I. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Bước vào giai đoạn mới của cách mạng, giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; và, để đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế, đòi hỏi sự
nghiệp giáo dục Việt Nam cũng ngày càng phát triển. Để phát triển giáo dục trước hết
phải nâng cao chất lượng giáo dục, trong đó đổi mới phương pháp dạy và phương
pháp học là một trong những con đường quan trọng và công cụ thiết yếu. Bên cạnh
các phương pháp dạy học truyền thống được sử dụng ở các nhà trường trung học cơ sở
(THCS) và trung học phổ thông (THPT), có nhiều trường đã và đang kết hợp sử dụng
các phương pháp dạy học tích cực.
Môn Tin học là một trong những môn học mới và quan trọng trong hệ thống
kiến thức của học sinh phổ thông, là môn học đặc thù có thể sử dụng kết hợp các
phương pháp để nâng cao chất lượng dạy của giáo viên và chất lượng học của học
sinh. Những năm qua, thực hiện chỉ đạo của Sở GD&ĐT Ninh Bình, đội ngũ giáo
viên Trường THPT Nho Quan C đã từng bước áp dụng phương pháp dạy học
bằng sơ đồ tư duy (mind map) vào một số môn như Toán, Sinh học... và đã thu
được những kết quả khả quan. Nhưng vấn đề đặt ra là làm sao giúp học sinh
đang quen với cách dạy học theo phương pháp truyền thống, chuyển sang học
theo phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy một cách hiệu quả nhất? Giáo viên cần
lựa chọn các phương pháp nào để khi phối hợp các phương pháp với nhau sẽ tạo
được hiệu quả cao?
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với hoạt
động nhóm nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tin học” sẽ góp phần
tham gia giải đáp các câu hỏi trên và có ý nghĩa cấp thiết đối với Trường THPT
Nho Quan C.
Trong phạm vi sáng kiến kinh nghiệm này tôi sẽ trình bày nội dung tiết dạy
có sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp hoạt động nhóm ở tiết 57 - bài 20: Mạng máy
tính, sách giáo khoa Tin học 10.
~1~
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến việc thiết kế các phiếu học tập và tài liệu
đổi mới phương pháp giảng dạy môn Tin học.
7. Đóng góp khoa học:
Kết quả sáng kiến giúp giáo viên và học sinh chuyển từ phương pháp học
truyền thống sang phương pháp dạy học bằng SĐTD kết hợp với phương pháp lấy
học sinh làm trung tâm; rèn luyện cho học sinh kỹ năng thuyết trình và tự nghiên
cứu một cách hiệu quả. Có thể áp dụng đối với lớp có chất lượng học sinh không
đồng đều, áp dụng được cho nhiều môn học.
Sáng kiến có thể được các trường THCS và THPT khác nghiên cứu và vận dụng
phù hợp trong dạy học các đối tượng tương ứng.
8. Kết cấu của sáng kiến kinh nghiệm
Gồm mở đầu, hai phần, kết luận, tài liệu tham khảo.
Phần I
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TRẠNG PHỐI HỢP SỬ DỤNG SƠ ĐỒ
~3~
TƯ DUY VỚI HOẠT ĐỘNG NHÓM, THẢO LUẬN, RÈN LUYỆN KỸ NĂNG
BÁO CÁO CỦA CÁ NHÂN TRONG DẠY, HỌC MÔN TIN HỌC Ở
TRƯỜNG THPT NHO QUAN C
1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học ở
bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông
Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý
tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức… bằng cách kết hợp
việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích
cực. Tác giả của SĐTD là Tony Buzan, ông là người đã thúc đẩy làn sóng cách
mạng học tập bùng nổ tại nhiều nước trên thế giới và khu vực, trong đó có Việt
Nam. Có thể nói, SĐTD là con đường dẫn học sinh đến với phương pháp “học
mình trước tập thể?
Trong bối cảnh và thực trạng như vậy, bản thân là một giáo viên trẻ có một
số năm kinh nghiệm giảng dạy, đã từng thử nghiệm phương pháp dạy học theo
SĐTD, tôi nhận thấy việc đưa ra những giải pháp nhằm giúp thầy và trò chuyển
đổi cách học từ phương pháp cũ sang phương pháp mới tích cực, phối hợp các
phương pháp dạy học tích cực với nhau để tạo hiệu quả cao trong tiết học là rất
cần thiết.
1.2. Thực trạng dạy học trước khi sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy
ở Trường THPT Nho Quan C.
Được thành lập từ năm 2007, Trường THPT Nho Quan C luôn nhận được
sự quan tâm của các cấp lãnh đạo như Sở GD&ĐT Ninh Bình, Ủy ban nhân dân
huyện Nho Quan... Nhà trường đã ban đầu có được một cơ sở dạy và học đáp
ứng được nhu cầu của một trường, việc tiến hành sáng kiến kinh nghiệm này có
những thuận lợi đáng kể.
Học sinh của Trường nằm trong 7 xã trong khu vực phía Bắc của huyện
Nho Quan bao gồm: Gia Lâm, Gia Thủy, Gia Tường, Gia Sơn, Đức Long, Xích
Thổ, Thạch Bình, việc tìm hiểu hoàn cảnh, nắm bắt được khả năng tiếp thu bài
của học sinh cũng như phát hiện ra những học sinh có năng khiếu khá thuận tiện.
~5~
Đa số các em chăm ngoan, có ý chí phấn đấu và có thời gian tự học bài vào buổi
tối trên lớp nên việc chuẩn bị bài mới luôn đảm bảo.
Bên cạnh đó Ban Giám Hiệu luôn quan tâm, chỉ đạo kịp thời nên giáo viên
có những ý tưởng mới hay những biện pháp dạy học mới mang tính sáng tạo sẽ
được ủng hộ và triển khai vào thực tế.
Bên cạnh những thuận lợi nói trên, khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm
này tôi cũng gặp không ít những khó khăn đó là cơ sở vật chất và đồ dùng dạy
học cho môn Tin học vẫn còn chưa đầy đủ; có một số các em học sinh là con em
người dân tộc, hay những học sinh cá biệt ở trường khác chuyển tới; mặt bằng
việc giúp các em nâng cao trình độ nhận thức, tiếp thu bài học nhanh, phát huy
tính sáng tạo, khả năng tư duy và tự giác học tập là một vấn đề nan giải đối với
đội ngũ giáo viên của trường. Bên cạnh đó các em còn chưa coi trọng môn Tin
học, coi đó là môn học phụ. Cũng chính từ lý do này, tôi đã nghiên cứu, áp dụng
và mạnh dạn đưa ra biện pháp ban đầu, giúp học sinh biết kết hợp một số
phương pháp học tập tích cực và sử dụng SĐTD trong môn Tin học.
Từ năm 2013 - 2015, với sự tìm tòi thử nghiệm, được sự giúp đỡ của tập
thể, bản thân tôi đã chủ động từng bước triển khai tiết học bằng cách cho học
sinh chuẩn bị bài mới ở nhà, trên lớp học thầy và trò cùng hoạt động nhóm, sử
dụng đồ dùng dạy học phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, giáo viên
dẫn dắt gợi mở vấn đề, đặt câu hỏi, học sinh nghiên cứu và trả lời các câu hỏi
mà giáo viên đưa ra. Thật vui mừng, trên tổng thể, với phương pháp dạy học
này, tôi đã thu được nhiều thành tích đáng khích lệ, nâng cao tỉ lệ học sinh khá
giỏi môn Tin học.
Trong năm học 2015 - 2016 này, tôi đã sử dụng SĐTD để chọn dạy một số
bài học môn Tin học trong chương trình chính khóa. Tôi nhận thấy, nếu chúng ta
chuyển ngay từ phương pháp học ghi chép sang sử dụng bản đồ tư duy thì học
sinh sẽ gặp nhiều khó khăn. Học sinh sẽ lúng túng không biết phải bắt đầu từ
đâu, không biết tìm từ chìa khóa, không biết thiết kế một SĐTD cho hiệu quả.
Biện pháp nào có thể giải quyết những tồn tại là hầu hết học sinh không
~7~
biết tìm những từ trọng tâm mà chỉ viết được các ghi chú theo kiểu truyền
thống? Các em chỉ biết cách chắt lọc thông tin từ sách giáo khoa, các ghi chú
này vẫn dài mà không cần thiết cho việc học của học sinh trong bài học đó, như
vậy thời gian học bị tiêu hao mà không hiệu quả, các ghi chép dài dòng khó nhớ.
Cuối tiết học tôi đặt câu hỏi để kiểm tra xem các em có ghi nhớ được gì không.
Câu trả lời là hầu hết các em không thể nhớ được nội dung và hệ thống hóa được
kiến thức của bài, học sinh phải nhìn lại sách giáo khoa mới trả lời được các câu
phần II.
Phần II
BIỆN PHÁP PHỐI HỢP SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VỚI HOẠT
ĐỘNG NHÓM, THẢO LUẬN, RÈN LUYỆN KỸ NĂNG BÁO CÁO
CỦA CÁ NHÂN TRONG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC
2.1. Mục tiêu phối hợp hoạt động nhóm, thảo luận, rèn luyện kỹ năng báo cáo
của cá nhân nhằm nâng cao chất lượng dạy, học môn Tin học
~9~
Việc sử dụng phương pháp SĐTD phối hợp với các phương pháp học tập
hoạt động nhóm, thảo luận, rèn luyện kỹ năng báo cáo của cá nhân trong dạy
học cần đạt tới các mục tiêu sau:
Giúp học sinh chuyển từ cách học truyền thống sang cách học tích cực
thông qua hoạt động nhóm và rèn luyện kỹ năng báo cáo.
Tiếp tục chuyển đổi từ phương phương pháp hoạt động nhóm, thảo luận và
rèn luyện kỹ năng báo cáo sang kết hợp các phương pháp học nói trên với việc
sử dụng SĐTD. Trong đó vai trò của hoạt động nhóm, báo cáo và thảo luận cân
bằng với việc sử dụng SĐTD.
Tận dụng tối đa thời gian của tiết học vào các hoạt động tích cực của học
sinh, giảm việc ghi chép trên lớp. Do đó, giúp học sinh bớt căng thẳng, mệt mỏi
để tập trung vào việc nghe giáo viên giảng giải, phân tích bài học.
Quá trình thực hiện phương pháp SĐTD, giáo viên sẽ đóng vai trò là người
tổ chức, hướng dẫn, nhận xét, bổ sung và đánh giá học sinh, chứ không đơn
thuần chỉ là người truyền đạt kiến thức giáo khoa một cách khô khan.
Ngoài ra, với phương pháp SĐTD có thể áp dụng cho nhiều môn học, có
thể sử dụng rộng rãi ở nhiều trường học, kể cả các địa phương có điều kiện khó
khăn, vùng xa xôi.
biết trước. Chính điều này sẽ giúp tất cả các thành viên của nhóm đều phải nỗ
lực và hoạt động hết sức mình, nếu cá nhân nào không hiểu nội dung kiến thức,
các em bắt buộc phải tìm tòi hay hỏi bạn bè để hiểu và trả lời được những vấn đề
đó.
Việc chia nhóm ngay từ những ngày đầu rất quan trọng vì nó sẽ ảnh hưởng
tới kết quả hoạt động và điểm số của các em sau này.
2.2.2. Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm chủ động - bước đệm để
chuyển sang học bằng sơ đồ tư duy
- Chuẩn bị tiết học:
Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị bài trước khi đến lớp bằng cách tìm
các mục chính và nội dung chính của bài học. Học sinh trả lời các câu hỏi trong
~ 11 ~
sách giáo khoa và tự mình tìm những kiến thức trọng tâm của của bài học. Giáo
viên cần kiểm tra việc chuẩn bị bài trước khi tiến hành nội dung bài mới một
cách kỹ lưỡng để tập cho học sinh thói quen tự học tập nghiên cứu ở nhà. Nếu
bỏ qua khâu này, học sinh sẽ không tự giác chuẩn bị SĐTD khi giáo viên đưa ra
yêu cầu ở các bước sau.
- Tiến trình tiết học: Được tiến hành thông qua các bước cụ thể sau:
Bước 1: Tiến hành bài học bằng cách giải quyết hệ thống câu hỏi cho trước
trên bảng.
Giáo viên yêu cầu học sinh di chuyển chỗ ngồi, về vị trí hoạt động nhóm,
cùng nhau thảo luận trả lời các câu hỏi mà giáo viên đưa ra. Hệ thống câu hỏi
này bám sát nội dung bài học. Mục đích của bước này nhằm giúp học sinh tìm ra
những nội dung cơ bản nhất trong các mục của bài mới để từ đó biết cách tìm ra
từ chìa khóa sau này.
Thời gian hoạt động nhóm thông thường sẽ chiếm 1/3 thời lượng tiết học.
Giáo viên chỉ ghi đề mục của bài học trên bảng, và chia cột theo số lượng mục
lớn trong bài. Trong quá trình học sinh thảo luận theo nhóm, giáo viên sẽ bao
chốt lại những ý chính cần phải nắm được trong mục này, đồng thời dùng dụng
cụ học tập như tranh ảnh, mô hình, dụng cụ học tập để hỗ trợ, lấy thêm ví dụ và
giảng giải những nội dung khó, mang tính tư duy hay chuyên môn cao. Ở bước
này giáo viên đóng vai trò người điều khiển, nhận xét, đánh giá và hoàn thiện
kiến thức cần nắm được ở mục vừa thảo luận. Sau đó giáo viên và học sinh sẽ
tìm ra bài làm xuất sắc nhất của một nhóm để treo lên bảng theo từng phần nội
dung của bài.
Thời gian đầu học sinh sẽ cảm thấy bỡ ngỡ khi tự tìm tòi kiến thức cũng
như đứng trước cả lớp để trình bày một vấn đề, nhưng chỉ sau vài tiết học như
thế, học sinh sẽ quen dần với cáchhọc này, các em có thể thảo luận để tìm ra
được nội dung kiến thức cơ bản của bài học và tự tin báo cáo.
~ 13 ~
Học sinh cả lớp sẽ xem lại phần chuẩn bị ở nhà của mình và bổ sung những
phần kiến thức còn thiếu. Như vậy giáo viên sẽ không còn nặng nề về vở soạn
hay vở ghi chép của học sinh nữa, vì học sinh sẽ kết hợp hai loại vở để tích lũy
thông tin cho mình.
Cứ như vậy giáo viên và học sinh sẽ báo cáo, thảo luận để giải quyết hết
nội dung bài học mới.
Bước 5: Tổng hợp kiến thức và đánh giá
Cuối tiết học toàn bộ nội dung kiến thức cần nắm bắt được thể hiện trên
bảng. Học sinh hoàn thiện bài học trong vở của mình. Kết quả của ý thức hoạt
động thảo luận nhóm, việc ghi chép trên bảng, kết quả báo cáo trước lớp và kết
quả những ý kiến đóng góp đúng sẽ là thành tích chung của cả nhóm.
Cuối cùng giáo viên đánh giá, nhận xét ý thức chuẩn bị bài ở nhà và tinh
thần làm việc theo nhóm cùng với kỹ năng báo cáo của các nhóm. Với những cá
nhân có thành tích tốt sẽ được cộng điểm hay cho điểm ngay sau tiết học. Điều
này động viên các em rất nhiều để học tốt hơn.
tòi, đầu từ thời gian vào việc chuẩn bị bài ở nhà, bên cạnh đó các em không xác
định được đâu là từ chìa khóa và trọng tâm của bài. Chính vì vậy việc truyền
cảm hứng cho các em, hướng dẫn để các em có thể tự thiết kế được SĐTD cũng
rất cần được chú ý. Việc hoạt động nhóm theo phương pháp chia nhóm cố định
sẽ hỗ trợ học sinh có học lực yếu kém ở các trường có lượng học sinh khá giỏi
~ 15 ~
còn hạn chế, giải quyết những tồn tại này.
[Hình 2: Học sinh tham gia tiết ngoại khóa về sơ đồ tư duy]
2.2.4. Giáo viên thiết kế mẫu sơ đồ tư duy
Việc tìm hiểu lý thuyết chỉ là bước mở đầu, việc thực hành và giúp các em
được tiếp cận với SĐTD trong tiết học thực tế sẽ giúp cho các em hiểu rõ việc
mình phải làm hơn. Hoạt động nhóm như đã nêu ở mục 2.1.2 đã giúp học sinh
rèn luyện khả năng bao quát vấn đề, tìm được nội dung chính của bài học, rèn
luyện kỹ năng báo cáo và ghi chép trong phiếu học tập, nhưng việc tìm ra từ
chìa khóa và phát huy khả năng tư duy sáng tạo của các em thì cần phải thông
qua SĐTD.
Để tiến hành một tiết dạy với mục đích vừa học bài mới vừa hướng dẫn học
sinh thiết kế SĐTD đòi hỏi giáo viên phải có khả năng bao quát, tổng hợp kiến
thức, cân đối thời gian và tổ chức tiết học hợp lý, bên cạnh đó giáo viên phải có
~ 16 ~
kỹ năng vẽ hình. Giáo viên tiến hành vẽ tiêu đề bài học ở trung tâm bảng bằng
phấn màu, sau đó đặt câu hỏi cho học sinh về số lượng mục trong bài, nội dung
chính từng mục và cách thiết kế cụ thể một bài học trên bảng. Mỗi mục được
thiết kế theo dạng nhánh với từng màu khác nhau. Giáo viên đặt các câu hỏi
2. Kĩ năng
HS phân biệt được: Mạng có dây và mạng không dây, một số thiết bị kết nối
trong mạng máy tính
3. Thái độ
- Giáo dục học sinh lòng yêu thích môn học
- Giáo dục học sinh có ý thức học tập, vui chơi lành mạnh có ích trên mạng
máy tính.
II. NỘI DUNG BÀI HỌC:
- Tìm hiểu về mạng máy tính và phương tiện truyền thông của mạng máy
tính.
III. CHUẨN BI
1. Giáo viên: -
Giáo án, máy chiếu, các thiết bị mạng, giấy A0, bút dạ, bút
màu.
-
Thuyết trình, vấn đáp, trực quan, hoạt động nhóm.
2. Học sinh: Đọc trước thông tin bài, nghiên cứu theo hệ thống câu hỏi.
IV.
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
1. Ổn định tổ chức và kiểm diện: (1 phút)
GV kiểm tra sĩ số HS
~ 19 ~
máy tính
~ 20 ~
-
Kĩ năng: Rèn cho HS kĩ năng tư duy, hoạt động nhóm, thuyết trình,
phản biện
2. Phương pháp, phương tiện dạy học:
-
Phương pháp: Hoạt động nhóm, thuyết trình, phản biện
-
Phương tiện: Máy chiếu, giấy A0, bút dạ, bút màu…
3. Các bước hoạt động:
-
Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm, phát giấy A0, bút dạ, yêu cầu cả 4
nhóm cùng thảo luận nội dung hoạt động 2.
HOẠT ĐỘNG CỦA GV - HS
Bước 1: Thảo luận nhóm (5phút)
NỘI DUNG BÀI HỌC
1. Mạng máy tính là gì?
Kiến thức: HS hiểu được phương tiện truyền thông của mạng máy
tính gồm mạng có dây và mạng không dây
-
Kĩ năng: Rèn cho HS kĩ năng tư duy, hoạt động nhóm, thuyết trình,
phản biện.
2. Phương pháp, phương tiện dạy học:
-
Phương pháp: Hoạt động nhóm, quan sát trực quan, thuyết trình,
phản biện
-
Phương tiện: Máy chiếu, các thiết bị mạng, giấy A0, bút dạ, bút
màu…
3. Các bước hoạt động:
-
Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm, phát giấy A0, bút dạ.
GV yêu cầu nhóm 1 và nhóm 2 tìm hiểu về kết nối có dây; nhóm 3
và nhóm 4 tìm hiểu về kết nối không dây theo các nội dung:
KẾT NỐI CÓ DÂY
KẾT NỐI KHÔNG DÂY
- Phương tiện truyền thông
- Thiết bị cần thiết
Bước 3: GV tổng kết (5 phút)
-GV cho HS xem SĐTD tổng quan kiến
thức và chuẩn kiến thức cho HS.
-GV nhận xét bài báo cáo của HS và
chọn ra bài làm tốt nhất để treo lên bảng.
~ 23 ~
HOẠT ĐỘNG 4:
TÌM HIỂU CÁCH THIẾT KẾ CỦA MẠNG MÁY TÍNH (5 PHÚT)
1. Mục tiêu:
-
Kiến thức: HS hiểu được các yếu tố cần thiết để thiết kế mạng máy
tính.
-
Kĩ năng: Rèn cho HS kĩ năng tư duy, hoạt động nhóm, thuyết trình,
phản biện
2. Phương pháp, phương tiện dạy học:
-
Phương pháp: Hoạt động nhóm, thuyết trình, phản biện
Phương tiện: Sách giáo khoa, tài liệu tham khảo về thiết kế mạng
máy tính.
~ 24 ~
lên báo cáo.
-HS của nhóm khác có thể nêu câu hỏi
phản biện
Bước 3: GV tổng kết ( 2 phút)
-GV nhận xét bài báo cáo của HS.
-GVchuẩn kiến thức và mở rộng nội
dung bài cho HS.
HOẠT ĐỘNG 5: CỦNG CỐ BÀI HỌC (3 PHÚT)
~ 25 ~