skkn HƯỚNG dẫn học SINH THỰC HÀNH các THAO tác lập LUẬN TRONG văn NGHỊ LUẬN - Pdf 37

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH
Mã số ………..………

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

HƯỚNG DẪN HỌC SINH THỰC
HÀNH CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN
TRONG VĂN NGHỊ LUẬN.

Người thực hiện : Nguyễn Thị Hải Vân
Lĩnh vực nghiên cứu :
Quản lý giáo dục
Phương pháp dạy học bộ môn
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác
Có đính kèm :
□ Mô hình

□ Phần mềm

□ Phim ảnh

Năm học : 2012 - 2013

1






- Các sáng kiến đã có trong 5 năm gần đây : không

2


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH THỰC HÀNH CÁC THAO
TÁC LẬP LUẬN TRONG VĂN NGHỊ LUẬN.
MỤC LỤC
Nội dung…………………………………………………………………Trang
A. Lí do chọn đề tài……………………………………………………… 4
B. Tổ chức thực hiện đề tài ……………………………………………… 4
I. Cơ sở lí luận…………… ……………………………………………… 4
II. Cơ sở thực tiễn………………………………………………………... 5
III. Nội dung đề tài………………………………………………………. 5
1. Ôn tập phần lí thuyết………………………………………………... 5
2. Các biện pháp thực hiện…………………………………………….. 9
IV. Hiệu quả của việc thực hiện…………………………………………. 13
V. Kết luận chung………………………………………………………... 14
VI. Các tài lệu tham khảo………………………………………………... 15

3


HƯỚNG DẪN HỌC SINH THỰC HÀNH CÁC THAO
TÁC LẬP LUẬN TRONG VĂN NGHỊ LUẬN.
A. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

- Một quan niệm về dạy văn “Khai trí, khai tâm” (Lê Ngọc Trà). Thật vậy,văn học
có một tính chất đặc biệt: đó là tính toàn vẹn của nhận thức về thế giới. Nó có cả

để giúp học sinh nhận diện đặc điểm của kiểu văn bản, các thao tác lập luận cần
vận dụng để tạo lập văn bản, giáo viên luôn dựa vào văn bản mẫu trong sách giáo

4


khoa. Muốn đạt được mục đích đó đòi hỏi văn bản đưa ra tìm hiểu phải có hình
thức, nội dung tiêu biểu cho từng kiểu thao tác và phù hợp với những định hướng
về lí thuyết của kiểu bài mà người giáo viên muốn truyền thụ cho học sinh. Hơn
nữa, những lí thuyết về đặc điểm thể loại, các thao tác lập luận được vận dụng cần
phải cụ thể , dễ hiểu và phù hợp với nhận thức của học sinh.
Đối với văn bản nghị luận THPT, học sinh cần phải hiểu rõ luận đề cần phải bàn
đến là gì? Thao tác nào phù hợp để làm rõ luận đề đưa ra?... Hầu hết các vấn đề
này chưa được minh họa bằng một đề bài cụ thể trong SGK. Mặt khác, phần lí
thuyết hướng dẫn học sinh cách dúng các thao tác cũng mang tính khái quát cao,
rời rạc từng bài dẫn đến học sinh khó vận dụng các thao tác lập luận vào việc giải
quyết một đề văn cụ thể.
Từ thực tếvề mặt lí luận như trên, nguời giáo viên phải cụ thể hóa các khái niệm
trừu tượng trên cơ sở phải đưa ra các ví dụ đơn giản hơn kết hợp với cách diễn
giảng phù hợp với nhận thức của học sinh. Nếu làm được như vậy phần nào mới
có thể giúp các em làm được bài văn nghị luận cũng như xây dựng hệ thống các
thao tác lập luận phù hợp.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1.Hiện nay, số lượng học sinh yêu thích môn văn ngày càng ít đi, số học sinh giỏi
văn cũng theo đó mà giảm dần. Đặc biệt trong những năm gần đây, số lượng học
sinh đăng kí thi đại học, cao đẳng các ngành khối C (có môn văn là chủ đạo) giảm
sút đáng kể. Các kì thi tuyển học sinh giỏi không được học sinh hưởng ứng một
cách tích cực’
2. Kết quả bài viết môn văn của học sinh chưa cao, học sinh chưa rèn luyện được
kĩ năng viết một bài văn hoàn chỉnh.

Là vấn đề mà đề
bài đặt ra để người
viết bàn bạc, xem
xét, đánh giá

Luận điểm
Là ý kiến thể hiện
tư tưởng, quan
điểm của người
viết trong bài văn
nghị luận

Luận cứ
Là các lí lẽ, dẫn
chứng thuyết phục
được đưa ra làm
cơ sở cho luận
điểm.

Lập luận
Là cách nêu ra các
luận cứ nhằm dẫn
dắt người nghe
(đọc) đến một luận
điểm nào đó.

Từ một đề bài cụ thể, sau khi xác định luận đề, người viết sẽ xây dựng một hệ
thống luận điểm cần thiết để làm sáng tỏ luận đề. Các luận điểm đó cần được triển
khai bằng các đoạn văn có hình thức kết cấu chặt chẽ (diễn dịch, quy nạp, móc
xích, song hành, tổng- phân- hợp) và có phương pháp lập luận hợp lí (giải thích,

điểm bằng cách đưa ra những đề xuất ,thuyết phục người đọc (người nghe) tán
đồng với nhận xét, đánh giá, bàn luận của mình về một hiện tượng (vấn đề) trong
đời sống hoặc trong văn học.
1.3. Tìm hiểu vai trò, mối quan hệ của các thao tác lập luận với đoạn văn, bài
văn nghị luận:
- Ta đã biết lập luận là cách nêu ra các luận cứ nhằm dẫn dắt người đọc (người
nghe) đến một luận điểm nào đó. Như vậy, mỗi đoạn văn, bài văn nghị luận có thể
dùng một hoặc kết hợp vận dụng nhiều thao tác khác nhau miễn là làm sao để
thuyết phục người khác nghe theo ý kiến bàn luận của mình về một vấn đề nào đó.
- Phải xuất phát từ mục đích nghị luận, đối tượng đang nghiên cứu, người viết mới
tìm ra thao tác (phương pháp) lập luận thích hợp.
- Việc vận dụng tổng hợp nhiều thao tác lập luận khác nhau, trong đó có một, hai
thao tác lập luận chủ lực. Còn lại các thao tác khác sẽ đóng vai trò bổ trợ sẽ tạo
được sự thành công khi lập luận.
1.4. Việc xây dựng các thao tác lập luận cần được thực hiện ra sao?
a) Thao tác lập luận giải thích:
Người ta thường giải thích bằng cách : nêu định nghĩa, chỉ ra các biểu hiện, so
sánh đối chiếu với các hiện tượng khác, nêu lên những mặt lợi hại, nguyên
nhân,kết quả, cách đề phòng hoặc noi theo của hiện tượng hoặc vấn đề được giải
thích.
Ví dụ giải thích bằng cách nêu định nghĩa:
Vậy khiêm tốn là gì? Khiêm tốn là tính nhã nhặn, biết sống một cách nhún
nhường, luôn luôn hướng về phía tiến bộ, tự khép mình vào những khuôn thước
của cuộc đời, bao giờ cũng không ngừng học hỏi. Hoài bão của con người là tiến
mãi không ngừng, nhưng không nhằm mục đích tự khoe khoang, tự đề cao cá nhân
mình trước người khác.
(Theo Lâm Ngữ Đường- Tinh hoa xử thế)
b) Thao tác lập luận chứng minh:
Người ta thường chứng minh bằng cách: Từ luận đề, ta xây dựng một hệ thống
luận điểm hợp lí, rõ ràng, mạch lạc và đủ làm sáng tỏ luận đề. Sau đó, tìm một hệ

- Dùng lí lẽ vững chắc và dẫn chứng khách quan, trung thực để bác bỏ, phê phán
một cách thuyết phục những sai lầm, vô lí đó.
- Cần có thái độ thẳng thắn, có văn hóa trong tranh luận, tôn trọng người đối thoại,
tôn trọng và bảo vệ sự thật, chân lí.
h) Thao tác lập luận bình luận:
Người ta thường bình luận bằng cách:
- Nêu bật hiện tượng, vấn đề cần bình luận: Vấn đề đó cần đảm bảo tính trung
thực, khách quan và được trình bày ngắn gọn, rõ ràng.
- Đánh giá vấn đề, đối tượng cần bình luận: Không nên đứng hẳn về một phía mà
cần kết hợp những phần đúng, loại bỏ những phần còn hạn chế của mỗi phía để đi
đến đánh giá một cách hợp lí, công bằng. Cũng cần nêu bật các mặt đúng- sai,
hay- dở, lợi – hại của vấn đề theo ý kiến riêng của mính sau khi đã phân tích các
quan điểm, ý kiến khác nhau về vấn đề cần bình luận.
- Bàn bạc vấn đề, đối tượng cần bình luận: Cần nêu lên thái độ, hành động, cách
giải quyết đối với vấn đề đã đưa ra, nêu lên ý nghĩa của vấn đề cũng như liên hệ
với thời đại, hoàn cảnh sống.

8


2.Các biện pháp thực hiện:
2.1. Mô hình hệ thống các bài tập về các thao tác lập luận theo kết cấu đoạn
văn:
Nhìn từ kết cấu đoạn văn
Bài tập dựng đoạn

Đoạn
dịch

diễn Đoạn

thức qun trọng giúp các em hiểu biết, nắm vững và sử dụng tiếng mẹ đẻ cho dung
và hay. Dạy văn chưong cũng là một trong những con đưòng của giáo dục thẩm
mĩ.
(Theo Lê Ngọc Hà- 150 bài tập rèn luyện kĩ năng dựng đoạn văn).
b) Mẫu 2: Thao tác lập luận chứng minh:
Ví dụ về đoạn văn kiểu Tổng- phân- hợp với lập luận chứng minh:
Lịch sử dân tộc ta đã ghi lại biết bao trang sử hào hung với những tên tuổi sáng
chói muôn đời không quên. Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch
Đằng lập nên chiến công lừng lẫy. Trần Hưng Đạo lãnh đạo nhân dân đánh đuổi
quân xâm lựoc Nguyên Mông giành lại nền độc lập cho tổ quốc. Lê Lợi nêm mật
nằm gai kháng chiến chống giặc Minh, mở rat rang sử vàng cho dân tộc. Nguyễn
Hụê đại phá quân Thanh lập nên chiến công hiển hách. Những tên tuổi đó sẽ mãi
mãi sống cùng non sông, đất nước.
c) Mẫu 3: Thao tác lập luận phân tích:
Ví dụ về đoạn văn kiểu diễn dịch với lập luận phân tích:

9


Sách đưa đến cho ta những hiểu biết mới mẻ vê thế giới xung quanh, về vũ trụ
bao la, về những đất nước và dân tộc xa xôi trên thế giới. Thật vậy, những quyển
sách khoa học có thể giúp ta khám phá ra vũ trụ vô tận với những quy luật của nó,
hiểu được trái đất này có biết bao đất nước với khí hậu, thiên nhiên kì thú khác
nhau. Những quyển sách xã hội lại giúp ta hiểu biết về đời sống con người trên các
vùng đất khác nhau đó với các đặc điểm về kinh tế, lịch sử, văn hoá, truyền thống
và khát vọng.
d) Mẫu 4: Thao tác lập luận so sánh:
Ví dụ về đoạn văn kiểu song hành với lập luận so sánh:
Học cũng có ích như trồng cây, mùa xuân được hoa, mùa thu được quả. Trồng
cây thì phải khó nhọc chăm sóc khi cây còn non. Đến khi cây đơm hoa kết trái thì


10


Từ một đề bài cho sẵn, giáo viên gợi dẫn cho học sinh lập dàn ý, sau đó mỗi luận
điểm đã tìm được ở phần than bài, yêu cầu học sinh dựng các đoạn văn với các
thao tác lập luận khác nhau.
Đề bài: Anh (chị) hiểu như thế nào vê câu thơ sau của Tố Hữu:
“Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn”
LẬP DÀN Ý:
* Mở bài:
- Dẫn đề: Giá trị cuộc sống của con nguời là điều mà mọi người thường trăn trở.
Phẩm chát sống của con người sẽ được xác lâp trong mối quan hệ với cộng đồng.
Hăm lét cũng từng nói: “Sống hay không sống. Đó là vấn đề”. Từ khi òn là một
thanh niên, Tố Hữu cũng đã đi tìm lẽ sống cho mình: “Băn khoăn đi kếm lẽ yêu
đời”. M. Gor- ki cũng từng nói: “Trong con người có hai khuynh hướng phủ định
lẫn nhau, đấu tranh lẫn nhau nhiều hơn và thường xuyên hơn cả : khuynh hướng
sống cho tốt hơn và khuynh hướng sống cho sướng hơn”.
- Giới thiệu luận đề: Sống như thế nào để cuộc sống có ý nghĩa, sống đáng sống
và sống đẹp? Đó là vấn đề mà Tố Hữu đã nhắc nhở trong hai câu thơ:
“Ôi! Sống đẹp là thế nào hơi bạn?”
Đó cũng là vấn đề mà tấ cả chúng ta cần suy nghĩ trong cuộc sống hôm nay.
* Thân bài:
- Đoạn 1: Viết đoạn văn với thao tác lập luận giải thích:
Giải thích: Thế nào là sống đẹp?:
+ Là sống có ý nghĩa và sống có mục đích, lí tưởng.
+ Là biết hi sinh, cống hiến, không ích kỉ, biết “nhận” và biết “cho”, biết phấn
đấu cho xã hội tốt đẹp: “Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình”.
+ Là sống tốt, có lòng nhân hậu, biết thương yêu đùm bọc, có tình cảm lành
mạnh:

Nguyễn Hữu Ân, một sinh viên nghèo ngành du lịch – ĐH mở TPHCM vừa
học, vừa làm kiếm tiền chữa bệnh cho mẹ ung thư giai đoạn cuối và dành thời gian
chăm sóc những bệnh nhân có hoàn cảnh giống mẹ mình.
+ Trong văn học vẫn có những nhân vật điển hình cho lối sống đẹp:
Nhân vật Hộ trong tác phẩm Đời thừa của nhà văn Nam Cao đã có hành động
rất cao thượng, cúi xuống nỗi đau khổ của Từ khi Từ bị tình nhân bỏ rơi cùng với
một dứa con thơ và một người mẹ già mù lòa quanh năm bệnh hoạn. Đồng thời coi
tình thương là lẽ sống cao nhất.
Nhân vật trữ tình trong bài thơ “Tôi yêu em” : tình yêu rất cao thượng, rất trong
sáng, vượt lên trên những ích kỉ, nhỏ nhen, tầm thường trong tình yêu.
 Tuy cương vị, việc làm và hành động khác nhau, nhưng họ gặp nhau ở một
điểm đó là “sống đẹp”
- Đoạn 4: Viết đoạn văn với thao tác lập luận bác bỏ
Bác bỏ những quan niệm không đúng về lối sống đẹp.
+ Thực tế không phải ai cũng xác định được quan niệm sống đẹp, vẫn có những
quan niệm khác về cuộc sống: lối sống thực dụng tầm thường, chạy theo vật chất .
+ Coi thường những tình cảm thân thuộc, bạn bè, gia đình, cha mẹ, đồng đội,
sống trên nỗi khổ của người khác.
+ Quan hệ với nhau mang tính chất lợi dụng trắng trợn.
+ Dửng dưng trước nỗi đau của người khác bằng đôi mắt ráo hoảnh của phường
ích kỉ.
+ Sống thiếu văn hóa, sẵn sàng chà đạp người khác vì đồng tiền.
- Đoạn 5: Viết đoạn văn với thao tác lập luận bình luận:
Bàn luận ý nghĩa sống đẹp, nêu phương hướng phấn đấu:
+ Xác định lí tưởng sống, đặt ra mục đích đúng đắn cho cuộc sống: phải làm gì
cho tương lai?
+ Xây dựng tâm hồn, tình cảm lành mạnh, nhân hậu , loại bỏ dần cái nhỏ nhen,
ích kỉ, chỉ biết vun vén cho bản thân cá nhân, sống vô cảm, hèn nhát, phản bội quá
khứ, bạn bè, tổ quốc, sống trên mồ hôi nước mắt của người khác, lười biếng.
+ Đấu tranh với những kẻ có hành động xấu.

3. Cũng nhờ nghiên cứu phương pháp hướng dẫn học sinh thao tác lập luận này
mà bản thân tôi ngộ ra một cái nhìn đúng đắn, nghiêm túc về các tiết lí thuyết cũng
như các tiết thực hành về các thao tác lập luận trong văn nghị luận. Từ đó, có một
thái độ tích cực trong việc luyện cho học sinh viết văn, là con đường đi đến sự
thành công trong công tác giảng dạy bộ môn ngữ văn.
4. Học sinh đã có những tiến bộ đáng kể trong các bài viết của mình, cụ thể:
Lớp
11A1
12 A3
12A4

Số học sinh đạt từ điểm 5 trở lên
Bài viết số 1
Bài viết số 5
Bài viết số 6
29/31 (93%)
31/31 (100%) 31/31 (100%)
15/27 (55,5%) 23/27 (85,2%) 27/27(100%)
14/29 (48,3%) 19/29 (65,5%) 24/27 (88,9%)

V. KẾT LUẬN CHUNG:
13


- Qua việc nghiên cứu và thực hiện giảng dạy, khi tôi viết đề tài này tôi nhận thấy
việc giảng dạy cho học sinh các kiến thức cơ bản và kĩ năng làm bài tập làm văn
có một tầm quan trọng đặc biệt trong bộ môn ngữ văn.
- Giáo viên nên có tahi1 độ đúng đắn, nghiêm túc trong việc hướng dẫn cách làm
bài văn để tạo động lực, niềm tin, niềm tự hào và cho học sinh có sự say mê, húng
thú trong học tập, yêu thích môn học.


Trường PT Dân tộc Nội trú Tỉnh, ngày

tháng năm 2013

PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học 2012 – 2013
Tên sáng kiến : HƯỚNG DẪN HỌC SINH THỰC HÀNH CÁC THAO TÁC LẬP
LUẬN TRONG VĂN NGHỊ LUẬN.
Họ tên tác giả : Nguyễn Thị Hải Vân
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị : Trường PT Dân tộc Nội trú Tỉnh
Lĩnh vực :
- Quản lý giáo dục :

- Phương pháp dạy học bộ môn : □
- Phương pháp giáo dục :

- Lĩnh vực khác :

Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng :
Tại đơn vị □ Trong ngành □
1. Tính mới : ( Đánh dấu x vào 1 trong 2 ô dưới đây )
- Có giải pháp hoàn toàn mới □
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có □
2. Hiệu quả : ( Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô dưới đây )
- Hoàn toàn mới và đã áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao □
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng trong
toàn ngành có hiệu quả cao □
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao □


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status