luận văn hoàn thiện công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tai chi cục thuế huyên nghĩa đàn - Pdf 37

1
Luận văn tốt nghiệp

1
Học viện Tài chính
LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của em.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, xuất phát từ tình
hình thực tế của đơn vị thực tập.

Sinh viên
Hồ Thị Thúy Hiền

Sv: Hồ Thị Thúy Hiền

Lớp: CQ49/02.01


2
Luận văn tốt nghiệp

2
Học viện Tài chính
MỤC LỤC

Sv: Hồ Thị Thúy Hiền

Lớp: CQ49/02.01



: Người nộp thuế

NSNN

: Ngân sách nhà nước

QLN&CCNT : Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
SDĐNN

: Sử dụng đất nông nghiệp

SDĐPNN

: Sử dụng đất phi nông nghiệp

TCT

: Tổng Cục Thuế

TNCN

: Thu nhập cá nhân

TNDN

:Thu nhập doanh nghiệp

Sv: Hồ Thị Thúy Hiền

Lớp: CQ49/02.01

2012-2014
Bảng 2.12: Tổng hợp kết quả thực hiện các biện pháp cưỡng chế nợ thuế tại
Chi cục thuế huyện Nghĩa Đàn giai đoạn 2012-2014
Bảng 2.13 : Kết quả thu hồi nợ đọng thuế giai đoạn 2012-2014
Bảng 2.14 : Kết quả tính toán một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản
lý nợ và cưỡng chế nợ thuế giai đoạn 2012-2014

Sv: Hồ Thị Thúy Hiền

Lớp: CQ49/02.01


5
Luận văn tốt nghiệp

Sv: Hồ Thị Thúy Hiền

5
Học viện Tài chính

Lớp: CQ49/02.01


6
Luận văn tốt nghiệp

6
Học viện Tài chính
MỞ ĐẦU



7
Luận văn tốt nghiệp

7
Học viện Tài chính

cộng với công tác quản lý nợ và cưỡng chế tại chi cục thuế huyện Nghĩa đàn
còn nhiều bất cập, thiếu sót nên nợ thuế vẫn đang ở mức báo động và theo
đánh giá của Cục thuế Nghệ An thì Nghĩa Đàn vẫn nằm trong danh sách
những đơn vị nợ thuế cao của tỉnh. Do đó, yêu cầu cấp bách đặt ra đối với chi
cục thuế huyện Nghĩa Đàn là nhanh chóng đưa ra và thực hiện các giải pháp
hoàn thiện công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế.
Trong quá trình thực tập tại Chi cục thuế huyện Nghĩa Đàn, nhận thức
được vấn đề trên cùng kiến thức đã học ở trường, sự giúp đỡ tận tình của các
thầy cô giáo và các cán bộ của Chi cục thuế huyện Nghĩa Đàn, đặc biệt là các
chú, anh, chị tại đội Kiểm tra-quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, em đã đi sâu
nghiên cứu và lựa chọn đề tài: “ Hoàn thiện công tác quản lý nợvà cưỡng
chế nợ thuế tại Chi cục thuế huyện Nghĩa Đàn,tỉnh Nghệ An ” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích chính của đề tài là đi nghiên cứu thực trạng của công tác quản
lý nợ và cưỡng chế nợ thuế trên địa bàn quản lý của Chi cục thuế huyện
Nghĩa Đàn, từ đó kiến nghị một số giải pháp để khắc phục những tồn tại và
nâng cao hiệu quả,hoàn thiện công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tại
Chi cục thuế huyện Nghĩa Đàn
3. Nội dung và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý thuế nói chung, công tác
quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế nói riêng trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn, do
Chi cục thuế huyện Nghĩa Đàn quản lý trong thời gian từ năm 2012-2014.


Sv: Hồ Thị Thúy Hiền

Lớp: CQ49/02.01


9
Luận văn tốt nghiệp

9
Học viện Tài chính
CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ NỢ THUẾ,QUẢN LÝ NỢVÀ CƯỠNG CHẾ NỢ
THUẾ
1.1. Những vấn đề cơ bản về nợ thuế
1.1.1. Khái niệm về nợ thuế,quản lý nợ thuế
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho
Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng
cho mục đích công cộng
Khái niệm trên đã thể hiện được tính bắt buộc của hình thức động viên
nguồn thu của Nhà nước thông qua thuế.Bên cạnh tính bắt buộc thì hình thức
động viên này còn mang tính không hoàn trả trực tiếp và đặc biệt là tính pháp
lý cao. Tính pháp lý cao là một trong những đặc trưng quan trọng của
thuế,được thể hiện thông qua các quy định cần thiết về phạm vi,hình thức và
các thủ tục,quy trình pháp lý liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế như:đối tượng
chịu thuế,đối tượng nộp thuế,mức thuế phải nộp,thời hạn cụ thể và những chế
tài mang tính cưỡng chế khác.Để thực hiện đúng nghĩa vụ thuế của mình thì
ĐTNN phải thực hiện đầy đủ các thủ tục,các bước trong các quy trình pháp lý
trên theo đúng thời hạn quy định. Tuy nhiên việc thực hiện nghĩa vụ nộp tiền

sinh đến thời điểm khoản nợ đó được CQT thống kê.
-Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với một khoản nợ thuế: là ngày tiếp theo
ngày hết hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
-Thời điểm kết thúc tính nợ đối với một khoản nợ thuế: là ngày tiếp theo
ngày khoản nợ được nộp vào NSNN, hoặc ngày có hiệu lực thi hành của văn
bản xóa nợ, miễn nộp hoặc xử lý bằng hình thức khác.
1.1.2. Đặc điểm của nợ thuế
1.1.2.1. Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến
Như chúng ta biết, trong hệ thống thuế bao gồm nhiều sắc thuế khác
nhau, tuy nhiên các sắc thuế dù trực tiếp hay gián tiếp đều đánh vào thu nhập
của các thể nhân hay pháp nhân trong nền kinh tế. Nói cách khác, thuế là một
hình thức phân phối thu nhập có tính chất bắt buộc mà mọi người có nghĩa vụ
phải nộp cho Nhà Nước. Như vậy, hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến
lợi ích kinh tế của người nộp thuế. Do đó, ở Việt Nam cũng như các nước
khác trên thế giới, người nộp thuế thường có xu hướng trốn hoặc tránh thuế.
Tình hình này đặc biệt nghiêm trọng trong điều kiện các nước đang phát triển
trong đó có Việt Nam hiện nay, khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại
bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của việc nộp thuế,
chưa phê phán lên án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ tích
cực cho CQT để thu thuế theo đúng luật định.
Sv: Hồ Thị Thúy Hiền

Lớp: CQ49/02.01


11
Luận văn tốt nghiệp

11
Học viện Tài chính

Sv: Hồ Thị Thúy Hiền

Lớp: CQ49/02.01


12
Luận văn tốt nghiệp

12
Học viện Tài chính

đốc thu nợ thuế hoặc tổ chức cưỡng chế thuế mà còn có biện pháp xử lý phù
hợp,chẳng hạn như khoanh nợ,gia hạn nộp thuế hoặc xóa nợ theo quy định
-Căn cứ vào tính chất nợ
Căn cứ vào tính chất nợ,nợ thuế được chia thành nợ thông thường và nợ
chờ xử lý,điều chỉnh. Việc phân loại nợ theo tính chất này giúp cán bộ quản lý
nợ tập trung vào thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để xử lý đối với những
khoản nợ thông thường và phối hợp với các bộ phận có liên quan khoanh
vùng theo dõi riêng đối với nợ chờ xử lý điều chỉnh để xử lý kịp thời ngay khi
có kết luận của các bộ phận có liên quan đối với nhóm nợ này.
-Căn cứ vào thời gian nợ
Căn cứ vào tiêu thức này,nợ thuế được phân chia thành nợ trong hạn và
nợ quá hạn.Phân loại theo tiêu thức này giúp cán bộ quản lý nợ nắm được
mức độ nợ quá hạn so với nợ trong hạn là cao hay thấp từ đó đánh giá được
mức độ nợ thuế tại mỗi thời điểm và có kế hoạch đôn đốc thu hồi nợ quá hạn
đồng thời có biện pháp để người nộp thuế nộp số thuế nợ trong hạn đúng hạn.
-Căn cứ vào nội dung nợ
Căn cứ vào tiêu thức này,nợ thuế được chia thành nợ thuế phí thông
thường,nợ phạt thuế phí và nợ thuế phí phải nộp sau thanh tra kiểm tra. Trong
công tác quản lý việc phân loại nợ theo nôi dung giúp thực hiện đúng trình tự

có số nợ thuế thấp.Qua đó,tìm hiểu những quy định pháp lý và thủ tục hành
chính thu nộp sắc thuế đó đã hợp lý hay chưa,làm cơ sở hoàn thiện pháp luật
thuế và quản lý thuế
1.2.Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ thuế
1.2.1. Khái niệm và nội dung công tác quản lý nợ thuế
Quản lý nợ thuế là công việc theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế và các
khoản thu khác do CQT quản lý, thực hiện các biện pháp đôn đốc thu hồi số
nợ thuế của người nộp thuế. Công tác này gồm có ba nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, thống kê và nắm bắt đầy đủ tình hình nợ thuế của NNT, số
thuế phải nộp, số thuế đã nộp của NNT
Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng nợ thuế thông qua việc phân
loại nợ, phân tích các nguyên nhân nợ thuế
Thứ ba, thực hiện các biện pháp nhắc nhở, đôn đốc nộp tiền thuế và các
khoản thu khác do CQT quản lý
1.2.2. Vai trò của công tác quản lý nợ thuế
Thứ nhất, quản lý nợ thuế để quản lý theo dõi tình hình thực hiện nghĩa
vụ của đối tượng nộp thuế, đảm bảo người nộp thuế nộp các khoản thuế đầy
đủ, kịp thời vào NSNN; đảm bảo công bằng xã hội khi các cơ sở kinh doanh
cùng phát sinh nghĩa vụ thuế thì phải nộp vào NSNN đúng hạn.

Sv: Hồ Thị Thúy Hiền

Lớp: CQ49/02.01


14
Luận văn tốt nghiệp

14
Học viện Tài chính

Sv: Hồ Thị Thúy Hiền

Lớp: CQ49/02.01


15
Luận văn tốt nghiệp

15
Học viện Tài chính
Sơ đồ 1: Quy trình quản lý nợ thuế

Bước 1:
Lập kế
hoạch thu
nợ

- Xây dựng chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý nợ năm
- Điều chỉnh chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý nợ năm
- Thực hiện chương trình chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm

- Phân công công chức quản lý nợ
Bước 2: Thực
hiện quản lý
nợ và xử lý
nợ

- Phân loại nợ và lập sổ theo dõi nợ
- Thực hiện các biện pháp đôn đốc thu nợ
- Phân tích, đánh giá và xử lý nợ

Nhà nước để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT
1.3.2. Đặc điểm cưỡng chế thuế
1.3.2.1. Cưỡng chế thuế là hành vi thi hành pháp luật về thuế
Cưỡng chế thuế là một trong các công tác quan trọng áp dụng đối với
những người nợ thuế không tự nguyện chấp hành quyết định của CQT nhằm
mục đích đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền vào NSNN và góp phần thực hiện
công bằng giữa những người nộp thuế.
1.3.2.2. Cưỡng chế thuế là hành vi xuất hiện sau hành vi nợ thuế
Cưỡng chế thuế chỉ được thực hiện khi phát sinh các khoản nợ thuế mà
CQT đã triển khai các biện pháp thu nợ mà vẫn chưa thu hồi được số tiền nợ
thuế từ những người nợ thuế. Khi đó, công tác cưỡng chế thuế sẽ phát huy
được vai trò thu hồi tiền nợ thuế về cho NSNN.
1.3.2.3. Thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế đòi hỏi có sự phối kết hợp
chặt chẽ giữa CQT với các cơ quan thi hành pháp luật khác
Khi thực hiện công tác cưỡng chế thuế đòi hỏi phải có sự phối kết hợp
giữa CQT với các cơ quan, ban , nghành chức năng như: Kho bạc, Công an,
Viện kiểm sát. Việc cưỡng chế thuế có liên quan đến lợi ích của người nộp
thuế, do vậy phải có những thủ tục pháp lý chặt chẽ liên quan đến chức trách
của nhiều cơ quan khác nhau. Bởi vậy, việc phối hợp chặt chẽ giữa CQT với
các cơ quan Nhà Nước khác là tất yếu để đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của
cưỡng chế thuế.
1.3.3. Vai trò của công tác cưỡng chế thuế
Cưỡng chế thuế là khâu cuối cùng trong quy trình quản lý thuế.Cưỡng
chế thuế thể hiện tính chất bắt buộc phải tuân thủ bởi quyền lực Nhà nước của
thuế. Với tính chất như vậy, cưỡng chế thuế có các vai trò quan trọng sau đây:
Thứ nhất, cưỡng chế thuế đảm bảo thực hiện nghiêm túc pháp luật thuế,
chống thất thu thuế có hiệu quả. Bằng các hình thức và biện pháp phù hợp tác
động đến lợi ích của người nộp thuế buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
Sv: Hồ Thị Thúy Hiền


hiệu quả đảm bảo cho sự công bằng đầy đủ này được thực hiện bằng cách
buộc những người có nghĩa vụ thuế phải thực hiện nghĩa vụ đó, nếu không sẽ
chịu sự trừng phạt của pháp luật.
1.3.4. Yêu cầu đối với công tác cưỡng chế thuế
Công tác cưỡng chế thuế chỉ đạt được hiệu quả khi xác định đúng mục
tiêu và phải đảm bảo các yêu cầu cụ thể sau:
Sv: Hồ Thị Thúy Hiền

Lớp: CQ49/02.01


18
Luận văn tốt nghiệp

18
Học viện Tài chính

Thứ nhất, cưỡng chế thuế phải đảm bảo tính hiệu lực của pháp luật Nhà
Nước. Yêu cầu này đòi hỏi khi ban hành các quyết định cưỡng chế phải đảm
bảo được thực hiện thống nhất từ cấp trung ương đến địa phương.
Thứ hai, cưỡng chế thuế phải đảm bảo tính hiệu quả của cơ quan quản lý
thuế. Có nghĩa là khi thực hiện một quyết định cưỡng chế thuế thì CQT phải
đảm bảo tính hiệu quả cao mà chi phí thực hiện cưỡng chế là tối thiểu. Muốn
thực hiện được điều này, đòi hỏi trước khi ban hành các quyết định thực hiện
cưỡng chế thuế cần tính đến các yếu tố có thể ảnh hưởng đến công tác thực
hiện cưỡng chế như thời gian, địa điểm, hình thức cưỡng chế. Bên cạnh đó,
CQT cần cân nhắc kỹ lưỡng từng trường hợp nợ thuế và xác định trường hợp
nào thực hiện biện pháp cưỡng chế nào là hợp lý.
Thứba, cưỡng chế thuế phải đảm bảo tính tuân thủ pháp luật của người
nộp thuế, thông qua cưỡng chế thuế góp phần nâng cao tính hiệu quả của

trước khi thực hiện cưỡng chế ; quyết định cưỡng chế phải được gửi cho CQT
cấp trên trực tiếp; trường hợp cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản thì
quyết định phải được gửi cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
nơi thực hiện cưỡng chế trước khi thực hiện.
Quyết định cưỡng chế hành chính thuế có hiệu lực thi hành trong thời
hạn 01 năm, kể từ ngày ra quyết định. Trường hợp cá nhân, tổ chức bị cưỡng
chế cố tình trốn tránh, trì hoãn thi hành quyết định cưỡng chế thì thời hiệu thi
hành được tính lại kể từ thời điểm hành vi trốn tránh trò hoãn được chấm dứt.
Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế chấm dứt
hiệu lực kể từ khi tiền thuế, tiền phạt bị cưỡng chế đã được nộp đủ vào
NSNN. Căn cứ để chấm dứt hiệu lực của quyết định cưỡng chế thuế là chứng
từ nộp đủ tiền thuế, tiền phạt vào NSNN của người bị cưỡng chế có xác nhận
của Kho bạc Nhà Nước hoặc cơ quan được phép thu thuế, ngân hàng thương
mại, tổ chức tín dụng khác trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế.
Trình tự áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế như sau:
1) Biện pháp 1: Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế tại
kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng; yêu cầu phong tỏa tài khoản.
2) Biện pháp 2: Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập.
3) Biện pháp 3: Dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu
4) Biện pháp 4: Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng.

Sv: Hồ Thị Thúy Hiền

Lớp: CQ49/02.01


20
Luận văn tốt nghiệp


Sv: Hồ Thị Thúy Hiền

Lớp: CQ49/02.01


21
Luận văn tốt nghiệp

21
Học viện Tài chính

thời, đạt được yêu cầu đặt ra là chi phí cưỡng chế thuế thấp nhất mà hiệu quả
thu nợ lại là tối đa.
Khi công tác cưỡng chế thuế được thực hiện có hiệu quả sẽ trực tiếp làm
cho số nợ tiền thuế giảm và số lượng các khoản nợ đang theo dõi ở CQT cũng sẽ
giảm; tạo điều kiện cho CQT tập trung nguồn lực vào các công tác khác như:
tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, tăng cường công tác thanh tra- kiểm tra.
Tóm lại, công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế có mối quan hệ tác động
qua lại với nhau, bổ sung cho nhau cùng phát triển để đạt hiệu quả cao. Do
đó, trên thực tế việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả quản lý nợ thuế cũng chính
là để hoàn thiện vào nâng cao hiệu quả của công tác cưỡng chế thuế, góp phần
nâng cao năng lực quản lý thuế nói chung.
1.5.Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chếthuế
Công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế trong quá trình thực hiện thường
bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan nhất định.Sau
đây là những yếu tố chủ quan và khách quan chủ yếu nhất có ảnh hưởng tới
công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
1.5.1 Nhóm yếu tố chủ quan
Nhóm yếu tố này chủ yếu xuất phát từ phía cơ quan quản lý thuế, cụ thể
như sau:

phủ sẽ phải thực hiện các chính sách tiền tệ thắt chặt, áp dụng mức lãi suất tín
dụng cao làm cho giá cả các mặt hàng, nguyên liệu, đầu vào tăng. Điều này sẽ
làm cho chi phí sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp tăng dẫn đến hiệu
quả sản xuất của các doanh nghiệp giảm nhiều và khi đó nhiều doanh nghiệp
gặp khó khăn về vốn không có khả năng nộp thuế đúng thời hạn hoặc cố ý
chậm nộp thuế dù biết sẽ bị phạt chậm nộp từ phía CQT.
Thứ hai, sự phối hợp của các cơ quan hữu quan với CQT trong công tác
quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế rất quan trọng. Nếu như các cơ quan chức
năng không phối hợp hoặc phối hợp kém hiệu quả với CQT để đôn đốc,
cưỡng chế nợ thuế sẽ làm cho công tác thu nợ gặp nhiều khó khăn ảnh hưởng
đến nguồn thu NSNN.
Thứ ba, đặc điểm của nền kinh tế cũng là một yếu tố tác động đến công
tác đôn đốc thu nợ thuế và cưỡng chế thuế. Theo thống kê của các nhà nghiên
cứu về thuế khi nền kinh tế lạc hậu thì ý thức tuân thủ pháp lật của người nộp
thuế thường không cao. Do đó ý thức có tác động quan trọng đến hiệu quả của
công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế. Giả sử, ý thức tuân thủ, chấp
Sv: Hồ Thị Thúy Hiền

Lớp: CQ49/02.01


23
Luận văn tốt nghiệp

23
Học viện Tài chính

hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế không tốt, cố tình chây ỳ không
nộp thuế, hoặc trường hợp do chính sách quy định chưa rõ thì đối tượng nộp
thuế sẽ lợi dụng điểm này để áp dụng tính thuế sai, khi CQT phát hiện ra truy


24
Học viện Tài chính

+ Nợ thuế còn gây mất công bằng về nghĩa vụ thuế và tạo môi trường
kinh doanh không bình đẳng giữa các tổ chức và cá nhân đang kinh doanh
trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế.
+ Nợ thuế đã tạo ra chi phí không cần thiết đối với xã hội có liên quan
đến công tác quản lý thuế, gây mất thời gian, công sức, tiền của cho việc
quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế.
Khi xuất hiện các khoản nợ thuế, đòi hỏi Nhà nước phải có một bộ phận
chuyên đảm nhận chức năng quản lý các khoản nợ thuế đó, hơn nữa các
khoản nợ thuế này xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, từ nhiều sắc thuế
khác nhau, từ nhiều nguyên nhân khác nhau và biện pháp thu hồi cũng khác
nhau. Do vậy việc quản lý những khoản nợ này rất phức tạp, đòi hỏi tốn kém
về thời gian, tiền của và nhân lực.
Có thể nói nợ thuế là một thực trạng phổ biến thường gặp trong công tác
quản lý thuế hiện nay,trở thành vấn đề nổi cộm ở hầu hết các địa phương,ở
hầu hết các CQT từ cấp Cục cho tới cấp Chi cục.Qua tổng kết đánh giá của
ngành cho thấy thực trạng nợ thuế tại Việt Nam trong những năm qua cho tới
thời điềm hiện tại xuất hiện nhiều con số đáng lưu tâm.Tỷ lệ nợ thuế của
ngành thuế Việt Nam trong những năm trở lại gần đây từ 7% đến 10% tổng
thu nội địa từ dầu.Đây là một tỷ lệ cao so với các nước trên thế giới.Tình
trạng nợ thuế tạị Việt Nam diễn biến theo xu hướng cùng với việc tăng số thu
thuế thì số nợ thuế cũng gia tăng theo.Trong giai đoạn 5 năm 2004-2008 là
giai đoạn nợ thuế tăng trưởng nhanh,đỉnh điểm là vào năm 2007 và 2008 với
mức tăng trưởng của nợ thuế lần lượt là 44,3% và 87,9%.Những năm của giai
đoạn tiếp theo,cùng với việc thực thi luật quản lý thuế và ban hành riêng quy
trình cho công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế đã giúp cho công tác quản
lý nợ và cưỡng chế nợ thuế có nhiều mặt tích cực, song công tác này vẫn còn

đức của các cán bộ công chức làm công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
còn thấp;hệ thống phần mềm ,công cụ phục vụ công tác quản lý còn nhiều
thiếu sót,chưa được hoàn thiện...Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay giá dầu thô
liên tục giảm mạnh và chưa có dấu hiệu phục hồi, một số nền kinh tế lớn có
xu hướng tăng trưởng chậm lại.Kinh tế trong nước bên cạnh những thời cơ
thuận lợi cũng còn nhiều khó khăn thách thức.Vấn đề nợ công của Việt Nam
đang ở mức báo động đòi hỏi phải huy động nguồn lực trong nước một cách
hiệu quả,hạn chế phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài.Do vậy,việc huy
động,đảm bảo nguồn thu kịp thời cho NSNN đáp ứng yêu cầu phát triển kinh
Sv: Hồ Thị Thúy Hiền

Lớp: CQ49/02.01



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status