Dư luận xã hội của người dân Hà Nội về vấn đề bạo hành trẻ em trong nhà
trường hiện nay
PHẦN A: ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
I. Lý do chọn đề tài
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” đó là lời dạy của Bác Hồ giành cho chúng
ta, luôn nhắc nhở chúng ta cần phải quan tâm, chăm sóc và bảo vệ trẻ em. Coi việc đầu tư
để phát triển hoàn thiện trẻ em, là đầu tư cho sự phát triển bền vững, là đầu tư cho tương
lai của đất nước. Trẻ em là tương lai, là niềm hy vọng của đất nước, là thế hệ kế thừa và
xây dựng đất nước giàu mạnh ngày mai; là niềm tự hào của mỗi bậc cha mẹ mỗi khi con
cái chăm ngoan, học giỏi và thành đạt.
Đặc biệt, đối với Việt Nam điều này càng có ý nghĩa hơn, khi nước ta là một quốc
gia có dân số trẻ, tỉ lệ gia tăng tự nhiên cao, vì vậy có hơn 29,4% dân số ở độ tuổi từ 0
đến 14 tuổi trong tổng sô 85.789.573 người (4-2009) () .
Nhìn lại đất nước sau 25 năm đổi mới, những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực
kinh tế, chính trị, xã hội… đã góp phần nâng cao mức sống người dân. Cũng nhờ vậy, mà
trẻ em hôm nay có điều kiện được sống trong môi trường vật chất đầy đủ hơn, các em
được đến trường, được ăn ngon, được mặc đẹp, được tiếp cận với các dịch vụ giáo dục,
dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ giải trí hiện đại, lành mạnh và bổ ích hơn.
Ngay từ năm 1990, Việt Nam đã là nước đầu tiên của châu Á và là nước thứ hai
trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Tiếp đó, Việt Nam không
ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về chăm sóc, bảo vệ trẻ em trong nhiều lĩnh vực.
Tuy nhiên, có 1 vấn đề nổi lên trong khoảng thời gian gần đây, thu hút đông đảo
sự quan tâm của dư luận xã hội, nó vi phạm nghiêm trọng Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em của Việt nam và vi phạm sâu sắc Nhân quyền Quốc tế đó là nạn bạo hành trẻ
em. Nạn bạo hành trẻ em đã có từ trước nhưng hiện nay bạo hành trẻ em được thực hiện
bằng những hành vi hết sức thô bạo gây tổn thương nghiêm trọng về thể xác và tinh thần
của trẻ, cùng với sự phát triển của các cơ quan truyền thông nó tạo nên dư luận xã hội rất
mạnh mẽ.
1
2
động như đánh đập, vùi dập, khủng bố, làm nhục đều khiến đứa trẻ thiếu tự tin, rụt rẻ,
luôn trong trạng thái thảng thốt. Bị bạo hành, trẻ dần dần hình thành một nhân cách nhút
nhát, tự ti, thiếu sự khẳng định mình khi mà trong cuộc sống có biết bao điều cần khẳng
định bản thân mỗi người. Đứa trẻ chịu sự giáo dục bằng roi vọt dễ có hành vi độc ác khi
trưởng thành. Sống trong môi trường không lành mạnh, bị bạo hành hoặc chứng kiến sự
bạo hành, trẻ sẽ có quan niệm sống lệch lạc, không biết tôn trọng người khác và cũng
không biết tôn trọng chính bản thân mình”.
Tất cả chúng ta đều biết rằng, đối với trẻ em thì gia đình và nhà trường là hai môi
trường cơ bản, quan trọng cho sự phát triển của trẻ nhỏ. Tuy nhiên, bạo hành trẻ em trong
gia đình đã liên tục rung lên hồi chuông cảnh báo gây kinh ngạc cho xã hội về thực hiện
vai trò làm cha mẹ trong gia đình hiện đại ngày nay. Nhưng gây bức xúc hơn nữa đó là
những hành vi bạo lực từ những người “như mẹ hiền” của trẻ, từ những người có học
thức, được kính nể trong xã hội và được trẻ tin yêu, kính trọng đó là nạn bạo hành trẻ em
trong nhà trường. Những hành vi thô bạo, mất nhân tính như dùng băng keo dán miệng,
nhốt trẻ vào cầu thang máy hay tát học sinh…không ai lại nghĩ rằng nó được tiến hành
bởi những người thầy, người cô luôn gần gũi với học trò. Theo thống kê của Bộ Giáo dục
và Đào tạo, trong thời gian vừa qua có khoảng gần 20 vụ bạo hành học sinh đã xảy ra liên
tiếp tại nhiều tỉnh, thành trong cả nước, 10 địa phương xảy ra các vụ bạo hành điển hình
là Hà Nội có 5 vụ, Thành phố Hồ Chí Minh có 3 vụ, Đồng Tháp 2 vụ, Thanh Hóa 2 vụ,
Hải Phòng, Nghệ An, Vĩnh Phúc, Trà Vinh, Kon Tum, Đắc Lắc mỗi nơi có 1 vụ và trong
năm học 2008 - 2009, cả nước đã có 46 giáo viên vi phạm đạo đức nhà giáo, trong đó có
9 người bị buộc thôi việc[3].
Tuy nhiên, điều quan tâm ở đây đó là: pháp luật phòng chống bạo hành trẻ em ở
Việt Nam không thiếu nhưng tình trạng này vẫn ngày càng tăng. Các vụ bạo hành trẻ em
trong nhà trường phải sau một thời gian dài, khi trẻ bị tổn thương nghiêm trong về mặt
thể xác và tinh thần thì mới được những người dân xung quanh phát giác và báo cho
chính quyền. Và chúng ta nhận thức được rằng, điều quan trọng để giảm nạn bạo hành trẻ
xã hội học về trẻ em đề cập đến vấn đề này ngày càng nhiều.
Trong cuốn “ Bạo hành trên cơ sở giới” của tác giả Lunne Stevens, nhà giáo dục
học và tâm lí học, chuyên gia về bạo hành về giới, được Hội đồng Dân số chọn lọc một
4
số chương (Chương 2,3,4,5,6 và 8) dịch ra Tiếng Việt, Xuất bản 2002, đề cập đến nạn
bạo lực về giới, nhưng nó chỉ tập trung vào 3 hình thức hay gặp nhất của bạo lực giới:
lạm dụng tình dục trẻ em, bạo lực trong gia đình và hiếp dân hoặc tấn công tình dục.
Trong đó, cuốn sách đã chỉ ra được mối quan hệ giữa nạn bạo lực gia đình (giữa vợ
chồng) với nạn bạo lực trẻ em. Nghiên cứu về bạo lực trẻ em phải gắn liền với các yếu tố
về văn hóa, kinh tế… và khẳng định rằng bạo lực không phải do nguyên nhân di truyền
hay bệnh tật, không phải do rượu và thuốc lá hay do chứng stress gây ra. Bạo lực là “căn
bệnh xã hội” phức tạp, bởi lí do để che đậy cho hành vi bạo lực trẻ em được nhiều người
trong xã hội thùa nhận, đó là quan niệm “thương cho roi cho vọt”, “ nó được củng cố một
cách công khai hay kín đáo bởi các thiết chế chủ yếu của xã hội như: gia đình, giáo dục,
tôn giáo,phương tiện truyền thông đại chúng…” [1]. Tuy nhiên, vì đây là cuốn tài liệu
tham khảo dùng cho tập huấn cán bộ y tế, nên nó mới chỉ đề cập đến các thông tin như
làm thế nào để nhận biết hành vi bạo lực? chia sẻ như thế nào đối với nạn nhân của lạm
dụng tình dục trẻ em, bạo lực gia đình, tấn công tình dục phụ nữ… chưa đề cập tới dư
luận xã hội về vấn đề này như thế nào.
Trong báo cáo của Hồ Thị Luấn và Mai Thị Quế thuộc Viện Nghiên cứu Phát
triển TP.HCM: “ Bạo hành trẻ em trong nhà trường: nguyên nhân và một số giải pháp
phòng ngừa” , 5/2009, cho rằng nhà trường là nơi hội tụ đầy đủ những mặt tích cực cả về
tri thức, đạo đức, văn hóa, chính trị... nhưng hiện tượng bạo hành đã và đang diễn ra một
cách phổ biến và rất phức tạp. Bạo hành trẻ em trong nhà trường ngày càng có xu hướng
gia tăng cả về số lượng cũng như tính chất nghiêm trọng. Theo số liệu thống kê từ đường
dây nóng của Cục Bảo vệ - Chăm sóc trẻ em cho thấy, sự xâm hại và bạo lực đối với trẻ
em trong gia đình tăng gấp 3 lần; tại cộng đồng tăng 7 lần và trong trường học tăng 13
lần so với chục năm về trước và trên thực tế số vụ xâm hại, ngược đãi trẻ em còn cao hơn
của mình. Đây là tỷ lệ rất lớn. Trường học là nơi trẻ sẽ được học hành vui chơi thoải mái
và hào hứng mỗi khi đến lớp để được tiếp nhận những kiến thức mới qua thầy cô và vui
chơi với bạn bè. Tuy nhiên, ngay cả thầy cô, những người được coi là chủ thể của quá
trình dạy học lại làm áp lực khiến học sinh phải sợ thì điều này chứng tỏ rằng một số
trường học hiện nay đang là một nơi gây áp lực đối với chính học sinh của mình.[4]
Trong bài viết “Các mức độ – hình thức phản ứng của phụ huynh học sinh về trẻ
em bị bạo hành trong nhà trường” của Phan Thanh Minh, Sở Lao động Thương binh và
6
Xã hội TP.HCM, tại Hội thảo “Bạo hành trẻ em trong gia đình và nhà trường hiện nay –
thực trạng và giải pháp” – do Viện Nghiên cứu Phát triển thành phố Hồ Chí Minh phối
hợp với Trung tâm tư vấn FDC tổ chức ngày 27/5/2009 tại TPHCM, có đề cập đến phản
ứng của phụ huynh học sinh, trước tình trạng trẻ em bị bạo hành trong nhà trường do
chính thầy, cô giáo của mình. Hầu như các phụ huynh đều cho rằng đó là những hành vi
phản giáo dục, và những người thầy, cô đó không có đủ tư cách trở thành giáo viên. Bài
viết cũng chỉ ra nguyên nhân gây nên bạo hành,bài viết nêu: trước hết là phải kể đến
nguyên nhân từ phía học sinh. Nhiều em hay phạm lỗi, nhiều em học sinh cá biệt còn có
những hành vi vô lễ với các thầy cô giáo. Điều này gây ức chế, áp lực cho các thầy cô và
dẫn đến hành vi bạo hành [5]. Tuy nhiên, đây chỉ là những đánh giá mang tính chủ quan
của tác giả, chứ không phải dựa trên nghiên cứu thực nghiệm, nên những nhận xét còn
thiếu tính xác thực.
Như vậy, có thể tổng quan được bức tranh về hoạt động nghiên cứu xã hội học về
bạo hành trẻ em trong nhà trường ở Việt Nam hiện nay ngày càng đa dạng và mở rộng về
phạm vi. Nhưng hầu hết các nghiên cứu đều tập trung mô tả về thực trạng bạo hành của
thầy cô giáo với học sinh hiện nay, nhằm phát hiện ra những nguyên nhân gây nên, từ đó
đưa ra những giải pháp. Hầu như, ít có nghiên cứu nào nghiên cứu sâu về vấn đề dư luận
xã hội đối với nạn bạo hành trong nhà trường hiện nay.
Chính vì vậy, Đề tài “Dư luận xã hội của người dân Hà Nội về ván đề bạo hành
trẻ em trong nhà trường hiện nay” được tiến hành ở Hà Nội, tuy có sự bó hẹp về phạm vi
IV.1. Đối tượng nghiên cứu
Ý kiến, đánh giá, thái độ của người dân từ 18 tuổi trở lên, có hộ khẩu tại Hà Nội
về hành vi bạo hành của thầy cô giáo đối với học sinh.
IV.2. Khách thể nghiên cứu
Người dân Hà Nội trên 18 tuổi có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội
V. Địa điểm, thời gian thu thập thông tin
V.1.Địa điểm thu thập thông tin
Tiến hành thu thập thông tin tại 5 xã, phường, thị trấn thuộc Thành phố Hà Nội,
bao gồm:1.Phường Nghĩa Đô – Quận Cầu Giấy, 2.Thị trấn Yên Viên- Huyện Gia Lâm,
3.Xã Hạ Hồi- Huyện Thường Tín, 4.Phường Trần Hưng Đạo- Quận Hoàn Kiếm, 5.Thị
trấn Sóc Sơn- Huyện Sóc Sơn
8
V.2. Thời gian thu thập thông tin
- Thời gian tiến hành nghiên cứu từ lúc lập đề cương nghiên cứu đến nộp báo cáo
kết quả trong vòng 4 tháng từ 3/6/2011đến 3/10/2011
- Thời gian thu thập thông tin trong vòng 35 ngày: từ 25/7/2011 đến 30/8/2011
VI. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
VI.1. phương pháp luận
VI.1.1. phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mac-Lênnin
Quan điểm duy vật của chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng: vật chất có trước ý thức,
sinh ra ý thức và quyết định ý thức. Vì vậy, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, nhưng
đồng thời ý thức xã hội tác động quay trở lại cải tạo, biến đổi tồn tại xã hội. Cũng như
các yếu tố thuộc lĩnh vực kinh tế luôn có vai trò quyết định đối với mọi lĩnh vực đời sống
xã hội: văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế… Nhưng các lĩnh vực này luôn có mối quan hệ
biện chứng mật thiết với sự phát triển kinh tế. Áp dụng khi nghiên cứu xã hội học về dư
luận xã hội đối với nạn bạo hành trẻ em: dư luận xã hội thuộc về ý thức xã hội, nó chịu sự
tác động từ các yếu tố tồn tại xã hội như: kinh tế, học vấn, hoàn cảnh sống,…
Phương pháp biện chứng của Chủ nghĩa Mác cho rằng: mọi sự vật, hiện tượng,
Áp dụng trong nghiên cứu đề tài này, việc tìm hiểu ý kiến, đánh giá, phán xét hay
thái độ của người dân đối với bạo lực học đường cần phải tìm cách lí giải ý nghĩa, hay
biểu tượng mà họ gắn cho hành vi bạo hành trẻ em. Cụ thể, đối với người lớn luôn lây cớ
về quan niệm “thương cho roi cho vọt” để che đậy cho hành vi bạo hành của mình. Họ
cho rằng, “dạy con phải dạy từ thuở còn thơ” , vì thương con, cần dạy dỗ nghiêm khắc
con trẻ, như thế thì nó mới “nên người”. Thầy cô giáo và cha mẹ lí giải rằng, khi trẻ con
phạm lỗi chỉ có “đòn đau’ thì mới “nhớ lâu”, thì chúng mới ghi nhớ lời dạy trong đầu và
cố gắng lần sau không còn tái phạm. Còn nếu cư nhân nhượng, vỗ về, khuyên răn chúng
là nuông chiều trẻ con, có thể làm hư chúng, và nó thể hiện “ghét cho ngọt cho bùi”. Còn
đối với trẻ em, các em nghĩ rằng chúng bị phạt là do chúng đã làm sai, mắc lỗi thị bị đòn
roi, mắng chửi là điều tất nhiên, vì vậy có nhiều em bị thầy cô giáo trên lớp đánh,
mắng..nhưng các em vẫn không dám nói với người lớn, sợ bố mẹ các em cho rằng vì ở
trên lớp các em hư, nghịch ngợm, hay đã mắc lỗi gì đó…
b. Lý thuyết xung đột- Quan điểm của Mác-xít về dư luận xã hội
Theo quan điểm của Mác xít, dư luận xã hội luôn đóng vai trò là phương tiện và
yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội cũng như hành vi của con người. Các nhà kinh điển
Mác xít cho rằng gốc rễ của sự biến đổi xã hội là sự biến đổi trong ý thức của quần chúng
10
nhân dân, để có sự cải biến xã hội thực tế trước hết phải có những cải biến trong dư luận
xã hội.
Khi tiếp cận quan điểm Mác-xít về dư luận xã hội, chúng ta có các luận điểm
chính sau:
Dư luận xã hội là một dạng đặc trưng của ý thức xã hội. vì vậy, thông qua nghiên
cứu về dư luận xã hội ở Hà Nội về bạo hành trẻ em trong nhà trường, ta có thể thấy được
nhận thức, hiểu biết của họ về vấn đề này.
Dư luận xã hội là yếu tố thuộc về kiên trúc thượng tầng nên nó chịu sự chi phối từ
các yếu tố của cơ sở hạ tầng. Khi nghiên cứu dư luận xã hội phải đo lường được các yếu
- cỡ mẫu: 500 người
- chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu chùm
Bước 1: lập danh sách toàn bộ 404 xã, 154 phường, 22 thị trấn trên địa bàn Hà
Nội. Mỗi 1 xã, phường, thị trấn là 1 chùm (cụm).
Bước 2: từ 580 xã, phường, thị trấn chọn ngẫu nhiên hệ thống ra 5 xã, phường, thị
trấn đó là:
Phường Nghĩa Đô – Quận Cầu Giấy; Thị trấn Yên Viên- Huyện Gia Lâm; Xã Hạ
Hồi- Huyện Thường Tín;
Phường Trần Hưng Đạo- Quận Hoàn Kiếm ; Thị trấn Sóc
Sơn- Huyện Sóc Sơn.
Bước 3: từ mỗi một xã phường chọn ngẫu nhiên hệ thống ra 100 người/ 1chùm,
rồi tiến hành thu thập thông tin.
VII. Thao tác hóa các khái niệm liên quan
a.
Khái niệm về dư luận xã hội
Theo Tiến sĩ Mai Quỳnh Nam, dư luận xã hội là sự thể hiện tâm trạng xã hội, phản
ánh sự đánh giá của các nhóm xã hội lớn của nhân dân nói chung về các hiện tượng đại
diện cho lợi ích xã hội cấp bách, trên cơ sở các quan hệ xã hội đang tồn tại.
Trong đề tài nghiên cứu này, tôi nghiên cứu dư luận xã hội về nạn bạo hành trẻ em
như là thể hiện tâm trạng xã hội, biểu thị mối quan tâm, tâm tư nguyện vọng được thể
hiện dưới dạng các ý kiến, đánh giá, thái độ của đông đảo người dân về nạn bạo hành của
thầy cô giáo đối với học sinh hiện nay.
b.
Khái niệm bạo hành
Bạo hành trẻ em trong nhà trường là bất cứ hành vi bạo lực nào về mặt thân thể,
tâm lí, xã hội, tình dục… mà giáo viên gây ra cho học sinh dưới 16 tuổi.
VIII. Khung lý thuyết, hệ thống các biến số, chỉ báo đo lường
VIII.1. Giả thuyết nghiên cứu
-
hầu hết mọi người đều cho rằng những hành vi bạo lực về thân thể của thầy
cô giáo đối với học sinh là hành vi vi phạm đạo đức và vi phạm pháp luật.
-
đa số mọi người đều cho rằng có thể chấp nhận được hành vi thầy cô giáo
trách mắng học sinh khi học sinh phạm lỗi, có thái độ vô lễ với thầy cô giáo.
13
-
những người có trình độ học vấn càng cao thì có nhận thức đầy đủ hơn về
hậu quả của bạo hành trẻ em trong nhà trường vì vậy họ có thái độ phản đối gay gắt hơn
đối với các hành vi bạo hành trẻ em.
-
Những người thường xuyên tiếp cận với các nguồn thông tin về các vụ bạo
hành trẻ em trong nhà trường, thường xuyên trao đổi chia sẻ thông tin thì họ có những
đánh giá đúng hơn về nạn bạo hành trẻ em trong nhà trường hiện nay.
Đặc điểm
nhân khẩu
học:
Giới tính
Trình độ học
vấn
Nghề nghiệp
Thu nhập
Tôn giáo
Nơi sống
Đặc điểm
Tình
trạngcá
nhân:
hôn nhân
Mức độ tiếp cận
thông tin về bạo
hành trẻ em,
Nguồn thông
tin, Mức độ
chia sẻ thảo luận
thông tin,
Đối tượng chia
sẻ thông tin.
Dư luận
xã hội
của
người
4. Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ chí Minh, Bạo hành trẻ em trong nhà
trường:
nguyên
nhân
và
một
số
giải
hids.hochiminhcity.gov.vn).
15
pháp
phòng
ngừa,
2009,(http:
5. Vietnam Social Work Network (Mạng công tác xã hội Việt Nam ),
http:vnsocialwork.net
6. Thực trạng bạo lực trẻ em ở nước ta hiện nay-giải pháp, Vietnam Social Work
16
4.
Người trả lời có thể trả lời câu hỏi mà không cần có điều tra viên ở cạnh
bên. Tạo cho người trả lời cảm giác về tính khuyết danh, tính bảo mật thông tin nên câu
trả lời trung thực hơn.
5.
Không yêu cầu trình độ cao đối với điều tra viên
6.
Thông tin thu thập nhanh, xử lí nhanh nên mang tính cập nhật, thời sự
BẢNG HỎI ANKET:
PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN
NGHIÊN CỨU DƯ LUẬN XÃ HỘI CỦA NGƯỜI DÂN
HÀ NỘI VỀ VẤN ĐỀ BẠO HÀNH TRẺ EM TRONG NHÀ TRƯỜNG HIỆN
NAY
Giám sát viên :……………………………………….
Điều tra viên :………………………………………..
Thời gian
:
Ngày ……………..tháng………….
2. nữ
A.3. Trình độ học vấn
1.
Không biết chữ
5. Trung cấp chuyên nghiệp
2.
Tiểu học
6. Cao đẳng, đai học
3.
Trung học cơ sở
7. Trên đại học
4.
Trung học phôt thông
A.4. Nghề nghiệp hiện nay:
1.
2. Độc thân
5. Góa chồng/góa vợ
3. Ly thân
6. khác (ghi rõ)………..
A.7: Gia đình đang sống gồm bao nhiêu thế hệ?
18
1.
1 thế hệ
3. thế hệ
2.
2 thế hệ
4. thế hệ
A.8. Số trẻ dưới 18 tuổi đi học đang sống cùng trong gia đình :
S
Giới
4
5
6
7
B.
Nội Dung
1.
Nhận thức về nạn bạo hành trẻ em trong nhà trường
B.1. ông/bà đã từng nghe nói đến cụm từ “bạo hành trẻ em” chưa:
1. Đã nghe
2. chưa nghe
(bỏ câu B.2)
B.2. ông /bà nghe từ đâu
1. người trong gia đình
2. bạn bè
3. các phương tiện truyền thông địa chúng
4. qua hoạt đông văn hóa-xã hội ở thôn, làng,
khu phố
5. khác (ghi rõ)
……………………
B.3. theo ông/bà bạo hành trẻ em bao gồm những hành vi nào dưới đây:
(có thể chọn nhiều phương án)
7.không ảnh hưởng gì
8. khác (ghi rõ)……………..
B.6. theo ông bà, nguyên nhân chính của hành vi bạo hành trẻ em trong nhà
trường là:
1. Từ phía trẻ em: học kém, nghịch, khó bảo, phạm lỗi…
2. Từ phía giáo viên: thiếu hiểu biết, nhận thức về bạo hành…
3. Từ phía xã hội: quan niệm “thương cho roi cho vọt”.
4. Luật pháp về không nghiêm khắc,
5. khác (ghi rõ)………………………….
B.7. khi trẻ em dưới 16 tuổi trong gia đình ông/bà phạm lỗi, ông/ bà thường làm
gì?
1. đánh, đập, tát, cốc đầu
5. mắng, chửi, dọa
2. phạt nhốt trong phòng
6. khuyên nhủ
20
3. không cho ăn uống ngày hôm đó
7. bỏ qua, để chúng tự nhận thức, tự
4. không cho gặp bạn bè
1. trực tiếp chứng kiến
4.người thân trong gia đình
2. qua internet
5. bạn bè
3. qua báo in/truyền hình/phát thanh
6.khác (ghi rõ)……………
B.12. Cảm giác khi nghe, đọc, chứng kiến những hành vi đó:
1. không có cảm giác gì
4. cảm thấy ghê sợ
2. cảm thấy bình thường
5.cảm thấy lo lắng
3. bức xúc,tức giận
6. khác (ghi rõ)……………
21
B.13. ông/bà chia sẻ thông tin đó với ai, thái độ của họ:
Đối tượng chia sẻ
5.c
ảm thấy
6
.khác
lo lắng
(
ghi rõ)
………
…
…….
1. không chia sẻ với
ai
2. bạn bè, đồng
nghiệp
3. thành viên trong
giađình
4. những người hàng
xóm
5. Khác (ghi rõ)
B.14. ông /bà có thường xuyên tiếp cận những thông tin liên quan đến nạn bạo
hành trẻ em qua các phương tiện truyền thông đại chúng không?
1. rất thường xuyên
3. thỉnh thoảng
Chấp nhận
2. vô lễ với giáo
1. trẻ học kém,
Hành vi
nghịch ngợm, vi phạm nội
viên
quy
1.
2.
chấp nhận
không thể
1.ch
ấp nhận
chấp nhận
1.Đánh, đấm, đá, tát
2.Cốc đầu, nhéo tai
3.Mắng , dọa nạt
4.Bêu xấu, làm bẽ mặt trước
bạn bè
5. cưỡng dâm, quấy rối tình
dục
chăm chỉ
hơn
4.
giảm các
hành vi
ngỗ
nghịch,
chọc phá
5.
khác (ghi
rõ)
…………
…………
…………
…………
………
6.
chỉ có tác
động tiêu
cực
6.
1.Đánh, đấm, đá, tát
2.Cốc đầu, nhéo tai
3.Mắng , dọa nạt
4.Bêu xấu, làm bẽ
mặt trước bạn bè
2.k
hông
4.Bêu xấu, làm bẽ mặt trước bạn
bè
5. cưỡng dâm, quấy rối tình dục
6.Cô lập trẻ với bạn bè
7.Nhốt trẻ vào phòng kín
8.Khác (ghi rõ)………….
B.21. thái độ đối với thầy cô giáo có hành vi bạo hành đối với học sinh là:
1. phản đối
2. đồng tình
3. cả hai, (vừa đồng tình, vừa phản đối)
B.22. vậy ông/bà sẽ làm gì nhìn thấy thầy cô giáo có hành vi bạo lực với trẻ em:
1. báo cho ban giám hiệu nhà trường
4. báo cho phụ huynh học
sinh đó
2. báo cho công an, chính quyền.
5. can ngăn
3. báo cho các tổ chức chính trị- xã hội
6. không làm gì
7. khác (ghi rõ)………………………………