BÁO cáo NGHIÊN cứu ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của THỰC TIỄN sử DỤNG các yếu tố đầu vào CHO sản XUẤT cà PHÊ TỈNH đắk lắk - Pdf 37

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TRUNG TÂM TƯ VẤN CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP
****************

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THỰC TIỄN SỬ DỤNG
CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO CHO SẢN XUẤT CÀ PHÊ
TỈNH ĐẮK LẮK

Nhóm nghiên cứu:
Trần Thị Quỳnh Chi1
Dave D’haeze2

Hà Nội, tháng 10/2005

1
2

Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp
EDE Consulting for Coffee

1


LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu “Đánh giá tác động thực tiễn sử dụng các yếu tố đầu vào cho sản xuất cà
phê" được hoàn thành với sự đóng góp của nhiều tổ chức cá nhân.
Trước hết, nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn Đại Sứ quán Pháp - Dự án “Tăng
cường năng lực thông tin phục vụ công tác hoạch định chính sách nông nghiệp” (MISPA)

1888 (Nhạn và cộng sự, 1999). Người Pháp đã mang cây cà phê Arabica từ đảo Bourbon
sang trồng ở phía Bắc Việt Nam sau đó mở rộng sang các vùng khác. Hầu hết cà phê
được xuất khẩu sang Pháp dưới thương hiệu "Arabica du Tonkin". Đầu thế kỷ 20, cây cà
phê được trồng ở một số đồn điền người Pháp tại Phủ Quỳ (Nghệ An) và một số nơi ở
Tây Nguyên với diện tích không quá vài nghìn ha. Năm 1930, Việt Nam có khoảng 5900
ha cà phê (VICOFA, 2002). Trong thời kỳ những năm 1960-1970, cây cà phê được phát
triển ở một số nông trường quốc doanh ở các tỉnh phía Bắc, khi cao nhất (1964-1966) đã
đạt tới 13000 ha. Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, tổng diện tích cà phê Việt Nam
có khoảng 20.000 ha. Nhờ vốn từ các Hiệp định hợp tác liên Chính phủ với các nước
Liên Xô (cũ), CHDC Đức, Bungary, Tiệp Khắc và Ba Lan, cây cà phê bắt đầu được chú
trọng đầu tư, đặc biệt ở các tỉnh Tây Nguyên. Năm 1980, Việt Nam xuất khẩu khoảng
6000 tấn cà phê với diện tích khoảng 23 nghìn ha. Bản kế hoạch ban đầu được xây dựng
năm 1980 đặt mục tiêu cho ngành cà phê Việt Nam có khoảng 180 nghìn ha với sản
lượng 200 nghìn tấn. Sau đó, bản kế hoạch này đã nhiều lần sửa đổi. Các con số cao nhất
dừng lại ở mức 350 nghìn ha với sản lượng 450 nghìn tấn (VICOFA, 2002).
Trong thời kỳ từ 1982 đến 1988, cà phê được trồng mới thêm khoảng vài chục nghìn ha.
Đến năm 1990, Việt Nam có khoảng 119300 ha. Trong giai đoạn từ 1990 đến 1994, giá
cà phê thế giới ở mức rất thấp và diện tích cà phê Việt Nam không thay đổi nhiều, mỗi
năm tăng khoảng 10 nghìn ha. Năm 1994, tổng diện tích cà phê Việt Nam đạt 150.000 ha,
vẫn chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn (1,32%) trong tổng diện tích các loại cây trồng của
Việt Nam (ICARD & Oxfarm, 2002).
Năm 1994, khi sương muối ở Brazil phá huỷ phần lớn diện tích cà phê nước này đã làm
cung thế giới giảm mạnh, giá thế giới tăng đột biến. Giá tăng đã khuyến khích người
trồng cà phê Việt Nam mở rộng diện tích trồng và tăng thâm canh cà phê. Những người
nghèo và đồng bào dân tộc ít người mở rộng diện tích cà phê bằng cách khai hoang, phá
rừng.
Diện tích trồng cà phê đã tăng lên nhanh hơn, bình quân 23,9%/năm, đưa tổng diện tích
cây cà phê năm 2000 lên đến 516,7 nghìn ha, chiếm 4,14% tổng diện tích cây trồng của
Việt Nam, đứng thứ ba chỉ sau hai loại cây lương thực chủ lực là lúa (chiếm 61,4%) và
ngô (chiếm 5,7%). Trong thập kỷ 90 thế kỷ XX, sản lượng tăng lên trên 20%/năm (và các

lâm luật đã xảy ra. Nhiều trường học, cơ sở y tế quá tải.3
Do diện tích trồng cà phê tăng trưởng quá nhanh và nước tưới được xem là yếu tố sống
còn cho cây cà phê nên các vườn trồng cà phê ở khu vực này đang phải đối mặt với
những dấu hiệu đáng báo động của việc khan hiếm nước tưới cũng như mực nước ngầm
(D’haeze, 1999; Ha, 2002). Trong mùa khô, khi cây cà phê đến giai đoạn trổ hoa và ra
quả, mỗi ha cà phê cần tới 1500-3000 m³ nước (Luu, 2002; Bau, L.N., 1984).
Mặt khác, phân hoá học và thuốc trừ sâu dường như cũng đã được sử dụng quá mức quy
định (D’haeze, 1999). Do đất bazal ở Đắk Lắk rất xốp nên các chất dinh dưỡng dễ thẩm
thấu xuống nước ngầm, ảnh hưởng đến nước sinh hoạt và về lâu dài có thể ảnh hưởng
đến việc nuôi trồng tôm ở vùng đồng bằng. Ngoài ra, giá đầu vào (phân bón và nhiên
liệu) cũng đang ngày càng tăng trong thời gian gần đây. Việc sử dụng quá mức những
yếu tố đầu vào này do đó không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn ảnh hưởng đến
kinh tế của hộ gia đình.
3. Mục tiêu của nghiên cứu
Mục tiêu tổng thể
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm phân tích thực trạng sử dụng các nguồn lực dành
cho sản xuất cà phê hiện nay ở hai huyện trồng cà phê điển hình của tỉnh Đắk Lắk. Từ đó,
nghiên cứu sẽ xác định những tác động của việc sử dụng nguồn lực này đến môi trường
và kinh tế các hộ điều tra.
Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu nhằm đạt được một số mục tiêu cụ thể như sau:

3

http://www.laodong.com.vn

4


1. Đánh giá và giải thích việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất cà phê hiện nay ở

a. Thu thập các thông tin, số liệu thứ cấp: chủ yếu là các kết quả nghiên cứu trước đây về
các biện pháp kỹ thuật mà các đơn vị nghiên cứu trong và ngoài nước triển khai về việc
sử dụng các nguồn đầu vào chính trong sản xuất cà phê. Nguồn thông tin chủ yếu là qua
internet, thu viện và các Viện, tổ chức nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả cũng thu thập những
tờ rơi giới thiệu kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cà phê của hệ thống khuyến nông tại tỉnh
Đắk Lắk.
b. Thu thập số liệu sơ cấp
 Lựa chọn địa điểm nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 2 huyện điển hình của tỉnh đắk Lắk, tỉnh sản xuất cà phê
vối lớn nhất của Việt nam. Đó là 2 huyện Krong Ana và CưMgar. Năm 2004, tổng diện
tích trồng cà phê của tỉnh đạt khoảng 160.000 ha. Trong đó, diện tích trồng cà phê của 2
huyện đạt 52339 ha, chiếm 54% tổng diện tích nông nghiệp của hai huyện.
5


Hai huyện và 4 xã được lựa chọn điều tra bắt đầu trồng cà phê từ thập kỷ 60 của thế kỷ 20 từ
nhiều giống cà phê khác nhau do người Pháp đem vào. Quy mô vườn trồng cà phê lúc đó
khoảng 10-20 ha, do các nông trường quốc doanh quản lý. Sau năm 1975, cà phê ở khu vực này
không được đầu tư phát triển.
Cho đến tận năm 1980, trong một số vùng thuộc huyện Krong Ana, đặc biệt là hai xã điều tra Ea
Tieu and Ea Ktul, các công ty liên doanh Việt - Đức đã được thiết lập và năm 1991 được đổi
thành Tổng công ty cà phê Việt Nam, đầu tư phát triển mạnh cà phê ở vùng này. Cà phê ở
CuMgar phát triển chậm hơn Krong Ana.

 Cách lấy mẫu điều tra hộ
Nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 80 hộ Biểu đồ 1: Phân loại hộ điều tra (%)
nông dân thuộc 4 xã, 2 huyện, mỗi
Giàu
xã 20 hộ. Việc lựa chọn dựa trên
Nghèo

Bảng hỏi tập trung trước hết vào các thông tin chung về tổng diện tích đất nông nghiệp,
đất trồng cà phê trong các mảnh khác nhau. Ngoài thông tin về diện tích, phần này cũng
đề cập đến các loại đất, đá mẹ, độ dốc khác nhau trong từng mảnh ruộng. Những thông

6


tin về sản lượng cà phê trong 3 năm, thu nhập của hộ trong 3 năm và tổng ngày công lao
động vụ 2003-04 theo từng công đoạn chăm sóc khác nhau (có so sánh với năm 2002-03)
cũng được thu thập ở đây nhằm có một bức tranh chung về tình hình sản xuất cà phê. Mặt
khác những thông tin về thu nhập và chi phí lao động cũng giúp nhóm nghiên cứu phân
tích được tác động của việc sử dụng các nguồn lực đến kinh tế hộ gia đình.
- Thông tin về thực trạng sử dụng nước (chỉ tập trung vào 1 mảnh ruộng chính):
Phần này đề cập đến các thông tin chung như phương pháp tưới, nguồn nước, số lượng
tưới, chu kỳ tưới. Các câu hỏi giành riêng cho phương pháp tưới phun mưa và phương
pháp tưới gốc và các thông tin về nguồn nước cụ thể (thuỷ lợi, giếng...), các loại công cụ
sử dụng trong tưới nước cũng được nêu ra để tính lượng và chi phí về nước sử dụng thực
tế trong sản xuất cà phê của vụ. Ngoài ra, phần này cũng nêu ra các câu hỏi định tính như
có đủ nước tưới không, việc thiếu nước tưới có ảnh hưởng như thế nào đến cây cà phê và
khó khăn trong việc tưới nước.
- Thông tin về việc sử dụng phân bón: phần này tập trung vào các thông tin như số lượng
bón trong mỗi lần bón, thời gian bón phân, giá phân bón cho các loại phân khác nhau.
Lượng phân bón của các loại cũng được so sánh với mức của năm 2002. Các thông tin về
việc chuyên chở phân bón cũng được để cập đến để thấy được tổng chi phí bón phân của
các hộ nông dân.
- Thông tin về việc sử dụng thuốc trừ sâu: loại thuốc, nhãn hiệu, số lượng phun, thời gian
phun và giá thuốc là những thông tin định lượng chính trong bảng hỏi về thuốc trừ sâu.
Những thông tin về số lượng phun thuốc cũng được so sánh với năm 2002. Các thông tin
về biện pháp sử dụng thuốc phòng trừ sâu bệnh tổng hợp, biện pháp chuyên chở và dự trữ
thuốc trừ sâu cũng được đề cập đến nhằm có bức tranh tổng thể về các biện pháp phòng

câu hỏi tập trung vào những lĩnh vực sau: (i) cơ cấu tổ chức, trình độ cán bộ, mạng lưới
chuyển giao công nghệ của đơn vị; (ii) các thông tin về chuyển giao công nghệ: phương
thức chuyển giao, loại thông tin chuyển giao, tần suất chuyển giao, đối tượng chuyển
giao, mối quan hệ với các trung tâm khuyến nông; (iii) các thông tin cụ thể kỹ thuật như
tỉ lệ lấy chất dinh dưỡng của cà phê Vối ở Tây nguyên, tỉ lệ chất dinh dưỡng thấm xuống
đất ở các điều kiện đất, tuổi cây, năng suất khác nhau...
d. Thảo luận về các vật tư/tài liệu sử dụng lấy từ bên ngoài (số liệu tham khảo của WASI,
NISF, AEC + nêu rõ độ chính xác của số liệu)
6.2. Các biện pháp phân tích số liệu
a. Bản đồ sử dụng, nêu rõ tỷ lệ và hệ phóng + nguồn cung cấp bản đồ (tham khảo + ngày)
b. Các biện pháp phân tích thống kê (kiểm trình giá trị “t”, biểu đồ định tính, phân tích
tương quan, phân tích phương sai ANOVA một chiều).
- Biện pháp kiểm định giá trị “t”, bao gồm hai biện pháp sau:
+ Kiểm định giá trị “t” một đuôi: được sử dụng để so sánh xem có sự khác biệt giữa giá
trị trung bình của mẫu so với giá trị trung bình đã biết của tổng thể. Chẳng hạn như có thể
kiểm định xem lượng nước sử dụng trung bình cho cà phê ở huyện Krong Ana có khác
mức nước do Viện Khoa học Nông nghiệp Tây Nguyên (WASI) khuyến cáo hay không.
+ Kiểm định giá trị “t” hai đuôi: phương pháp này được sử dụng để kiệm định sự khác
biệt giữa hai giá trị trung bình của hai nhóm mẫu thu thập. Chẳng hạn như có thể kiểm
định lượng thuốc trừ sâu sử dụng cho huyện Krong Ana có khác huyện CưMgar hay
không.
- Biện pháp phân tích phương sai ANOVA
Phương pháp được sử dụng để so sánh giá trị trung bình của 3 nhóm mẫu độc lập trở lên.
Chúng ta có thể kiểm định xem có sự khác biệt về thống kê của lượng nước sử dụng ở 4
xã. Nếu sắc xuất p value lớn hơn 0,05 thì chúng ta chấp nhận giả thiết Ho, tức là không
có sự khác biệt về lượng nước sử dụng cho trồng cà phê ở 4 xã nghiên cứu.
- Phân tích tương quan (Correlation analysis).
Phương pháp này dùng để phân tích mối quan hệ giữa hai biến. Chẳng hạn như chúng ta
có thể xem xét mối quan hệ giữa tổng thu nhập của hộ và tổng chi phí cho các đầu vào
sản xuất cà phê. Mối quan hệ này có thể là dương hoặc âm tuỳ theo từng điều kiện, hoàn


CuMgar,
46

45

Krong Ana,
43

43,5 và 46 (xem hình 2 và 3). Tính theo nhóm thu nhập, độ tuổi trung bình của hộ thu nhập cao,
trung bình và thấp lần lượt là 46,44 và 47.
Trong số các hộ được phỏng vấn, có tới 91% nhập cư từ nơi khác đến, chủ yếu từ miền Trung
(Nghệ An, 32%; Quảng Ngãi, 18%, Hà Tĩnh,
Biểu đồ 4: Số thành viên trung bình của hộ
14%). Chỉ có huyện Krong Ana là có hộ dân
và số người trưởng thành phân theo huyện
địa phương chính gốc, chiếm khoảng 18%
tổng số hộ trong huyện. Trong khi đó, ở
Mean adults
CuMgar, tất cả các hộ điều tra đều là dân
6.0
Mean members
nhập cư. Tính trung bình, các hộ nhập cư
5.0
cách đây khoảng 25 năm, đủ dài để định cư
4.0
và phát triển sản xuất.
3.0

Tình trạng nhập cư còn khác biệt theo dân

20
10
0
Krong Ana

CuMgar

Total

9


trước đây họ tham gia vào sản xuất nông nghiệp nhưng chỉ có 2,4 trong số 5 thành viên hiện nay
là nông dân. Điều tra cũng cho thấy, rất nhiều người trưởng thành (đặc biệt là thanh niên) đã ra
thành phố lớn làm việc và học tập chứ không ở nhà làm nông nghiệp. Chỉ có lúc thu hoạch khi
quá hiếm lao động hoặc chi phí sản xuất quá cao, một số người có thể trở về giúp đỡ gia đình.
Khi phân loại hộ theo nhóm, rất khó để có thể thống nhất các tiêu chí phân hộ giàu, nghèo và
trung bình. Nên ban đầu, nghiên cứu chỉ dựa vào quan sát của người điều tra, chính quyền địa
phương và nong dân để xác định nhóm hộ. Theo cách phân biệt này, hầu hết các hộ ở đây đều
thuộc nhóm hộ trung bình, chiếm 80% trong khi hộ giàu và hộ nghèo chỉ chiếm lần lượt 11 và
9%. Tất cả các hộ dân tộc thiểu số đều thuộc nhóm hộ trung bình. Tuy nhiên, do tiêu chí phân
loại không rõ ràng nên trong quá trình phân tích, nhóm nghiên cứu đã chia số hộ điều tra thành 3
nhóm dựa vào thu nhập hàng năm của hộ lấy từ kết quả phỏng vấn, đó là nhóm thu nhập thấp,
trung bình và cao. Số lượng hộ trong mỗi nhóm và thu nhập trung bình của hộ được trình bày
trong bảng sau.
Bảng 1: Thu nhập trung bình của 3 nhóm hộ (000 đ)
Số
GT
quan
trung

đồng/người/năm. Với số lượng thành viên trung bình trong hộ ở Đắk Lắk là 5 người, thu nhập
trung bình của hộ thoát nghèo là phải trên 30 triệu đồng/hộ/năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy có
tới khoảng 30% số hộ điều tra ở đây có thu nhập dưới 30 triệu/năm, nằm trong mức nghèo thế
giới. Nhưng người lại nhóm hộ giàu chiếm 33% có thu nhập rất cao, cá biệt có hộ thu nhập lên
tới 200 triệu đồng/năm. Có tới 5% số hộ có thu nhập trên 100 triệu/năm. Điều này cho thấy
chênh lệch giàu nghèo ở khu vực này khá lớn. Phỏng vấn nông dân cho thấy, sở dĩ khoảng cách
thu nhập khác biệt như vậy phần lớn là do thu nhập từ cà phê tăng đột biến ở một số hộ vào
khoảng giữa những năm 90. Sau khủng hoảng, nhiều hộ vẫn duy trì được thu nhập khá, tuy
không được như trước nhưng ngược lại, một số hộ còn nghèo hơn trước đây. Ngoài ra, một
phần thành viên trong gia đình ra thành phố cũng gửi tiền về nhà, đây cũng là nguồn thu nhập
lớn của một số hộ.
Trình độ giáo dục của các hộ điều tra khá thấp. Có tới 55% số hộ mới tốt nghiệp cấp II và 30%
tốt nghiệp cấp I. Chỉ có 10% tốt nghiệp cấp III và 1% có bằng đại học. Không có ai tốt nghiệp từ
cao học trở lên. Trình độ giáo dục cũng khác biệt giữa các huyện. Krong Ana có trình độ giao dục
cao hơn CuMgar với 1 người tốt nghiệp đại học, 1 người có bằng cao đẳng và 7 người tốt nghiệp
câp III. Trong khi đó, 62,5% số người điều tra ở CuMgar chỉ tốt nghiệp trường cấp II và 3,7% tốt
nghiệp cấp I. Người Kinh (với 59% tốt nghiệp cấp II và không có ai mù chữ) có xu hướng học
cao hơn người dân tộc Edê (với 20% người mù chữ và chỉ có 40% tốt nghiệp cấp II). Phụ nữ có
trình độ giáo dục cao hơn nam giới chút ít với 55 và 58% nam giới và nữ giới có bằng cấp II và 9
và 15% tốt nghiệp trung học.
2. Tình hình sử dụng đất.
Diện tích đất trung bình trên 1 hộ ở hai huyện điều tra khoảng 1,45 ha, trong đó 1,15 ha dành cho
sản xuất cà phê, chiếm 79%.

10


Biểu đồ 6: Tổng diện tích đất nông nghiệp và đất
trồng cà phê phân theo loại hộ (ha/mảnh)


4

2

2

0

0

KrongAna

Nghèo

Trung bình

CuMgar

Giàu

Tình hình sử dụng đất có khác biệt rõ rệt ở hai huyện. Ở Krong Ana, hầu hết đất được giành cho
sản xuất cà phê trong khi ở CuMar, chỉ có 68% tổng diện tích đất nông nghiệp giành cho sản
xuất cà phê, cho thấy xu hướng đa dạng hoá cao hơn ở huyện CuMgar. Có tới 96% số hộ ở đây
đều đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tình hình sử đụng đất giữa các nhóm hộ cũng khác nhau. Biểu đồ 8 cho thấy hộ có thu nhập
càng cao thì càng có xu hướng dành ít đất hơn cho sản xuất cà phê. Trong khi đó, nhóm hộ thu
nhập thấp nhất lại giành toàn bộ đất cho sản xuất cà phê, con số này của nhóm hộ trung bình và
hộ giàu là 79% và 74%. Mức độ tương quan giữa đa dạng hoá và thu nhập của hộ sẽ được
chứng minh bằng thống kê trong phần phân tích cụ thể về thu nhập sau). Diện tích đất của nhóm
người Kinh (1,5 ha tổng diện tích đất NN/hộ và 1 ha cho cà phê) có xu hướng cao hơn nhóm dân


TB

Giàu

11


3. Thu nhập và chi phí
Khác với xu thế tăng sản lượng cà phê liên tục từ giữa thậm kỷ 90 đến năm 2002, kể từ năm
2003 sản xuất cà phê có xu hướng
Biểu đồ 9: Sản lượng cà phê (tấn/hộ)
giảm. Có một số nguyên nhân dẫn đến
tình trạng trên. Trước hết, khi giá cà
phê liên tục giảm từ năm 1998 xuống
3.2
mức thấp kỷ lục năm 2002, đầu tư vào
3.1
sản xuất cà phê do đó cũng giảm liên
3.0
tục. Thứ hai, chính sách của chính phủ
2.9
cũng khuyến khích giảm diện tích trồng
2.8
cà phê ở những khu vực không thuận
2.7
lợi xuống khoảng 450.000 ha trồng cà
2.6
phê cả nước, điều này cũng khiến sản
2.5


NS 05

3.5
3

2.0

2.5

1.5

2

1.0

1.5
1

0.5

0.5

0.0
Nghèo

Trung bình

Giàu


1.
2.
3.
4.
5.

Cà phê

2004
Giá trị
(000 d)

%

%

32283

79.99

33200

79.58

688

1.7

700


3.28

40358

100

41719

100

Lương thực

Tổng

Nhìn chung, tổng thu nhập bình quân hộ năm 2004 có cao hơn chút ít so với năm 2003 (chênh
lệch khoảng 1,4 triệu VNĐ). Cơ cấu tổng thu nhập không khác nhau nhiều trong hai năm 2003 và
2004. Thu nhập từ sản xuất cà phê chiếm gần 80% tổng thu nhập trong cả hai năm. Chăn nuôi
và trồng trọt cũng là những nguồn thu nhập quan trọng, chiếm khoảng 8% tổng thu.
Bảng 3: Nguồn thu nhập phân theo huyện
Krong Ana
Nguồn thu
nhập
2003
2004
Giá trị
Giá trị
(000 đ)
%
(000 đ)
%


Tổng thu nhập hộ là rất khác nhau
trong 2 huyện. Ở huyện CuMgar,
tổng thu nhập hộ trong năm 2004
cao gấp 1,12 lần so với năm 2003,
trong khi ở huyện Krong Ana con số
này có thấp hơn đôi chút so với
năm 2003. Sự khác biệt chủ yếu ở
thu nhập từ sản xuất cà phê. Thu
nhập từ sản xuất cà phê của
CuMgar tăng hơn 2% trong năm
2003-2004 trong khi ở Krong Ana lại
bị giảm mất gần 2%.

CuMgar
2003
2004
Giá trị
Giá trị
(000 đ)
%
(000 đ)
31485
70.58
36399
1341
3.01
1366
4451
9.98

Krong Ana

90

CuMgar

80
70
60
50
40
30
20
10
0
Cà phê

Cây LT

Chăn nuôi

C â y khá c

P hi N N

13


Năm 2003, tổng thu nhập hộ ở huyện CuMgar cao gấp 1,24 lần so với huyện Krong Ana, trong
khi đó con số này của năm 2004 là 1,52 lần. Thông tin chi tiết về nguồn thu nhập năm 2004 sẽ

Biểu đồ 13: Phân loại thu nhập năm 2004 theo nhóm
thu nhập
100%

556

90%

1830

148

80%

Phi NN
Chăn nuôi
Cây LT
Cà phê

981

2615

1919

5462

1104

11346


prop

Tương quan
Pearson
Mức ý nghĩa (2
đuôi)
N
Tương quan
Pearson
Mức ý nghĩa (2
đuôi)
N

prop

1

-.520(**)

.

.000

80

80

-.520(**)


8

Hạng mục
PP tưới gốc
PP tưới phun
Thuốc trừ sâu
Phân bón
Làm cỏ
Làm luống
Tỉa cành
Thu hoạch
Vận chuyển

Chi phí (000 đ/tấn)
2152
2821
208
3009
178
85
212
603
141

Tổng chi phí-tưới
phun
Tổng chi phí-tưới
gốc

7257

thu hoạch (8%). Các hoạt động còn lại mỗi thứ chỉ chiếm từ 2%-3%, chủ yếu là chi phí thuê lao
động. Chi phí về nước tưới, phân bón và thuốc trừ sâu sẽ được phân tích kỹ trong phần tiếp theo
của báo cáo.
Theo một cuộc điều tra do SDC_MISPA tiến hành vào năm 2003, chi phí sản xuất bình quân vào
khoảng 8.020 đ/kg, có cao hơn đôi chút so với năm 2004, mặc dù giá phân bón và xăng dầu
trong năm 2004 cao hơn năm 2003 (Xem Bảng 6). Sở dĩ như vậy là do cuộc điều tra năm 2003
không tính đến chi phí về đất đai, khấu hao đất đai, vay vốn, thuế sử dụng đất. Do vậy khó có thể
so sánh nếu sử dụng các phương pháp tính toán khác nhau.
Bảng 6: Đơn giá các loại phân bón năm 2004
Loại phân bón
SA
Urea
Thermo-Phosphate
Super-phosphate
KCl
NPK
Nitrate
Lime

Đơn giá (d/kg)
2761
4354
1992
1600
3859
4418
3867
3250

15

PP tưới gốc
PP tưới phun
Thuốc trừ sâu
Phân bón
Làm cỏ
Làm luống
Tỉa thưa
Thu hoạch
Vận chuyển
Tổng chi phí-tưới
phun
Tổng chi phí-tưới
gốc

Chi phí
(000 đ/tấn)
2321
2936
209
3009
334
147
491
1205
312

Tưới
phun (%)
28.92


đình, chênh lệch thấp hơn nhiều (161 đ/kg). Với biện pháp tưới gốc, chênh lệch về tổng chi phí
giữa hai huyện là không đáng kể, cho dù chi phí của Krong Ana có cao hơn đôi chút. Trong
trường hợp sử dụng lao động gia đình, khoảng cách về chi phí vẫn còn lớn hơn so với khi không
sử dụng lao động gia đình, ở mức 136 đ/kg. Qua so sánh ở trên có thể thấy rằng sự khác biệt về
chi phí nhân công giữa Krong Ana và CuMgar khi áp dụng biện pháp tưới phun cao hơn so với
khi áp dụng biện pháp tưới gốc.
Bảng 8: Chi phí sản xuất cà phê không sử dụng lao động gia đình phân theo
huyện (000 đ/tấn)

#
1

Activities
PP tưới gốc
PP tưới phun

Không sử dụng lao
động gia đình
Krong Ana CuMgar
2313.504 2008.698
2984.595 2592.937

Có sử dụng lao động gia
đình
Krong Ana
CuMgar
2511.033
2151.424
3116.929
2683.548

157
102
233
571
93

246
2836
359
145
353
1272
397

170
3244
318
150
574
1151
100

Tổng chi phí-tưới phun
Tổng chi phí-tưới gốc

7324
6653

7163
6579

Số hộ áp dụng biện pháp tưới gốc ở hai huyện không khác nhau nhiều (82 % và 88 % số hộ
ở Krong Ana và CuMgar). Lý do khiến cho Krong Ana sử dụng phương pháp tưới phun nhiều
hơn là vì nhiều hộ nông dân ở đây ký hợp đồng sản xuất cà phê với các nông trường quốc
doanh nên được hỗ trợ chi phí đầu tư trang thiết bị và hướng dẫn phương pháp tưới nước.
Tuy nhiên, rất khó có thể rút ra kết luận do số lượng các hộ dùng biện pháp tưới phun mưa
rất ít. Chỉ có thể đưa ra kết luận mang tính xu hướng. Điều này có thể thấy rõ phân bổ số hộ
áp dụng các biện pháp tưới khác nhau theo các nhóm trong bảng sau.
Bảng 9: Số hộ sử dụng các biện pháp tưới khác
nhau trong năm 2004
Nhóm
Tưới phun
Tưới gốc
Tổng số
12
68
Dân tộc

17


Kinh
E-đê

12

63
5

Krong Ana
CuMgar

Biểu đồ 15: Tỷ lệ % số hộ áp dụng các biện
pháp tưới khác nhau
Tưới gốc

90

80.00

80

70.00

70

60.00

Tưới phun

100

60

50.00

50

40.00

40


phương pháp tưới phun ít hơn nhóm có
thu nhập thấp và trung bình nhưng đó
cũng chỉ là xu hướng như đã trình bày ở
trên, số hộ áp dụng biện pháp tưới phun
hạn chế.

Biểu đồ 16: Tỷ lệ % số hộ sử dụng các nguồn
nước khác nhau
70
60
50
40
30
20
10
0

Các hộ điều tra sử dụng các nguồn nước
khác nhau: nguồn nước mặt (bồn chứa
nước, công trình thuỷ lợi), và nước ngầm
(giếng đào và giếng khoan). Có tới 88 % số
hộ dùng nước ngầm (65% giếng đào và
23% giếng khoan). Chỉ có 1,2% số hộ dùng
nước từ bồn chứa gần đó và 10% sử dụng
nước của các công trình thuỷ lợi. Nguồn
nước cũng được chia thành nước công
cộng và tư nhân. Hầu hết số hộ đều sử
dụng nguồn nước tư nhân (chiếm 85%). Chỉ
có 15% số họ sử dụng các công trình thuỷ



18


Biểu đô 18: Biều đồ phân bổ lượng mưa tại Đắk
Lắk

lợi hoặc nguồn nước công cộng
do nhà nước đầu tư.

Các hộ gia đình điều tra tưới
khá nhiều lần trong cả năm
2003
2003 và 2004. Có tới 65 % và
2004
62.5 % số hộ tưới 4 lần trong
hai năm 2003 và 2004. Có
1,25% số hộ tưới từ 6 lần trở
lên trong 2 năm này. Sở dĩ số
lượng tưới trong hai năm
không khác nhau nhiều là do
cả hai năm này đều là năm
khô hạn với lượng mưa trung
bình năm 2003 (1,680 mm)
chỉ cao hơn năm 2004 chút ít
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
(1,545 mm). Phân tích phân
bổ lượng mưa theo tháng cho
thấy đối với sản xuất cà phê, năm 2004 là năm khó khăn hơn nhiều do vào những tháng đầu
năm và cuối năm khi bắt đầu mùa

-.317(**)
1
4
Pearson
thích hoa nở nốt 20% còn lại. Đến
Mức ý nghĩa (2
tháng 3 và tháng 4, ở Đắk Lắk đã
.004
.
đuôi)
bắt đầu có mưa, đủ để quả phát
N
80
80
triển. Tuy nhiên, trên thực tế hầu
** Tương quan có ý nghĩa ở mức 0.01 (2 đuôi)
hết các hộ đều tưới từ 4 lần trở lên,
gây lãng phí nước nghiêm trọng.
500
450
400
350
300
250
200
150
100
50
0


10
0
3 l?n

4 l?n

5 l?n

7 l?n

19


này có vẻ như trái ngược với bản chất của biện pháp tới phun là tốn nhiều nước hơn biện
pháp tưới gốc. Nhưng trên thực tế, lượng nước tưới còn phụ thuộc vào nhận thức của hộ
nông dân, lượng nước sẵn có và hỗ trợ của các dịch vụ khuyến nông. Như đã đề cập ở trên,
phần lớn các hộ sử dụng biện pháp tưới phun ở Krong Ana được hỗ trợ kỹ thuật của các
nông trường quốc doanh nên họ áp dụng hiệu quả hơn CuMgar.
Bảng 11: Lượng nước trung bình áp dụng phương pháp tưới khác nhau
Số quan
GT trung
Sai
Biến số
sát
bình
số
Min Max
Lượng nước/cây-tưới gốc (m3)
68
0.82

thấp hơn CuMgar (Bảng 12).
Trong số các hộ dùng biện pháp tưới gốc, lượng nước tưới cao hơn ở nhóm thu nhập cao,
trung bình và thấp ( 976, 735 và 722 lít/cây). Điều này được minh chứng rõ trong phân tích
độ tương quan giữa tổng thu nhập và lượng nước sử dụng trong trường hợp tưới gốc.
Tương quan này có ý nghĩa với độ tin cậy tới 99% (Pearson R=0.391, p
năm cho biện pháp tưới gốc nhiều hơn hai nhóm còn lại trong khi nhóm thu nhập thấp lại
dùng nhiều nước hàng năm hơn nhóm thu nhập trung bình.
Đối với các hộ dùng biện pháp tưới phun mưa, bức tranh này có khác đôi chút. Nhóm thu
nhập cao vẫn dùng lượng nước lớn nhất (795 lít/cây) trong khi nhóm thu nhập thấp (634
lít/cây) dùng nhiều nước hơn nhóm thu nhập trung bình (569 lít/cây). Lượng nước hàng năm
mà các hộ sử dụng cho biện pháp này tăng theo thu nhập (1,836, 2,420, and 5,950 m3 /ha
cho 3 nhóm thu nhập thấp, trung bình và cao). Mối quan hệ này có ý nghĩa thông kê ở mức
độ tin cậy 95% trong phân tích tương quan giữa thu nhập và lượng nước mà hộ sử dụng
(Pearson R=0.391, p
lit/ha
lít/ha
m3/cây
Krong Ana
0.654
2909
2163
0.610
CuMgar
0.959
3450
3720
0.654
Nhóm thu nhập
Nghèo
0.722
3017
1836
0.634
Trung bình
0.735
2982
2420
0.569
Giàu
0.976
3553
5940
0.795
Nguồn nước

khác nhau và các điều kiện ưu đãi của chính quyền địa phương (ví dụ như tài nguyên nước
công cộng, tư nhân). Việc phân tích chi phí nước tưới ở 80 hộ khác nhau trong nghiên cứu
này đã cho thấy rõ thực tế nêu trên.
Trong trường hợp sử dụng lao động gia đình, tổng chi phí nước tưới khi áp dụng biện pháp
tưới gốc (2.321 nghìn VND/tấn) thấp hơn 26% so với khi áp dụng biện pháp tưới phun (2.936
nghìn VND/tấn). Hơn nữa, chi phí tưới gốc cũng dao động khá nhiều, từ chi phí tối thiểu là
712 nghìn VND/tấn cho tới hơn 11 triệu VND/tấn. Trong khi đó chi phí tưới phun chỉ dao động
từ 1,7 triệu VND/tấn đến 4,2 triệu VND/tấn. Trong biện pháp tưới gốc tỷ lệ cao nhất là chi phí
cố định, chiếm gần 70% tổng chi phí. Chi phí cố định được đầu tư khá cao trong biện pháp
tưới phun. Điều này phần nào khiến nông dân không muốn áp dụng biện pháp tưới phun,
mặc dù họ biết rằng biện pháp này là hiệu qủa hơn so với tưới gốc. Chi phí hoạt động của
biện pháp tưới phun còn thấp hơn đôi chút so với tưới gốc (852 so với 928 nghìn đồng/tấn
khi sử dụng lao động gia đình) bởi vì tưới phun sử dụng nhân công ít hơn so với tưới gốc.
Trong trường hợp không sử dụng lao động gia đình, chi phí khi áp dụng biện pháp tưới gốc
cũng thấp hơn so với khi áp dụng biện pháp tưới phun (lần lượt là 2.152 và 2.821 nghìn VND
t-1 ) với độ lệch tiêu chuẩn cũng khác nhau (1.414 và 738 nghìn VND t-1).
Qua phân tích ở trên có thể thấy chi phí tươi phun cao hơn so với chi phí tưới gốc. Tuy nhiên
hiện nay biện pháp tưới gốc sử dụng nhiều nước hơn so với biện pháp tưới phun, do vậy
trong tương lai nếu người nông dân phải trả tiền nước tưới và tiếp tục áp dụng biện pháp
tưới như hiện nay thì chi phí tưới gốc sẽ rất cao. Đây cũng là một yếu tố cần phải xem xét.
Bảng 15: Chi phí tưới (000d/tấn quả)
Biến
Số hộ
TB
Sai số
Min
Tưới gốc - có LĐ gia
đình
68
2321

Việc phân tích phân bổ chi phí theo các nhóm khác nhau là một vấn đề rất đáng để xem xét.
Nhìn chung, chi phí tưới của Krong Ana cao hơn CuMgar, đặc biệt là về chi phía biến đổi.
Chi phí cố định của những hộ áp dụng biện pháp tưới gốc ở Krong Ana cao hơn 9% so với ở
CuMgar. Chi phí hoạt động ở Krong Ana thậm chí còn cao hơn 22% so với ở CuMgar. Sở dĩ
như vậy là vì cả giá nhân công và giá xăng dầu ở Krong Ana (25,2 nghìn đ/người-ngày và
4,5 nghìn đ/lít) đều cao hơn ở CuMgar (24 nghìn đ/người-ngày và 4,5 nghìn đ/lít).
Tất cả các hạng mục chi phí của những hộ sử dụng nguồn nước công cộng đều cao hơn so
với các hộ sử dụng nguồn nước tư nhân. Điều này là do trong biện pháp tưới gốc, chi phí lắp
đặt ống dẫn nước và bơm nước từ nguồn công cộng đều cao gấp 4 và 1,1 lần so với khi sử
dụng nguồn nước tư nhân. Chỉ có chi phí đào giếng và nước tưới công cộng là thấp hơn so
với của tư nhân, mặc dù chệnh lệch không nhiều như vậy (chỉ hơn 0,12 và 50 lần) (song cần
lưu ý rằng chi phí tưới nước của nguồn nước công cộng và nguồn nước tư nhân chỉ vào
khoảng 100 nghìn đ/ha so với 2 nghìn đ/ha, do đó mức chênh lệch 50 lần như vậy không
phải là qúa nhiều). Với biện pháp tưới phun, chi phí lắp đặt ống dẫn nước và đào giếng của
chủ sở hữu tư nhân cao gấp 1,4 và 8 lần so với của công cộng. Tuy nhiên, chi phí về máy
bơm, tưới nước và dụng cụ tưới phun của công cộng đều cao hơn rất nhiều so với của tư
nhân. Chi phí nhân công và nhiên liệu không khác nhau nhiều giữa hai nhóm này.
Bảng 16: Chi phí tưới theo nhóm (000 đ/tấn quả)
Chi phí cố đình
Chi phí hoạt động
Ko LĐ
Có LĐ
gia
Các nhóm
Tưới gốc
Tưới phun
gia đình
đình
Huyện
Krong Ana

SA
Urea
Thermo-Phosphate
Super-phosphate
KCl

Lượng (kg/tấn)
102.23
97.06
97.26
7.41
93.63

%
8.96
8.51
8.53
0.65
8.21

23


NPK
Nitrate
Vôi
Phân xanh
DAP
Khác
Tổng

NPK
Nitrate
Vôi
Phân xanh
DAP
Khác
Tổng

Lượng (kg/tấn)

68
70
40
15
53
360
8
18
434
0
22
1088

%

6.25
6.43
3.68
1.38
4.87

20.74
0.00
4.20
26.78
1.93
0.84
100

Các nhóm thu nhập cũng sử dụng phân bón khác nhau. Nhóm thu nhập cao sử dụng ít phân bón
nhất 1061 kg/tấn hạt so với 1240 kg và 1161 kg/tấn hạt của nhóm thu nhập trung bình và thấp.
Điều này có thể là do nhóm thu nhập cao có nhiều kiến thức hơn và có nhiều tiền đầu tư ban đầu
chăm sóc cây cà phê hơn nên đất tốt, không phải dùng nhiều phân bón. Mặt khác, họ sử dụng
chủ yếu là phân hoá học (chiếm tới 40% tổng lượng phân), nên tác dụng với đất mạnh hơn.
Trong khi đó, nhóm thu nhập thấp không có nhiều tiền mua phân hoá học nên họ chủ yếu sử
dụng chủ yếu là phân xanh (chiếm tới hơn 40% tổng lượng phân).
Bảng 19: Lượng phân bón theo loại, theo nhóm hộ (kg/tấn)
Nghèo
TB
Giàu
Loại phân
Lượng
%
Lượng
%
Lượng
%
SA
72
6.21
86

285 28.01
Nitrate
0
0.00
2
0.19
9
0.89

24


Vôi
Phân xanh
DAP
Khác
Tổng

0
471
0
15
1161

0.00
40.60
0.00
1.29
100



Bảng 20: Lượng phân bón sử dụng trong sản xuất cà phê 2004
(kg/tấn quả khô)
Các yếu tố
Số hộ
TB
Độ lệch Min
Max
P
80
69.98
41.81
20.31
304.62
N
80
191.28
104.43
75.00
788.31
K
80
173.49
136.04
41.03
1107.69
Có thể phân tích xu thế sử dụng các yếu tố này theo từng nhóm dân số như sau. Hộ nông dân ở
CuMgar bón nhiều phân hoá học hơn huyện Krong Ana do tổng lượng phân bón của CuMgar
cũng lớn hơn Krong Ana theo phân tích ở trên với mức chênh lệch 103 kg phân bón/tấn. Trong
số 3 yếu tố này, chênh lệch giữa hai huyện lớn nhất là trong sử dụng Kali với mức chênh 58 kg

168
142
Giàu
83
232
219
Nhóm thu nhập cao sử dụng lượng dinh dưỡng trong phân nhiều hơn hai nhóm còn lại, đặc biệt
là Kali trong khi lượng sử dụng của nhóm thu nhập thấp và thu nhập trung bình chênh lệch không
nhiều. Kết quả cho thấy nhóm thu nhập cao sử dụng nhiều phân hoá học hơn nhóm thu nhập
trung bình 77 kg và 64 kg đạm và Kali, nhờ thu nhập và đầu tư cây trồng cao của nhóm này.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status