giải quyết vấn đề
Người thực hiện: Trịnh Văn Thịnh
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Tin Học 11
- Lĩnh vực khác: .................................................
Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
Mô hình
Phần mềm
Phim ảnh
Hiện vật khác
Năm học: 2014 – 2015
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
chương trình môn học bắt buộc của khối THPT. Tuy nhiên từ khi có vai trò là một
môn học bắt buộc đến nay thì môn tin học vẫn được xem là một môn phụ, điều
này đã dẫn tới việc nhà trường chưa chú trọng, giáo viên chưa đam mê đầu tư
nghiên cứu, học sinh thì chưa coi trọng môn học.
Do đó người thầy cần phải tìm ra phương pháp dạy học tích cực hơn để
tăng hiệu quả dạy và học. Dạy học sinh cách chủ động, phương pháp học, cách
học những điều mà thực tế đòi hỏi thay vì chuyển tải một lượng kiến thức quá
nhiều đến mức học sinh không thể nhớ nổi hoặc có nhớ lúc học, còn lúc cần vận
dụng thì quên hết.
Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy tại trường THPT NGÔ SĨ LIÊN tôi thấy
rằng, để đạt hiệu quả cao trong mỗi phần học, tiết học cần có cách thiết kế bài
giảng cho phù hợp với nội dung kiến thức; phương pháp, phương tiện dạy học phải
phù hợp với từng đối tượng học sinh. Để qua mỗi phần học, tiết học học sinh thích
thú với kiến thức mới, qua đó hiểu được kiến thức đã học trên lớp, đồng thời học
sinh thấy được tầm quan trọng của vấn đề và việc ứng dụng của kiến thức trước hết
để đáp ứng những yêu cầu của môn học, sau đó là việc ứng dụng của nó vào các
công việc thực tiễn trong đời sống xã hội (nếu có).
Ở một khía cạnh khác, trong chương trình tin học lớp 11, ngoài những nội
dung đã được Bộ GD&ĐT đưa vào phần nội dung giảm tải. Vẫn còn một số nội
dung mà những học sinh mới được tiếp xúc với môn học Pascal cảm thấy khó tiếp
thu, khó hiểu và không làm được các bài tập áp dụng.
Dựa trên các giải pháp từ sáng kiến của bản thân năm học 2013 – 2014
"PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MỘT SỐ NỘI DUNG KHÓ TRONG
CHƯƠNG TRÌNH TIN HỌC 11", đã được hội đồng khoa học của sở Giáo dục
và Đào tạo đánh giá xếp loại. Tôi đã phát triển theo hướng khắc phục một số hạn
chế và hướng mở rộng đã nêu ở đề tài trước để tìm ra một giải pháp mới cụ thể
hơn, áp dụng trong quá trình giảng dạy đạt hiệu quả hơn. Đó chính là các giải pháp
trong đề tài “GIẢNG DẠY NỘI DUNG KHÓ TRONG TIN HỌC 11 BẰNG
PHƯƠNG PHÁP ĐẶT VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ”, thực hiện trong năm học
2014 - 2015.
- So sánh cấu trúc của 2 kiểu chương trình con này thì tương tự với nhau,
mặc dù cách truy xuất của chúng có khác nhau và cách trao đổi thông tin trong
mỗi kiểu cũng có điểm khác nhau. Hàm (function) trả lại một giá trị kết quả vô
hướng thông qua tên hàm và hàm được sử dụng trong biểu thức hoặc các thủ tục.
- Các giải pháp đã thực hiện trong sáng kiến kinh nghiệm cũ đã một phần
giải quyết được cách tiếp cận của học sinh đối với một vấn đề, một nội dung mới,
đơn giản hóa cách suy nghĩ, đơn giản hóa kiến thức mà vẫn đảm bảo được nội
dung của chương trình học.
- Các giải pháp của đề tài này là sử dụng một phương pháp dạy học cụ thể là
đặt và giải quyết vấn đề để giảng dạy hiệu quả hơn những nội dung trên.
* Các hình thức và cấp độ được áp dụng trong đề tài này là.
- Vấn đáp đặt và giải quyết vấn đề
“Giáo viên xây dựng một hệ thống câu hỏi để gợi ý, dẫn dắt học sinh thực
hiện tất cả các pha của dạy học đặt và giải quyết vấn đề, ngoại trừ pha thể chế hoá.
Ở mức độ thấp hơn thì chính giáo viên thực hiện việc tạo tình huống có vấn đề và
trình bày vấn đề.
GV : Trịnh Văn Thịnh
Trang 2
Sáng kiến kinh nghiệm
Học sinh, nhờ vào hệ thống câu hỏi gợi ý dẫn dắt của giáo viên mà tự giác và
tích cực nghiên cứu phát hiện, trình bày và giải quyết vấn đề.
Tri thức không được cho dưới dạng có sẵn và trực tiếp, mà xuất hiện trong
quá trình hình thành và giải quyết vấn đề, được khám phá nhờ quá trình tương tác
giữa thầy và trò, trong đó trò đóng vai trò chính.”[5]
- Thuyết trình đặt và giải quyết vấn đề
Kiểm tra, đánh giá lời giải, kết quả và cả cách thức tìm kiếm lời giải
Thể chế hóa kiến thức cần lĩnh hội
GV : Trịnh Văn Thịnh
Trang 3
Sáng kiến kinh nghiệm
Bước 5: Vận dụng kiến thức mới để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra tiếp
theo
Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả
Đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa, lật
ngược vấn đề,... và giải quyết nếu có thể.”[5]
Trong đề tài này tôi đã đưa ra giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có
để cụ thể hóa phương pháp giảng dạy bằng cách vận dụng các hình thức và cấp độ
cùng với các bước chủ yếu của phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề. Các
giải pháp khi thực hiện đề tài này chỉ chủ yếu áp dụng 2 cấp độ là "Vấn đáp đặt và
giải quyết vấn đề" và "Thuyết trình đặt và giải quyết vấn đề" cùng với các bước để
thực hiện trong cả 4 nội dung đã được đề cập đó là : Kiểu mảng 1 chiều, kiểu xâu,
kiểu tệp và chương trình con.
GV : Trịnh Văn Thịnh
Readln(x1,x2,x3,x4,x5,…)
chương trình sẽ không phù hợp với kiểu dữ liệu chuẩn đã học
GV: Để giải quyết vấn đề trên thì mục tiêu là cần phải có một kiểu dữ liệu
mới phù hợp hơn, có đủ các phần tử để chứa được tất cả các giá trị khác nhau theo
yêu cầu của bài, và chương trình được viết lại để phù hợp hơn.
Bước 3: Giải quết vấn đề:
GV: Đưa ra một đoạn chương trình để giải quyết vấn đề đã nêu là nhập điểm
trung bình của các học sinh trong lớp bằng cách sử dụng kiểu mảng một chiều để
học sinh quan sát được sự khác biệt với đoạn chương trình cũ:
GV : Trịnh Văn Thịnh
Trang 5
Sáng kiến kinh nghiệm
……
Var A : array [1..50] of real;
i : Byte;
Begin
for i:=1 to 42 do readln(A[i]);
……
Bước 4: Rút ra kết luận
Từ vấn đề được giải quyết như trên thì việc cần phải tìm hiểu và sử dụng
một kiểu dữ liệu mới là rất cần thiết đó là kiểu mảng một chiều, một kiểu dữ liệu
có cấu trúc.
Bước 5: Vận dụng kiến thức để đặt ra nhiệm vụ tiếp theo
GV: Tiếp tục vấn đáp, đặt câu hỏi để học sinh tìm hiểu về khái niệm mảng
một chiều, cách khai báo, cách tham chiếu đến 1 phần tử, và cách duyệt qua các
Sáng kiến kinh nghiệm
Vấn đề ở đây là kiểu dữ liệu DiemTrungBinh là kiểu dữ liệu đã có
chưa?, có được sử dụng không?
Bước 2: Trình bày vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết
GV: Ở đây điểm trung bình là một tên kiểu dữ liệu mà ta tự đặt ra, xem như
đây là một kiểu dữ liệu có cấu trúc gồm nhiều phần tử đủ để chứa được điểm trung
bình của các học sinh trong lớp.
Pascal hỗ trợ câu lệnh để chúng ta có thể định nghĩa tạo ra một kiểu dữ liệu
như vậy đó là kiểu mảng một chiều
Bước 3: Giải quyết vấn đề:
GV: Từ vấn đề được trình bày và đặt mục tiêu giải quyết ở trên. Ngôn ngữ
lập trình Pascal cho phép chúng ta định nghĩa ra kiểu dữ liệu này bằng câu lệnh:
Type <Tên kiểu mảng> = array [Kiểu chỉ số] of <kiểu phần tử>:
Do phải định nghĩa trước và khai báo sau nên các câu lệnh sẽ được viết là:
Type <Tên kiểu mảng> = array [Kiểu chỉ số] of <kiểu phần tử>;
Var <Tên biến mảng> : <Tên kiểu mảng>;
Đây là cách thứ nhất để khai báo kiểu dữ liệu mảng một chiều
Trong đó:
- Kiểu chỉ số có dạng: n1 . . n2 (n1, n2 là những số nguyên hoặc biểu thức
nguyên và n1 ≤ n2)
- Kiểu phần tử là kiểu dữ liệu của từng phần tử trong mảng.
Ví dụ:
Type DiemTrungBinh = array [1..50] of real;
Var
DTB : DiemTrungBinh;
GV: Cho học sinh quan sát kỹ và nhận xét về câu lệnh về cú pháp và ví
GV: Đặt tình huống là muốn đưa ra màn hình điểm trung bình của một học
sinh nào đó hay đưa ra tất cả điểm trung bình của các học sinh ra màn hình thì phải
làm thế nào.
HS: Mong đợi suy nghĩ:
Đưa ra màn hình tất cả: Sử dụng câu lệnh Write(DTB);
Còn đưa ra điểm của một học sinh: Chắc phải có một sự tham chiếu
nào đó.
Bước 2: Trình bày vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết
GV: Từ suy nghĩ của học sinh giáo viên có thể thực hiện ngay câu lệnh mà
học sinh suy nghĩ là Write(DTB). Tất nhiên trình biên dịch sẽ báo lỗi. Từ vấn đề đó
giáo viên sẽ dẫn dắt để học sinh biết cách phải tham chiếu và xuất ra từng phần tử
một theo đúng cú pháp
Tham chiếu: <Tên biến mảng>[<chỉ số>]
Chú ý đối với học sinh là: chỉ sổ ở trên có phục thuộc vào việc chọn kiểu chỉ
số trong khai báo
Bước 3: Giải quyết vấn đề:
GV: Để học sinh viết câu lệnh xuất điểm của một học sinh nào đó từ khai
báo đã ví dụ ở trên
HS: Sẽ viết được
Ví dụ: Write(DTB[4]:4:1); (Xuất điểm của học sinh thứ 4 trong lớp)
Hoặc xuất ra màn hình điểm của 40 học sinh trong lớp
For i := 1 to 40 do write(DTB[i]:4:1)
Bước 4: Rút ra kết luận:
GV: Nhấn mạnh việc thao tác trên mảng là phải thao tác với từng phần tử trong
mảng, vì vậy yếu tố duyệt và cách tham chiếu đến các phần tử trong mảng có yếu tố
quan trọng khi viết các chương trình có sử dụng kiểu dữ liệu mảng một chiều.
GV : Trịnh Văn Thịnh
Trang 8
5.0
4.3
7.2
Dãy C:
T
I
N
H
O
HS: nhận xét:
9
3
C
Dãy A là dãy gồm 7 số nguyên
Dãy B là dãy gồm 5 số thực
Dãy C là dãy gồm 6 kí tự
tác cơ bản nào trên kiểu dữ liệu xâu.
Từ đây, học sinh đã có thể tự tri giác được các kiến thức sau:
- Bản chất của kiểu xâu là kiểm mảng một chiều mà mỗi phần tử là một kí
tự
- Hoàn toàn có thể thao tác với kiểu xâu như kiểu mảng, ví dụ như tham
chiếu đến kí tự nào đó trong xâu
- Kiểu xâu sẽ có nhiều thao tác xử lí đơn giản mà ngôn ngữ lập trình cung
cấp sẵn các câu lệnh để xử lí (đó là các hàm và thủ tục xử lí xâu)
Bước 3: Giải quyết vấn đề:
* Nội dung 1: Khái niệm và khai báo:
GV: Để học sinh tự suy nghĩ và khái niệm về kiểu xâu từ cách mà giáo viên
đã đưa ra tình huống ở trên:
HS: Khái niệm về kiểu dữ liệu xâu: Là mảng một chiều mà mỗi phần tử là
một kí tự.
GV: Để sử dụng kiểu xâu thì phải khai báo kiểu xâu. GV đưa ra cú pháp khai
báo.
Var <Tên biến xâu> : String[<độ dài lớn nhất của xâu>];
Trong đó, độ dài lớn nhất của xâu là số lượng kí tự tối đa mà xâu được khai
báo muốn lưu trữ và không lớn hơn 255. Khi bỏ qua tham số này thì xâu sẽ chứa
tối đa 255 kí tự.
HS: Tự lấy các ví dụ khai báo một số biến xâu. GV có thể đưa ra một số
khai báo chưa đúng để học sinh nắm vững cách khai báo.
Ví dụ: Var s : String[50];
s1,s2 : String [30];
s3 : String; (s3 có độ dài tối đa là 255 kí tự);
* Nội dung 2: Tham chiếu đến các kí tự trong xâu:
GV: Lưu ý học sinh : bản chất là xâu là mảng một chiều nên tham chiếu tới
kí tự cũng như tham chiếu tới các phần tử trong mảng một chiều. chỉ số của kí tự
đầu tiên trong xâu luôn là 1.
HS: Tự tham chiếu đến các kí tự trong xâu :
sinh nắm vững hơn.
Bước 4: Rút ra kết luận: Kiểu xâu có vai trò vô cùng quan trọng trong khi
lập trình và để thực hiện tốt các thao tác trên xâu thì việc nắm vững các thao tác cơ
bản xử lí xâu là yếu tố quyết định khi lập trình có thể thao tác thành thạo với kiểu
xâu hay không.
Với phương pháp và trình tự thực hiện với kiểu xâu như trên học sinh sẽ
tự lĩnh hội được nhiều kiến thức mới, không quá phụ thuộc vào nội dung giới thiệu
ở sách giáo khoa, từ các vấn đề mà GV đặt ra học sinh sẽ tự tìm được lời giải từ
kiến thức về mảng một chiều, có thể kết thúc nội dung kiểu dữ liệu xâu mà học
sinh chỉ trao đổi và tìm cách giải quyết vấn đề chứ không cần phải sử dụng sach
giáo khoa. Hình thành nên khả năng tư duy tự học và sáng tạo.
3. Giải pháp giảng dạy kiểu tệp:
Học sinh đã được làm quen với một số kiểu dữ liệu chuẩn và một số kiểu dữ
liệu có cấu trúc. Đây là kiểu dữ liệu mà người lập trình sử dụng chủ yếu vào mục
đích sử dụng nguồn dữ liệu lưu trữ sẵn có hoặc xử lí kết quả khi thực hiện chương
trình. Vậy tại sao cần phải có kiểu dữ liệu tệp (làm rõ vấn đề này tức là đã làm cho
học sinh hiểu rõ được vai trò của kiểu tệp). Trong chương trình chỉ đề cập đến kiểu
tệp văn bản.
GV : Trịnh Văn Thịnh
Trang 11
Sáng kiến kinh nghiệm
Nội dung chủ yếu cần đạt: Hiểu vai trò của tệp và các thao tác với tệp:
Bước 1: Tạo tình huống gợi vấn đề [6]
Hoạt động của GV
tiếp với tệp trên đĩa mà thông qua biến
tệp. vậy nên phải gắn từng tên tệp cho
các đại diện là biến tệp.
- Tại sao phải mở tệp?
- Giống như việc muốn xem hoặc ghi và
sửa chữa nội dung trong tệp cần phải
thực hiện nháy đúp để mở tệp đó.
- Việc đọc ghi tệp được thực hiện như - Khi lập trình pascal trong chương trình
thế nào?
tin học 11 thì 3 thao tác cơ bản là nhập,
tính, xuất.
- Đối với các nội dung đã học thì sẽ là
nhập từ bàn phím vào các biến, tính (xử
lí) và ghi kết quả ra màn hình.
Khi làm việc với tệp thì về mặt tính (xử
GV : Trịnh Văn Thịnh
Trang 12
Sáng kiến kinh nghiệm
Trình bày vấn đề đặt ra
Mục tiêu giải quyết
lí) không có gì khác, mà còn có thể đọc
dữ liệu từ một tệp đã chứa dữ liệu vào
HS: Lấy ví dụ:
assign (f1, ‘songuyen.int’);
assign (f2, ‘ketqua.out’);
GV : Trịnh Văn Thịnh
Trang 13
Sáng kiến kinh nghiệm
* Mở tệp:
GV: Cũng như khi ta làm việc với tệp trong môi trường của Hệ điều hành
Windows, khi muốn xem, hay thay đổi nội dung của một tệp thì ta phải mở tệp đó
ra bằng thao tác mở tệp. Vì vậy trong khi lập trình muốn thao tác với nội dung của
tệp thì phải mở tệp đó ra.
HS: Suy nghĩ về việc làm sao để mở được tệp bằng câu lệnh
GV: Gợi ý về cú pháp rồi để học sinh tự ví dụ về mở tệp
(Chú ý: Giáo viên nên giải thích về 2 thao tác khác nhau khi thực hiện mở
tệp để đọc dữ liệu vào biến và mở tệp để ghi kết quả từ chương trình ra tệp cũng
như ý nghĩa và kết quả sau mỗi lần thực hiện câu lệnh mở tệp như nội dung trong
tệp có thay đổi không, có bị mất không và vị trí con trỏ trong tệp nằm ở đâu,…).
Cú pháp: + Mở tệp để đọc:
reset(<biến tệp>);
+ Mở tệp để ghi:
rewrite(<biến tệp>);
HS: Lấy ví dụ về mở tệp:
Ví dụ:
reset(f1);
Sáng kiến kinh nghiệm
read(f1,a,b);
Hoặc:
readln(f1,a,b);
+ Ghi tổng của hai số a và b ra tệp ketqua.out
write(f2, ‘Tong cua a va b la: ’,a+b);
Hoặc: writeln(f2, ‘Tong cua a va b la: ’,a+b);
GV: Nếu thực hiên trên máy chiếu lấy một bài cụ thể nhập các câu lệnh ví dụ
mà học sinh đưa ra sau đó cho học sinh quan sát kết quả để học sinh phân biệt được
việc khác nhau giữa câu lệnh read và readln, cũng như câu lệnh write và writeln
khi thực hiện với tệp. Chạy và cho học sinh quan sát hàm EOF và EOLN để học
sinh biết về vai trò của hai làm này khi thực hiện đọc tệp.
* Đóng tệp:
GV: Đóng tệp sau khi thao tác với tệp là một thủ tục khá đơn giản nhưng lại
rất quan trọng vì các tệp khi thao tác đã được mở ra. Nếu sau khi thực hiện xong
mà không đóng tệp thì tệp sẽ không lưu trữ được dữ liệu đã thay đổi.
Cú pháp: close(<biến tệp>);
HS: Lấy ví dụ về đóng tệp
close(f1);
close(f2);
Bước 4: Rút ra kết luận:
Giáo viên đặt ra hệ thống các câu hỏi để học sinh trả lời với mục đích cần
phải lưu ý và làm rõ được một số vấn đề sau:
+ Thao tác gắn tên tệp, mở tệp và đóng tệp cần phải luôn luôn được
thực hiện và theo đúng trình tự. Làm việc với bao nhiêu tệp thì những công việc đó
truyền tham số cho chương trình con sẽ mang tình quyết định trong việc viết
chương trình có sử dụng chương trình con. Ta sẽ xét cụ thể một số nội có thể trình
bày theo phương pháp đã nêu như sau:”[6]
* Nội dung 1: Phân biệt các loại chương trình con
Bước 1: Tạo tình huống gợi vấn đề:
GV: Trình chiếu một chương trình có sử dụng hàm và thủ tục xử lí xâu:
Ví dụ: Chương trình xóa tất cả các kí tự trắng và in hoa một xâu được nhập
từ bàn phím và đưa xâu đã được xử lí ra màn hình.
Program xu_ly_xau;
Uses crt;
Var s : string;
i : byte;
Begin
Clrscr;
Write (‘ Nhap vao mot xau ki tu s = ’);
Readln (s);
While pos(‘ ‘,s) 0 do delete (s,pos(‘ ‘,s),1);
For i : = 1 to length (s) do s[i] : = upcase (s[i]);
Write(‘ xau da duoc xu li la : ’, s);
Readln
End.
HS: Quan sát chương trình và chỉ ra các hàm và thủ tục xử lí xâu đã được
sử dụng trong chương trình trên. Hàm pos, length, upcase, và thủ tục delete.
Bước 2: Trình bày vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết
GV: Trong chương trình trên khi gọi hàm pos, length, upcase hay thủ tục
delete thì lập tức kết quả sẽ được thực hiện mà ta không biết bản chất của các hàm
hay thủ tục đó được xây dựng như thế nào. Và thực chất các hàm và thủ tục trên là
các chương trình con mà pascal cung cấp sẵn cho chúng ta. Khi thực hiện chỉ cần
gọi tên và cung cấp đủ tham số phù hợp thì chương trình con đó sẽ được thực hiện.
GV : Trịnh Văn Thịnh
End;
- Thủ tục: Là chương trình con thực hiện một số thao tác và không trả về giá
trị thông qua tên của nó. Vì vậy, phần đầu của thủ tục sẽ không có kiểu dữ liệu và
trong phần thân cũng chỉ gồm có dãy các lệnh mô tả các thao tác.
HS: Cần phải phân biệt được Hàm khác với Thủ tục ở chổ hàm có trả về cho tên hàm và trong phần thân có biểu thức: <Tên hàm> : =
<biểu thức>;
Bước 4: Rút ra kết luận:
GV: Dựa vào cấu trúc đã cung cấp, chúng ta có thể xây dựng được hai
chương trình con có dạng khác nhau là hàm và thủ tục. Có thể hỏi học sinh, khi
nào thì xây dựng hàm và khi nào thì xây dựng thủ tục?
GV : Trịnh Văn Thịnh
Trang 17
Sáng kiến kinh nghiệm
HS: Thảo luận và mong đợi trả lời :
+ Khi kết quả nhận được của chương trình con là một giá trị mới
thông qua tên của chương trình con đó thì xây dựng hàm
+ Khi gọi chương trình con mà chỉ muốn thực hiện một số thao tác
nhất định, không sinh ra giá trị qua tên của nó thì xây dựng thủ tục
Bước 5: Vận dụng kiến thức mới để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra tiếp
theo.
+ Tìm hiểu cụ thể về từng loại chương trình con: Thủ tục và Hàm chủ yếu là
thông qua việc phân tích cấu trúc và giải quyết các ví dụ cụ thể.
* Nội dung 2: Tìm hiểu về thủ tục (Procedure):
Bước 1: Tạo tình huống gợi vấn đề
a, b, c : integer ; yn : Char ;
Procedure maximum ;
Var max : integer ;
Begin
if a > b then max := a
else max := b ;
if c > max then max := c ;
Writeln ( ‘ So lon nhat la:’, max:6 ) ;
end ;
BEGIN
yn := ‘Y’ ;
While (upcase(yn) = ‘Y’) do
Begin
Writeln ( ‘Nhap 3 so nguyen’ ) ;
Readln (a, b, c ) ;
maximum ;
Write ( ‘ Tiep tuc nhap 3 so moi khong (y/n) ?’ ) ; Readln (yn) ;
End ;
END.
- Cấu trúc của thủ tục có tham số
PROCEDURE < Tên thủ tục > (<danh sách tham số hình thức >);
[<Các khai báo hằng, biến, kiểu cục bộ>]
BEGIN
[<Các lệnh trong nội bộ thủ tục >]
END ;
GV : Trịnh Văn Thịnh
END.
4. Rút ra kết luận
- Trong ví dụ 1:
+ Thủ tục maximum được khai báo trước khi nó được truy xuất, các
biến a, b, c được gọi nhập vào ở chương trình chính và biến max được định nghĩa
bên trong thủ tục. Điều này cho ta thấy, không phải lúc nào cũng cần thiết khai
báo biến ngay đầu chương trình chính như vậy ở đây ta thấy các biến a, b, c, yn là
các biến toàn cục, biến max là biến cục bộ.
+ Thủ tục maximum gọi trực tiếp tới các biến ở chương trình chính và
không sử dụng tham số hình thức. Đây là dạnh thủ tục không có tham số
- Trong ví dụ 2:
+ Khi viết một thủ tục, nếu có các tham số cần thiết, ta phải khai
báo nó (kiểu, số lượng, tính chất, ...). Các tham số này gọi là tham số hình thức
(formal parameters).
+ Một thủ tục có thể có 1 hoặc nhiều tham số hình thức. Khi các
tham số hình thức có cùng một kiểu thì ta viết chúng cách nhau bởi dấu
GV : Trịnh Văn Thịnh
Trang 20
Sáng kiến kinh nghiệm
phẩy (,). Trường hợp các kiểu của chúng khác nhau hoặc giữa khai báo
tham số truyền bằng tham biến và truyền bằng tham trị thì ta phải viết cách
nhau bằng dấu chấm phẩy (;).
+ Trong chương trình trên m là các tham số hình thức của thủ tục
giaithua.
+ Khi gọi thủ tục giaithua(n) thì tham số thực n được truyền tương
ứng cho tham số hình thức m.
Sáng kiến kinh nghiệm
Ví dụ : Bài toán tính giai thừa.
Program
Var
giaithua;
x : integer ;
Function
gt(n : integer):integer ;
Var
i, tichso : integer ;
Begin
Tichso:= 1 ;
If n > 1 Then
For i := 2 to n do
tichso:= tichso * i ;
gt := tichso;
End ;
BEGIN
Write (‘ Nhap vao so nguyen duong x = ’);
Readln (x) ;
Writeln (‘ Voi x = ’, x , ‘ thi giai thua se la : x ! = ’ , gt(x));
Readln;
END.
Ví dụ :
function Tinh (x, y : integer ; z : real ) : real ;
Đây là một hàm số có tên là TINH với 3 tham số hình thức x, y, z. Kiểu
của x và y là kiểu số nguyên integer còn kiểu của z là kiểu số thực real. Hàm
TINH sẽ cho kết quả kiểu số thực real.
* Nội dung 4: Truyền tham số cho trương trình con, phân biệt tham trị
và tham biến
Bước 1: Tạo tình huống gợi vấn đề
GV: Chiếu phần đầu của một chương trình con và cho học sinh nhận xét
Ví dụ:
procedure thamso (x : integer ; var y : integer ) ;
HS: Nhận xét bằng sự nghi vấn: khai báo tham số hình thức ở đây khác nhau
của hai tham số x và y
GV: Như vậy khi xây dựng chương trình con không phải tham số hình thức
lúc nào cũng được khai báo giống nhau mà tùy vào từng trường hợp để khai báo.
Bước 2: Trình bày vấn đề và dặt mục tiêu giải quyết
Truyền tham số khi viết và sử dụng chương trình con đòi hỏi phải
có sự tương ứng về tên của kiểu dữ liệu của các tham số hình thức và tham số
thực.
“Những tham số hình thức nằm sau từ khóa VAR gọi là tham số biến
(variable parameter). Với tham số biến, các tham số thực bắt buộc phải là biến
chứ không được là giá trị. Khi giá trị của tham số biến thay đổi thì nó sẽ làm thay
đổi giá trị của tham số thực tương ứng và khi ra khỏi chương trình con đó, tham
số thực vẫn giữ giá trị đã được thay đổi đó.
Những tham số hình thức không đứng sau từ khóa VAR gọi là tham số trị
(value parameter), khi đó các tham số thực có thể là một biến, một biểu thức, một
hằng, hoặc một giá trị số. Các tham số trị nhận giá trị từ tham số thực khi truyền như