Luận văn thạc sỹ
Nguyễn Thị Mận
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
Học viên
Nguyễn Thị Mận
Lớp KTMT 2012B
Viện Khoa học và1 Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
Nguyễn Thị Mận
LỜI CẢM ƠN!
Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với thầy
PGS.TS Nguyễn Hoài Châu, Viện trưởng Viện Công nghệ môi trường – Viện Hàn
lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tiếp nhận tôi vào thực tập tại viện, tận
tình hướng dẫn, góp ý và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt
nghiệp này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới KSC. Nguyễn Văn Hà và TS. Lê Thanh
Sơn, cán bộ Viện Công nghệ môi trường đã giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình thực
tập và xây dựng báo cáo.
ANK
CFU
CHTĐH&CN
CNMT
FEM
HHĐH
ORP
QA
QCa
STD
STEL
TDS
VKHK
VHLKHCNVN
Dung dịch Anolit trung tính
Số đơn vị hình thành khuẩn lạc
Các hệ thống điện hóa và công nghệ
Công nghệ Môi trường
Môđun điện hóa theo dòng chảy
Hoạt hóa điện hóa
Thế ôxy hóa khử
Lưu lượng Anolit đầu ra
Lưu lượng Catolit đầu ra
Độ lệch chuẩn
Sterility electrochemistry
Tổng chất rắn hòa tan
vi khuẩn hiếu khí
Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Lớp KTMT 2012B
Viện Khoa học và6 Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
Nguyễn Thị Mận
MỞ ĐẦU
Thực phẩm là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của cơ thể,
đảm bảo sức khỏe con người nhưng đồng thời cũng có thể là nguồn gây bệnh nếu
không được đảm bảo vệ sinh. Nguồn gây bệnh từ thực phẩm có thể xuất hiện ở
nhiều khâu từ sản xuất đến vận chuyển, bảo quản, chế biến, nấu ăn và cách ăn.
Không có thực phẩm nào được coi là có giá trị dinh dưỡng nếu nó không đảm bảo
vệ sinh.
Do đó, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được đặt lên hàng đầu trong
những chương trình phát triển của các quốc gia. Trong những năm gần đây, tình
hình ngộ độc thực phẩm có xu hướng gia tăng cả về số lượng lẫn qui mô tác hại ở
nhiều nước. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm Việt Nam
có 8 triệu người (chiếm xấp xỉ 1/10 tổng dân số) bị ngộ độc thực phẩm hoặc ngộ
độc do liên quan đến thực phẩm. Ngộ độc thực phẩm do nhiều nguyên nhân khác
nhau gây ra, nhưng trong số đó có đến 50% các vụ ngộ độc thực phẩm là do tác
nhân vi sinh vật [16].
Hiện nay, xuất khẩu thực phẩm đang chiếm tỷ trọng quan trọng trong nền
kinh tế nước ta. Sự hội nhập kinh tế theo xu hướng toàn cầu hóa có tác động rất lớn
đến các tiêu chuẩn về chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm. Việc đẩy mạnh xây
biến thực phẩm’’ với các nội dung chính như sau:
• Nghiên cứu sơ đồ công nghệ sản xuất anolit, khảo sát các thông số lí – hóa cơ bản
của thiết bị và đánh giá khả năng khử khuẩn anolit trong phòng thí nghiệm.
• Khảo sát ảnh hưởng của các thông số kỹ thuật đến chất lượng Anolit.
• Khảo sát thực trạng nhiễm khuẩn dụng cụ và môi trường trong cơ sở chế biến thực
phẩm để lựa chọn đối tượng thử nghiệm.
• Đánh giá hiệu quả khử trùng của anolit đối với các dụng cụ nhỏ và bề mặt tại cơ sở
chế biến thủy sản và so sánh với phương pháp thường dùng của nhà máy.
Lớp KTMT 2012B 8
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
Nguyễn Thị Mận
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các phương pháp khử trùng thường dùng hiện nay
Theo truyền thống, các thuật ngữ “khử trùng” được dùng để mô tả các qui
trình và các chất sử dụng trong công nghiệp chế biến thực phẩm nhằm đảm bảo các
chỉ tiêu vi sinh đáp ứng được các yêu cầu an toàn vệ sinh thực phẩm.
Hiện nay, một số biện pháp khử trùng có hiệu quả được sử dụng phổ biến là
khử trùng bằng nhiệt, tia cực tím hoặc sử dụng hóa chất. Việc dùng nhiệt ở dạng hơi
nước hoặc nước nóng là phương pháp khử trùng rất an toàn và được sử dụng rộng
rãi.
1.1.1. Khử trùng bằng nhiệt[22]
Khử trùng bằng nhiệt là phương pháp dùng nhiệt độ cao thích hợp và trong
thời gian vừa phải để diệt vi sinh vật. Trong quá trình diệt khuẩn bằng nhiệt, tốc độ
1.1.2. Khử trùng bằng tia cực tím[22]
Tia cực tím (UV) là tia bức xạ điện từ có bước sóng khoảng 4 – 400nm
(nanometer). Độ dài sóng của tia cực tím nằm ngoài vùng phát hiện, nhận biết của
mắt thường. Dùng tia cực tím để khử trùng không làm thay đổi tính chất hóa học và
lý học của nước.
Tia cực tim tác dụng làm thay đổi DNA của tế bào vi khuẩn, tia cực tím có
độ dài bước sóng 254nm có khả năng diệt khuẩn cao nhất. Tuy nhiên, phương pháp
này không thích hợp cho khử trùng vệ sinh chung.
1.1.3. Khử trùng bằng hóa chất[15]
Trong trường hợp dùng hóa chất khử trùng, tỉ lệ vi sinh vật chết phụ thuộc
vào hiệu lực của nó đối với từng loài, nồng độ, nhiệt độ, pH cũng như mức độ tiếp
xúc giữa chất khử trùng và vi sinh vật và các đặc tính khác. Tương tự như khử trùng
bằng nhiệt, những vi sinh vật khác nhau có khả năng đề kháng khác nhau đối với
hóa chất khử trùng. Ngoài ra, những tạp chất vô cơ hoặc hữu cơ trong môi trường
cũng làm giảm đáng kể tỉ lệ chết của vi sinh vật. Vì vậy, việc khử trùng hiệu quả
nhất khi làm vệ sinh tốt.
Chất khử trùng lý tưởng cho các cơ sở chế biến thực phẩm cần có những đặc
tính sau:
• Phổ kháng khuẩn rộng, tác dụng nhanh.
• Dễ dàng tráng rửa sạch khỏi mặt bằng nhà xưởng sau khi khử trùng và không
•
•
•
•
•
để sót lại các chất có thể gây hại cho sản phẩm.
Không làm hư hại đến trang thiết bị trong nhà máy.
Không gây nguy hiểm cho người sử dụng.
Phù hợp với qui trình khử trùng đang sử dụng của xí nghiệp.
tính ôxy hóa mạnh. Nó có thể hiệu quả hơn so với clo trong khả năng tiêu diệt hoặc
làm giảm vi khuẩn, và nó vẫn giữ được một phần chức năng kháng khuẩn khi có
mặt chất thải hữu cơ. Vì thế, nó đặc biệt có tác dụng tiêu diệt đối với vi sinh vật
trong màng sinh học. Nó cũng ít ăn mòn thép và ít chịu ảnh hưởng của pH hơn clo.
Tuy nhiên, chi phí cho thiết bị ban đầu tốn kém; dioxit clo là chất không bền, nó có
khả năng gây nổ và rất độc hại nếu không sử dụng đúng cách. Vì vậy, cần kiểm soát
cẩn thận khi lựa chọn nó làm chất khử trùng.
Ozon
Ozon là một chất không bền, yêu cầu phải được sản xuất tại chỗ, chi phí cao. Là
một chất khử trùng mạnh hơn so với clo nhưng yêu cầu việc theo dõi cẩn thận để tránh
phát sinh các khí độc hại. Hoạt tính của nó mất nhanh khi tiếp xúc với chất hữu cơ.
•
Các hợp chất chứa Iốt
Iodophor là chất có tính sát khuẩn phổ rộng như canxi hypoclorit. Hoạt tính
diệt khuẩn của iodophor được thực hiện nhờ giải phóng các phân tử iốt dạng tự do.
Thường được kết hợp với các hợp chất khác để tăng hiệu quả khử trùng.
Lớp KTMT 2012B 11
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
Nguyễn Thị Mận
Chúng tiêu diệt được nhiều loại vi khuẩn, bao gồm nấm men và nấm mốc,
ngay khi ở nồng độ thấp. Chúng chịu đựng được khi có mặt lượng chất hữu cơ vừa
dịch thu nhận được từ dung dịch nước có độ khoáng hóa thấp trong buồng điện hoá
có màng ngăn có hoạt tính phản ứng với các tham số hóa lý khác thường. Khác xa
so với các mẫu tương tự được điều chế bằng cách pha chế các hóa chất tương ứng
Lớp KTMT 2012B 12
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
Nguyễn Thị Mận
vào nước [1-3]. Các khảo sát tiếp theo đã chỉ ra rằng sự khác biệt về tính chất giữa
các dung dịch được điều chế điện hóa từ dung dịch muối loãng và các dung dịch
tương tự được điều chế hóa học không phải là một đại lượng bất biến. Sau một thời
gian nào đó các thông số hóa lý của chúng tự thay đổi và trở thành ngang bằng các
thông số tương ứng của dung dịch mẫu, nghĩa là khi đó các định luật điện phân cổ
điển được bảo toàn. Khoảng thời gian phục hồi này có thể kéo dài từ hàng chục
phút đến hàng chục giờ thậm chí hàng trăm giờ [4-5].
Các tham số hóa lý khác biệt đáng kể này chính là cơ sở để V. M. Bakhir gọi
các dung dịch trong giai đoạn phục hồi về trạng thái cân bằng nhiệt động học là các
dung dịch HHĐH và phát biểu các nguyên tắc cơ bản của công nghệ hoạt hóa điện
hoá. Việc nghiên cứu khai thác các hiệu ứng HHĐH đã tạo cơ sở cho việc phát triển
các công nghệ HHĐH khác nhau mà bản chất của chúng bao gồm việc ứng dụng
nước và các dung dịch ở trạng thái giả bền vào các quá trình công nghệ khác nhau,
nghĩa là sử dụng chúng trong thời gian chúng thể hiện hoạt tính lý-hóa cao nhất.
Các chất lỏng ở trạng thái giả bền thu được bằng cách xử lý điện hóa dung dịch
trong một điện trường đơn cực được V. M. Bakhir gọi là dung dịch HHĐH, còn
công nghệ điều chế và ứng dụng chúng được gọi là công nghệ HHĐH.
ong và chế biến thủy sản, trong các cơ sở công cộng (nhà tắm, xưởng giặt, hiệu cắt
tóc, nhà trẻ, nhà nghỉ, nhà an dưỡng ...).
Cho tới nay các hệ thống buồng phản ứng điện hóa đã được hoàn thiện, đáp
ứng việc chế tạo nhiều loại thiết bị HHĐH sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau
(bảng 1.1).
Bảng 1.1: Lịch sử phát minh các buồng phản ứng điện hóa của V.M.Bakhir [21]
Kí hiệu
Năm hoàn
FEM- 1
FEM- 2
FEM- 3
thành
1989
1992
1994
FEM- 4
1998
FEM- 7
2000
Patent
Hiện tại, có hai loại buồng điện hóa FEM MB-11, MB- 26 (hình 1.2) được
chế tạo và cải tiến để cung cấp cho các đối tác chế tạo thiết bị. Nó có những ưu
Lớp KTMT 2012B 14
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
Nguyễn Thị Mận
điểm hơn hẳn các sản phẩm trước đó như tăng năng suất điện phân, giảm được các
chi phí về muối, điện năng tiêu hao và tăng năng suất điều chế Clo hoạt tính.
Đường ra
Anolit
Đường ra
Catolit
Catốt
Màng
ngăn
Anốt
Đường
nước vào
Đường
muối vào
Hình 1.1. Cấu tạo của buồng
điện hóa MB- 11
xuyên màng thay đổi (tới 1kg/cm2).
+ Màng ngăn có tính lưỡng cực có khả năng
hấp phụ các hạt điện tích dương trên mặt hướng về
Anốt, còn mặt hướng về Catốt – hấp phụ điện tích
âm, nhờ vậy giảm được điện trở đối với các dung
dịch điện ly có độ khoáng hóa thấp, đồng nghĩa với
việc giảm chi phí điện năng của quá trình hoạt hóa
điện hóa; tạo điều kiện thuận lợi để dung dịch điện
phân chuyển động trong các khoang Anốt và Catốt
theo đường xoắn ốc (hình 1.3), nhờ vậy các vi thể
tích nước được tiếp xúc tối đa với lớp điện kép trên
bề mặt điện cực. Ngoài ra, bằng cách lựa chọn tối
ưu mật độ dòng điện và hiệu áp giữa hai khoang
điện phân có thể sử dụng màng ngăn như một màng
chọn lọc ion.
Hình 1.3. Mặt cắt mô tả
chuyển động xoắn ốc của các
dòng anolit và catolit trong
quá trình HHĐH
+ Trong các hệ thống điện hóa xử lý nước các tế bào FEM có thể được kết
nối song song hoặc nối tiếp thành một môđun thủy lực thống nhất và liên hoàn mà
các hệ điện phân truyền thống khác không thể có được.
1.2.2. Khái niệm dung dịch siêu ôxy hóa
Dung dịch siêu ôxy hóa là chất lỏng không màu, có mùi clo nhẹ, thành phần
chính là các hoạt chất ôxy hóa: HO*, HO 2-, H2O2, O3, HClO… được điều chế từ
ngăn Anốt của thiết bị hoạt hóa điện hóa (thường được gọi là Anolit). Dung dịch
này được đặc trưng bởi trạng thái giả bền của các hoạt chất và có tính hoạt động hóa
học đặc biệt cao hơn mức bình thường rất nhiều lần. Chúng có xu hướng tiến dần
nhưng cho đến nay, khi tính toán cân
bằng năng lượng tiêu hao cho quá trình
điện phân, người ta vẫn không có được
kết quả tương ứng với lý thuyết: một
phần nào đó của năng lượng đưa vào
đã bị mất đi mà không rõ nguyên nhân.
Hình 1.4. Sơ đồ sản xuất nước ôxy hóa
điện hóa từ dung dịch muối ăn
Tại khoang anốt[9]:
2Cl- - 2e
→
2H2O – 4e
→
Cl2 + H2O
→
OH - e
→
H2O - e
→
3OH- - 2e
→
HO2 -e
→
2H2O – 2e
→
O2 + H2O - 2e
→
O2 + 2OH- - 2e
→
Luận văn thạc sỹ
Nguyễn Thị Mận
chủ yếu được sử dụng vào việc thực hiện các phản ứng hóa học và tăng cường động
năng của các nguyên tử, phân tử và ion được thể hiện dưới dạng phát tán nhiệt.
Tác giả phát minh hiện tượng HHĐH đã đề xuất giả thuyết cho rằng một
phần năng lượng đó được tiêu hao nhằm làm tăng nội thế năng của các thành phần
có mặt trong dung dịch điện ly trong khi nhiệt độ và áp suất của hệ phản ứng không
thay đổi [7]. Sự gia tăng thế năng đó không liên quan đến quá trình chuyển mức
năng lượng của các điện tử, mà chỉ là sự tăng giảm bán kính của các quỹ đạo điện
tử trong mức năng lượng của chúng (hình 1.5). Như vậy, chính lượng dư thế năng
trong các nguyên tử đã làm cho chúng tồn tại trong trạng thái kích thích giả bền, thể
hiện khả năng phản ứng cao trong quá trình phục hồi từ trạng thái kích thích về
trạng thái cân bằng. Hiển nhiên là lượng dư nội thế năng dần dần sẽ chuyển về động
năng (dưới dạng nhiệt năng) và hoạt tính của nước sẽ giảm dần về giá trị không.
Hình 1.5. Đường cong thế năng của
một chất trong quá trình điện hóa:
d
(1) đường điện hóa bình thường
(2) đường điện hóa hoạt hóa catốt
(3) đường điện hóa hoạt hóa anốt
r
Quan sát đường cong (2) ta thấy sau khi dung dịch được hoạt hóa đưa lên
trạng thái kích thích giả bền (điểm d), để về trạng thái bền vững ban đầu (điểm a)
Nói chung các quá trình hoạt hóa tồn tại được chỉ là do hai quá trình phục
hồi theo động năng (nhiệt năng) và theo thế năng thường khác nhau đáng kể về thời
gian, trong đó quá trình thứ nhất diễn ra nhanh hơn nhiều so với quá trình thứ hai
mà kết quả đã được khẳng định bằng nhiều số liệu thực nghiệm [8].
1.2.4. Một số đặc điểm của công nghệ HHĐH
Công nghệ HHĐH và công nghệ có sử dụng HHĐH có các đặc điểm chính
sau:
Việc xử lí nước bằng quá trình điện hóa Anốt và Catốt được tiến hành trong
bình phản ứng điện hóa có màng ngăn kiểu dòng chảy trong điều kiện loại trừ hoàn
toàn sự trộn lẫn các sản phẩm Anốt và Catốt của phản ứng điện hóa vào nhau.
Tạo điều kiện cho số lượng lớn các vi thể tích nước tiếp xúc với phần khuếch
tán của lớp điện kép được xác lập trên ranh giới của hai pha “điệc cực – chất điện
li” trong thời gian tác động điện hóa cực ngắn nhằm làm giảm mục đích tiêu hao
năng lượng do giải phóng nhiệt.
Trong đa số các công nghệ truyền thống, trong đó có cả công nghệ hóa học
và điện hóa, người ta sử dụng nước và các dung dịch có các thông số không phụ
thuộc vào thời gian. Trong công nghệ HHĐH người ta điều chế nước và dung dịch
Lớp KTMT 2012B 19
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
Nguyễn Thị Mận
ở trạng thái giả bền. Do đó cũng với các khái niệm truyền thống như nhiệt độ, nồng
độ, thành phần hóa học và các thông số hóa lý khác nhau còn cần phải biết rõ thời
gian quá trình hoạt hóa đã trôi qua, độ lệch của các thông số lý - hóa khỏi trạng thái
Luận văn thạc sỹ
Nguyễn Thị Mận
tự do hoặc hydrat hóa, mà nhờ chúng các dung dịch anolit và catolit có thể trở thành
chất xúc tác cho rất nhiều các loại phản ứng hóa học và hóa sinh khác nhau nhờ vào
khả năng làm giảm ngưỡng năng lượng hoạt hóa của các thành phần tham gia phản
ứng.
ORP phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố thứ hai – nghĩa là phụ thuộc vào sự hình
thành các hợp chất siêu hoạt tính với thế ôxy hóa trong anolit cao khác thường với
thế ôxy hóa khử âm trong catolit. Về bản chất chỉ số ORP không ổn định, đặc biệt là
đối với catolit, và phụ thuộc nhiều vào các điều kiện bên ngoài (vật liệu bình chứa,
nhiệt độ, bề mặt tiếp xúc với không khí, ánh sáng mặt trời...). Mặc dù ở chừng mực
nào đó các tham số đặc trưng cho yếu tố thứ ba cho đến nay vẫn chưa được xác lập
rõ ràng nhưng những biến đổi của cấu trúc nước trong điện trường đơn cực gần bề
mặt điện cực với cường độ vài triệu von/cm có thể là nguyên nhân làm cho bản thân
nước và các phần tử vật chất trong đó được kích thích lên trạng thái giả bền.
Sau khi ngừng tác động điện hóa, các phần tử trong dung dịch nước được
đưa lên trạng thái kích thích giả bền được đặc trưng bởi các tham số hóa lí dị
thường. Trạng thái giả bền của một chất đã được hoạt hóa có thể được duy trì trong
thời gian vô định với điều kiện không có sự trao đổi năng lượng với môi trường
xung quanh. Sự tắt dần của trạng thái kích thích giả bền là một quá trình không
thuận nghịch xảy ra và bằng cách phát tán năng lượng vào môi trường dưới dạng
bức xạ nhiệt hoặc sóng siêu cao tần.
1.2.6. Sự khác biệt giữa quá trình hoạt hóa điện hóa với các quá trình công nghệ
hóa học và điện hóa truyền thống.
Công nghệ hoạt hóa điện hóa đặt nền móng cho việc điều chế các dung dịch
giả bền có hoạt tính xúc tác lý – hóa dị thường trong các hệ kỹ thuật điện hóa đặc
+1200 mV )
• Khoảng thay đổi pH của nước HHĐH cực lớn (từ 1,9 đến 12,5)
1.3. Hiệu quả khử trùng của anolit
1.3.1. Thành phần và tính chất dung dịch hoạt hóa điện hóa anolit
a. Thành phần
Anolit là sản phẩm được tạo thành trong ngăn anốt của buồng phản ứng điện
hoá có màng ngăn từ quá trình điện phân dung dịch muối loãng. Do những tác động
lý hoá xảy ra trong lớp tiếp xúc giữa điện cực và dung dịch, nhiều chất có hoạt tính
khử trùng cao được hình thành trong anolit như HClO, ClO -, ClO2, Cl-… là các
chất clo hoạt tính và các perôxyt vô cơ H 2O2, HO*, HO2-… tất cả các chất này đều
không bền chúng sẽ tự phân giải và tái lập lại với nhau để trở thành nước bình
thường từ vài chục giờ đến năm ngày.
Sau khi điện phân có thể có các phản ứng hóa học sau:
NaClO → HClO (môi trường axit yếu)
NaClO + CO2 + H2O = NaHCO3 + HClO
HClo tiếp tục phân hủy theo các hướng sau:
• Duới tác dụng của ánh sáng, chất dễ lấy oxy hay chất xúc tác :
HClO → HCl + O2
• Vì là phản ứng thuận nghịch nên trong dung dịch luôn có mặt clo:
HClO + HCl ↔ H2O + Cl2↑
• Trong môi trường axít:
NaClO + HCl = NaCl + Cl2↑ + H2O
O3 có tính ôxy hóa mạnh hơn nên có thể ôxy hóa trực tiếp H2O2:
Lớp KTMT 2012B 22
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
thể người ngay trong quá trình hoạt động sống cũng tham gia vào quá trình ôxy hoá
khử, chúng sản sinh ra và sử dụng có mục đích các chất ôxy hoá hoạt tính cao như:
Lớp KTMT 2012B 23
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
Nguyễn Thị Mận
HO*, HO2-, O3, HClO, ClO-… Các tế bào này có hệ thống cấu tạo bảo vệ chống ôxy
hóa, ngăn ngừa tác dụng độc hại của các chất tương tự đến cấu trúc tế bào sống nhờ
sự có mặt của các cặp lipoproteit 3 lớp có chứa cấu trúc nối đôi (- C = C -) có khả
năng nhận electron. Các vi khuẩn, virus thì không có hệ thống bảo vệ để chống ôxy
hoá nên dung dịch ANK là chất cực độc đối với chúng. Thêm nữa, mức độ khoáng
hoá thấp của Anolit và khả năng hydrat hoá cao làm tăng mức độ thẩm thấu của
màng tế bào vi khuẩn đối với các chất ôxy hoá. Các vi bọt khí mang điện được tạo
ra trong vùng tiếp xúc với polyme sinh học cũng góp phần làm chuyển dịch mạnh
mẽ các chất ôxy hoá vào trong tế bào vi khuẩn. Vì thế, Anolit có tác dụng diệt
khuẩn mạnh nhưng lại ít gây hại tế bào cơ thể người.
Nhiều công trình nghiên cứu đã xác định dung dịch Anolit có tính chất sát
khuẩn rất mạnh đối với các loại vi khuẩn sau[13]:
• Nhóm vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriaceae: Escherichia Coli (có nhiều
trong phân người), Klebsiella, Enterobacter…
• Các chủng vi khuẩn: Citrobacter, Eriberobacter, Citrobacter freundic…
• Liên cầu khuẩn thuộc giống Enterococcus và Streptoccocus bao gồm các
loài: E. avium, E. Casseliflarus, S. aureus,…
• Nấm: Trichophyton mentagrphytes, Aspergilus niger, Candida albicans
tại đồng thời do dung dịch nước muối được kích hoạt điện hóa, bảo đảm cho Anolit
vừa có khả năng sát khuẩn cao, vừa có tính tẩy rửa tốt.
Anolit không làm ô nhiễm môi trường và không cần phải trung hòa nó sau
khi sử dụng vì sau khi sản xuất khoảng 3 – 5 ngày các thành phần hoạt hóa của
anolit bị suy giảm hết, chỉ còn lượng hypoclorit natri NaOCl rất nhỏ, dưới mức có
thể gây hại cho môi trường. Có thể kết hợp sử dụng anolit với nhiều loại hóa chất
tẩy rửa khác, làm tăng hiệu quả của quá trình tẩy rửa và sát trùng.
Qui trình sản xuất anolit rất đơn giản, người vận hành thiết bị không cần có
chuyên môn cao; không cần dự trữ bảo quản, cần lúc nào có ngay lúc đó.
ANK được sản xuất tại chỗ do đó giảm được các chi phí về vận chuyển, lưu
trữ, với cùng hiệu quả sử dụng yêu cầu chi phí thấp hơn các biện pháp khác.
Lớp KTMT 2012B 25
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường