Mục lục
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp cho
GDP của đất nước nói chung và đối với nền kinh tế nông thôn nói riêng. Nhiều làng
nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu tư phát triển với quy mô và kỹ
thuật cao hơn, hàng hóa không những phục vụ nhu cầu trong nước mà còn cho xuất
khẩu với giá trị lớn.
Tuy nhiên, một trong những thách thức đang đặt ra đối với các làng nghề là
vấn đề môi trường và sức khỏe của người lao động, của cộng đồng dân cư đang bị
ảnh hưởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất của các làng nghề.
Những năm gần đây, vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của Nhà nước
cũng như các nhà khoa học nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu cho sự phát triển
bền vững các làng nghề. Đã có nhiều làng nghề thay đổi phương thức sản xuất cũng
như quản lý môi trường và thu được hiệu quả đáng kể. Song, đối với không ít làng
nghề, sản xuất vẫn đang tăng về quy mô, còn môi trường ngày càng ô nhiễm trầm
trọng. Theo thống kê Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường 2005, hiện cả nước
có khoảng 1450 làng nghề phân bố ở 58 tỉnh và thành phố trong cả nước trong đó
có khoảng 173 làng nghề dệt, tẩy nhuộm, ươm tơ. Riêng ở Đồng bằng sông Hồng
có khoảng 800 làng tập trung ở các tỉnh thành như: Hà Nội, Thái Bình, Nam Định,
Hải Dương…Các làng nghề này vẫn tự sản xuất và tìm nơi tiêu thụ để tồn tại. Với
1
sự mở cửa thông thoáng do cơ chế thị trường tạo ra, nhiều làng nghề đã tìm được
hướng đi mới cho mình, tạo ra nhiều ra việc làm nâng cao thu nhập cho người dân
nông thôn. Thế nhưng, do sự mở rộng và phát triển làng nghề không đi kèm với các
biện pháp xử lý chất thải, bảo vệ môi trường đã làm cho môi trường tại các làng
nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng. Theo đánh giá của các chuyên gia ở các tỉnh có làng
nghề thì hầu hết các làng nghề ở nước ta đều không đảm bảo chất lượng môi
trường, trong đó nhiều làng nghề đang ở mức ô nhiễm nghiêm trọng.
hội đã có một vốn tích lũy lớn, con người cũng đã ý thức được sự phát triển mang
tính cộng đồng và lâu dài. Đó chính là cơ sở hình thành khái niệm về nền sản xuất
sạch mà hướng trọng điểm của nó là sản xuất sạch hơn trong công nghiệp. Sự
chuyển đổi vị trí từ người gây ô nhiễm sang người làm sạch và bảo vệ môi trường là
một bước tiến bộ mang tính chất cách mạng của thời đại. nhiều công nghệ nhiều
giải pháp kĩ thuật, nhiều luật lệ mới dã được ban hành trong những năm gần đây
nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường của công nghiệp, đặc biệt là ô nhiễm do chất
thải nguy hại gây ra.
3
Quản lý chất thải nguy hại bao gồm từ việc phân loại, thu gom, vận chuyển,
xử lý, tiêu hủy là những vấn đề quan trọng trong công tác xử lý ô nhiễm và bảo vệ
môi trường. Các công tác phân loại chất thải nguy hại tại nguồn, thu gom, xử lý và
tiêu hủy chất thải ở hầu hết các nước phát triển đã được tổ chức đồng bộ từ chính
sách, pháp luật, công cụ kinh tế và có sự tham gia của nhiều thành phần trong xã
hội.
Các nước phát triển như Mỹ, Tây Âu, Bắc Âu, Nhật Bản… trình độ quản lý
chất thải nguy hại đã đạt ở mức độ cao, từ đó họ cũng đã xây dựng kế hoạch quản lý
chất thải nguy hại, áp dụng các công nghệ thích hợp để xử lý chất thải nguy hại và
ban hành nhiều điều luật thuộc lĩnh vưc này.
Nhật Bản, Mỹ, Anh, Canada, Pháp… là những nước đã tiến hành nghiên cứu
và xử lý tốt vấn đề này. Hoạt động của công ty tư vấn ERM ở Anh là một ví dụ điển
hình minh họa cho lĩnh vực này trên phạm vi thế giới.
Ở Nhật Bản, cơ quan quản lý Nhật Bản chia lĩnh vực quản lý chất thải nguy
hại thành 2 loại: Chất thải quản lý đặc biệt (chất ăn mòn, dễ cháy, chất lây nhiễm,
chất độc) và chất thải phóng xạ.
Hệ thống văn bản pháp luật dùng để quản lý chất thải nguy hại ở Nhật Bản
bao gồm:
-
Việc xử lý chất thải tại Hà Lan được sự tham gia tổng lực của chính quyền,
xã hội và các cơ quan chuyên nghành. Chất thải nguy hại được xử lý bằng nhiều
cách khác nhau, trong đó phần lớn được thiêu hủy, một phần được tái chế. Trước
đây Hà Lan tiến hành thiêu hủy chất thải nguy hại ngoài biển, nhưng từ năm 1990
trở lại đây, Hà Lan đã tập trung xử lý chất thải nguy hại tại 5 khu vực trên phạm vi
toàn quốc, thường do các doanh nghiệp tư nhân với sự tham gia của nhiều công ty
tiến hành dưới sự giám sát của các cơ quan chuyên môn. Hàng năm, Hà Lan có tới
hơn 20 triệu tấn chất thải. 60% trong số này được đổ thải tại các bãi chứa, phần còn
5
lại được đưa vào các lò thiêu hủy hoặc tái chế. Để bảo vệ môi trường, Chính phủ Hà
Lan đã đề ra mục tiêu giảm thiểu khối luwownfngj chất thải hàng năm để giảm chi
phí xử lý. Công nghệ áp dụng xử lý chất thải nguy hại chủ yếu là thiêu hủy, nhiệt
năng do các lò thiêu hủy sinh ra được hòa vào mạng lưới năng lượng chung của
quốc gia. Ngoài ra Hà Lan đã đạt được những bước tiến mạnh mẽ trong việc giáo
dục bảo vệ môi trường cho học sinh và các bà nội trợ, công nhân trong các xí
nghiệp… về sự cần thiết của phân loại chất thải tại nguồn.
2.3 Tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Viêt Nam
2.3.1 Tình hình chung
Tính trên toàn quốc năm 2008, khối lượng chất thải rắn công nghiệp vào
khoảng 13.100 tấn/ngày. Các ngành công nghiệp nhẹ, hóa chất, luyện kim là các
nghành phát sinh nhiều chất thải nguy hại nhất. Theo các thông tin tổng hợp từ Báo
cáo diễn biến môi trường Việt Nam năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môt trường
xuất bản, khối lượng chất thải nguy hại phát sinh mỗi ngày trên toàn quốc đã gia
tăng them 23% so với năm 2004, trong đó có khoảng trên 80% phát sinh từ hoạt
động công nghiệp, 15% từ các bệnh viện, còn lại từ các hoạt động khác.
Tổng lượng chất thải rắn y tế phát sinh từ các trung tâm y tế năm 2005 vào
khoảng 300 tấn/ngày trong đó có hơn 40 – 50 tấn/ngày là CTR y tế nguy hại cần
được xử lý. Đến năm 2008 tổng lượng CTR y tế phát sinh là 490 tấn/ngày trong đó
2.638.400
4.786.000
CTR y tế
Tấn/năm
21.500
179.000
CTR nông thôn
Tấn/năm
6.400.400
9.078.000
CTR làng nghề
Tấn/năm
774.000
1.023.000
Tổng cộng
quy, bản mạch.. cũ từ nước ngoài vào nước ta để xử lý hoặc tận thu phế liệu. Theo
thống kê của Phòng cảnh sát phòng chống tội phạm môi trướng công an thành phố
Hải Phòng cho biết trong 3 năm từ 2003-2006 đã có gần 2.300 container chứa gần
37.000 tấn ắc-quy chì phế thải đã được nhập vào cảng Hải Phòng
Ở Việt Nam, quản lý chất thải đặc biệt là chất thải nguy hại sao cho hợp lý và
an toàn theo phương diện bảo vệ môi trường là một vấn đề bức xúc ở các khu công
nghiệp, khu đô thi, các làng nghề…ở nước ta hiện nay.
Theo thống kê hiện nay cho thấy hầu hết các Công ty môi trường chưa có khả
năng xử lý CTR công nghiệp cũng như CTNH. Tại Hà Nội theo thông tin được
cung cấp từ URENCO Hà Nội cũng chỉ có 3 lò đốt CTR( công nghiệp và CTNH)
đặt tại khu lien hiệp xử lý CTR Nam Sơn (Sóc Sơn) chuyên xử lý CTR công nghiệp
với công suất 200kg/giờ, Cầu Diễn chuyên xử lý CTR y tế với công suất 120kg/giờ
và tỉnh Hưng Yên chuyên xử lý CTR công nghiệp với công suất 1000kg/ giờ.
Bảng 2: Hiện trạng một số công nghệ xử lý CTNH phổ biến ở Việt Nam
Tên công nghệ
Số cơ sở áp
Số hệ thống
Công suất phổ biến
dụng
công nghệ
Lò đốt tỉnh 2 cấp
21
26
50-200kg/giờ
Đồng xử lý trong lò
nung xi măng
Chôn lấp
2
8
8
200kg/ngày
4
4
0,3-0,5 tấn/ngày
8
Phá dỡ, tái chế ắc
6
6
0,5-200 tấn/ngày
quy chì thải
(Nguồn: Đánh giá hiện trạng công nghệ xử lý CTNH tại Việt Nam hiện nay,
Báo cáo tại hội nghị Môi trường toàn quốc năm 2010).
Một hạn chế cơ bản khác đối với thực tiễn quản lý chất thải đang tồn tại ở
Việt Nam là hầu như thiếu hẳn áp dụng những biện pháp ngăn ngừa và giảm thiểu
chất thải cũng như chưa có phân lập chất thải nguy hại, những chất thải hiện tại chỉ
được xử lý sơ bộ. CTR nguy hại có nguồn gốc phát sinh rất đa dạng và số lượng
không ngừng tăng lên theo tốc độ phát triển của công nghiệp cũng như tăng dân số
đô thị. Quản lý CTR nguy hại hiện nay đang là vấn đề gây bức xúc trong xã hội.
-
CTNH trong khi ngân sách nhà nước chi cho việc thu gom, xử
lý chất thải còn ở mức rất thấp, các doanh nghiệp chưa sẵn sàng
tự trang trải cho hoạt động quản lý chất thải của đơn vị, điều
-
này dẫn đến sự bất cập trong kiểm soát và quản lý.
Mặc dù hiện nay Chính phủ đã ban hành một số văn bản pháp lý
trong quản lý CTNH nhưng còn thiếu khá nhiều các tiêu chuẩn
thải với các CTNH, thiếu các quy trình công nghệ và các thiết
-
bị phù hợp để xử lý CTNH.
Việc đầu tư, xây dựng các trung tâm xử lý CTNH cấp vùng là
chủ trương đúng đắn của Chính phủ nhằm giảm thiểu ô nhiếm
môi trường, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý CTNH.
Chính phủ cần gấp rút triển khai các dự án này trong thời gian
sớm nhất.
2.3.2 Làng nghề Việt Nam và vấn đề quản lý CTNH
Chất thải rắn ở hầu hết các làng nghề chưa được thu gom triệt để, nhiều làng
nghề xả thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước
và tác động xấu đến cảnh quan. Thống kê năm 2008 của Trung tâm nghiên cứu và
quy hoạch Môi trường đô thi – Nông thôn, Bộ Xây dựng cho thấy tổng lượng chất
thải rắn nguy hại phát sinh từ các làng nghề trên toàn quốc vào khoảng 2800
tấn/ngày. Trong đó các làng nghề ở miền Bắc phát sinh nhiều chất thải nguy hại
nhất, đặc biệt là các làng nghề tái chế kim loại, đúc đồng với nguồn chất thải rắn
phát sinh bao gồm bavia, bụi kim loại, phôi, rỉ sắt với lượng phát sinh từ 1- 7
tấn/ngày ( Nguồn: Báo cáo môi trường năm 2008).
nguyên và Môi trường về Quản lý CTNH.
Quy chuẩn Việt Nam 07:2009/BTNMT về Ngưỡng chất thải nguy
-
hại
Sử dụng các nhãn cảnh báo CTNH theo quy định của TCVN
6707:2009 Chất thải nguy hại – Dấu hiệu cảnh báo
Chiến lược quốc gia về quản lý CTR Việt Nam được ban hành theo
“
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 2149/QĐ- Ttg về việc phê duyệt Chiến
lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn tới năm 2025 và tầm nhìn tới năm
2050” được xây dựng bởi Bộ Xây dựng và Bộ Tài nguyên và Môi trường trong năm
2009. Chiến lược về quản lý CTR đưa ra mục tiêu quản lý CTR bao gồm chất thải
11
sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế trong các năm mục tiêu 2015, 2020,
2025.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Tình hình sản xuất của làng nghề
3.1.1 Sản phẩm làng nghề
Trải qua hàng nhiều thế kỷ, thương hiệu lụa Hà Đông ngày càng được phát
triển không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn được xuất khẩu sang nhiều nước. Ngày
nay trước sự phát triển của cơ chế thị trường, nghề dệt lụa Vạn Phúc ngày càng có
Phục vụ cho việc tẩy, nhuộm cho làng nghề là 12 lò tẩy nhuộm hoạt động
quanh năm. Ông Chỉnh cho biết trong tơ tằm tự nhiên có 25% chất keo nên trước
khi sử dụng phải dùng Na 2CO3 và xà phòng để tẩy rửa. Đúng ra phải dùng xà
phòng trung tính để rửa mới đúng kỹ thuật nhưng nay các hộ đều chuyển sang dùng
xà phòng công nghiệp cho tiện và nhanh. Như vậy qua khâu tẩu rửa 1m lụa có
trọng lượng 80g sẽ thải ra ngoài 20g tạp chất cùng nước có độ kiềm cao, đây là
nguyên nhân góp phần gây ô nhiễm môi trường.
3.2 Thực trạng về phát sinh chất thải
3.2.1 Công nghệ sản xuất
13
Công nghệ dệt chủ yếu gồm có: dệt tơ lụa và dệt vải sợi. Công nghệ lụa khá
phức tạp qua nhiều khâu là kéo sợi, dệt, gia công hóa học vật liệu dệt.
-
Kéo sợi: tùy theo yêu cầu của sản phẩm mà có các quá trình khác
nhau như sau:
Dây chuyền kéo tơ xe: tơ nguyên liệu
xe tơ
guồng tơ
chập tơ
đảo
Dây chuyền kéo tơ không xe: tơ nguyên liệu
Nước
Hóa chất
Chuội tơ
Nước thải
Xỉ than
Hơi hóa chất,
khí lò
Giặt
Nước
thải( Na2CO3,
keo)
Nhuộm tơ
Nước thải
Xỉ than
Hơi hóa chat,
khí lò
Giặt
Nước thải
chứa hóa chất,
thuốc nhuộm
Dệt lụa
Sơ đồ1: Công nghệ ươm tơ, dệt lụa kèm dòng thải tại làng nghề Vạn Phúc
Vải mộc
Đốt lông, xơ
Nước
Hóa
chất
Nhiên
liệu
Nước thải chứa hóa
chất
Khí thải chứa hóa
chất
Xỉ than
Nấu, giặt
Hóa
chất: Javen,
H2O2
Nước
Nước thải chứa hóa
chất
Tẩy, giặt
phẩm
Sản phẩm
Sơ đồ2: Công nghệ nhuộm, in hoa kèm dòng thải
Tại Vạn Phúc, công nghệ sản xuất cũng được cải thiện và nâng cấp để tăng
năng suất cũng như chất lượng của sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách
hàng, do đó sản phẩm dệt ra phải qua nhuộm màu với nhiều loại hóa chất hơn. Điều
này cũng đồng nghĩa với việc lượng hóa chất thải ra môi trường cũng ngày càng
nhiều hơn nếu như không có biện pháp nhằm xử lý chất thải.
Trong hầu hết các công đoạn của quá trình dệt, nhuộm thì nước thải là vấn đề
quan trọng nhất. Nước thải có chứa hóa chất tẩy trắng, nhuộm như Javen, xút,
CH3COOH các tạp chất trong tơ tằm…Phần lớn các chất này đều ảnh hưởng xấu
tới sức khỏe con người.
-
Công đoạn tẩy trắng: đây là quá trình sử dung rất nhiều nước. Các hóa
chất được sử dụng bao gồm chất tẩy như NaOH, H2O2, K2MnO7. Qúa trình
-
này thải ra chủ yếu là nước thải chứa hóa chất.
Công đọan giặt: các hóa chất dùng trong quá trình này thường là những
chất có độ kiềm cao. Tuy nhiên cũng có một số cơ sở dung axit để giặt.
-
Nước thải quá trình giặt thường có độ kiềm cao.
Công đọan nhuộm: quá trình nhuộm đòi hỏi một lượng lớn nước và hóa
chất. Thuốc nhuộm thường được nhập từ Trung Q uốc giá thành rẻ và gây
1,375
Hóa chất
3
Axit axetic
m
0,016
Xà phòng Macxay
tấn
0,003
Xà phòng nhà máy
0,315
Natri cacbonat
0,163
Natri Clorua
0,01
Peoxihydro
0,048
Silicat
0,056
Hồ PVA
0,077
18
Các loại hóa chất khác
Tổng cộng
0,056
0,728 tấn+ 0,016 m3 axit
Lượng
Công đoạn 1: Công nghệ dệt (Công nghệ chuẩn bị sợi ngang, sợi dọc)
Tơ các loại
192 tấn
Lụa mộc
186,24 tấn
Công đoạn 2: Công nghệ hoàn tất
Axit axetic
3,072 m3
Axit axetic
2,765m3
Xà phòng Macxay
0,576 tấn
Xà phòng Macxay
0,518 tấn
Xà phòng nhà máy 60,480 tấn
Xà phòng nhà máy
54,432 tấn
Natri cacbonat
31,296 tấn
Natri cacbonat
28,166tấn
Natri Clorua
1,920 tấn
Natri Clorua
1,728 tấn
Silicat
10,752 tấn
Silicat
9,677 tấn
Công đoạn 2: Công đoạn hoàn tất
Qúa trình chuội
Than
Tấn
96,705
Xỉ than: 12,088kg
Tải lượng bụi lơ lửng: 45,451kg
Tải lượng Sox: 11,314kg
Tải lượng NOx: 870,345kg
Tải lượng CO: 29,012kg
Tải lượng VOC: 5,319kg
Qúa trình nhuộm
Than
Tấn
120,485
Xỉ than: 1,5061kg
Tải lượng bụi lơ lửng: 56,628kg
Tải lượng Sox: 14,097kg
Tải lượng NOx: 1084,365kg
Tải lượng CO: 36,146kg
Tải lượng VOC: 6,627kg
(Tài liệu tham khảo: “Tài liệu hướng dẫn áp dụng các giải pháp cải thiện
môi trường cho làng nghề Dệt Nhuộm”, Nxb Khoa Học Kỹ Thuật, 2010, trang 24)
3.2.4 Đặc tính nước thải dệt nhuộm
Nước thải sinh ra từ nhiều công đoạn khác nhau: công đoạn giũ hồ, nấu vải,
xử lý axit, giặt tẩy, làm bóng, nhuộm, in hoa…trong đó nước thải chủ yếu từ quá
trình giặt sau mỗi công đoạn.
20
những tạp chất khác từ sợi tự nhiên. Thậm chí nồng độ thuốc nhuộm thấp
(khoảng 0.5 mg/1) cũng có thể được nhìn thấy bằng mắt thường. nước thải có
màu đen gây ra những tác động tiêu cực tới hệ thống sinh học và những
-
nguồn tiếp nhận.Nó gây cản trở việc hấp thụ, phân giải ôxi trong nước.
Trị số kim loại: một lượng nhỏ các kim loại nặng như đồng, crom, kền,
coban, kẽm, chì, thủy ngân được bổ sung vào sự nhuộm hoạt tính, nhuộm
trực tiếp và một vài hỗ trợ chất hóa học. thậm chí, chỉ với một lượng nhỏ các
21
kim loại trong nước thải, nhưng nếu không được xử lý sẽ gây ra những nguy
-
hại tới sinh vật và nhân loại.
Chất độc: Nước thải bao gồm các chất hoạt tính bề mặt, các hợp chất amin,
các chất cơ bản của các hợp chất ankylphenol etoxylat, và gasoline được sử
-
dụng trong thuốc nhuộm.
Các hợp chất hữu cơ halogen độc hại: sinh ra từ các thuốc nhuộm hoạt tính,
-
một vài thuốc nhuộm phân tán và chất màu.
Muối trung tính (Na2SO4 hoặc NaCl): thuốc nhuộm hoạt tính trong nước thải
tẩy chuội
H2S và các chất khác bám
vào trong quá trình chuội
5 Nhuộm
Các loại thuốc nhuộm, các
hóa chất trợ: thuốc nhuộm
axit, trực tiếp, Na2CO3,
CH3COOH, NaCl
6 Giặt sau nhuộm
Thuốc nhuộm và hóa chất
còn dư sau quá trình nhuộm
pH, COD cao
pH, COD, BOD5, SS,
TS cao
pH, COD, BOD5, SS,
TS, độ màu cao
Lưu lượng nước thải
lớn
(Tài liệu tham khảo: “Tài liệu hướng dẫn áp dụng các giải pháp cải thiện
môi trường cho làng nghề Dệt Nhuộm”, Nxb Khoa Học Kỹ Thuật, 2010, trang 31)
Bảng 7: Lượng nước thải phát sinh của làng nghề Vạn Phúc
Nguồn chất thải
Lượng nước
Lượng nước
Lượng nước thải
thải từ quá trình thải của
bình quân của một
3.3 Quản lý chất thải nguy hại
Thông tư 12/2011/BTNMT Quy định về Quản lý chất thải nguy hại, mục C
Danh mục chi tiết của các CTNH và chất thải có khả năng là CTNH, đã quy định về
CTNH và chất thải có khả năng là CTNH của ngành dệt nhuộm như sau:
Mã
CTNH
10 02
Tên
chất
thải
Chất
thải từ
ngành
dệt
nhuộm
10 02 01 Chất
thải từ
quá
trình
hồ vải
có
dung
môi
hữu cơ
10 02 02 Phẩm
màu và
chất
14
A3140
A3150
Y41
Y42
Đ, C
Lỏng
*
04 02
16
A1040
Y12
Đ, ĐS
Rắn/
Lỏng
*
04 02
19
A4070
Y12
Đ, ĐS
Lỏng
*
Như vậy, chất thải, chất thải độc hại của ngành dệt nhuộm bao gồm nhiều
chất trong đó có dung môi và dầu thải cũng như chất nhuộm thải. Các chất thải khác
gồm có sợi vải, cặn từ nhà máy xử lý, từ bể điều hoà dòng chảy cũng như từ khâu
bao gói.
3.3.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại của làng
nghề
Chất thải rắn ở hầu hết các làng nghề chưa được thu gom triệt để, nhiều làng
nghề xả thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước
và tác động xấu đến cảnh quan. Thống kê năm 2008 của Trung tâm nghiên cứu và
quy hoạch Môi trường đô thi – Nông thôn, Bộ Xây dựng cho thấy tổng lượng chất
thải rắn nguy hại phát sinh từ các làng nghề trên toàn quốc vào khoảng 2800
tấn/ngày. Trong đó các làng nghề ở miền Bắc phát sinh nhiều chất thải nguy hại
nhất, đặc biệt là các làng nghề tái chế kim loại, đúc đồng với nguồn chất thải rắn
phát sinh bao gồm bavia, bụi kim loại, phôi, rỉ sắt với lượng phát sinh từ 1- 7
tấn/ngày (Nguồn: Báo cáo môi trường năm 2008).
25