Con người cô đơn trong tiểu thuyết của kawabata nhìn từ tâm thức hiện sinh - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
-------------***-------------

TRẦN THÚY HẰNG

CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA
KAWABATA – NHÌN TỪ TÂM THỨC HIỆN SINH
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học

PGS. TS. TRƯƠNG ĐĂNG DUNG

HÀ NỘI, 2015


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm luận văn em đã nhận được sự giúp đỡ, động viên
chân tình từ gia đình, thầy cô, bạn bè.
Hoàn thành đề tài nghiên cứu, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn
sâu sắc đến PGS. TS. Trương Đăng Dung – người thầy đã tận tâm hướng dẫn
em hoàn thành luận văn này.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn,
đặc biệt là các thầy cô Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2 đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã luôn bên cạnh,
động viên, khuyến khích, giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu.

1.1. Con người cô đơn trong triết học hiện sinh ......................................... 10
1.1.1. Khái quát sự ra đời của triết học hiện sinh trên thế giới.............. 10
1.1.2. Hiểu về khái niệm “triết học hiện sinh” ....................................... 12
1.1.3. Những nội dung chính của triết học hiện sinh về con người ........ 13
1.2. Con người cô đơn trong văn học hiện sinh .......................................... 19
1.2.1. Khái quát về phong trào văn học hiện sinh thế giới .................... 19
1.2.2. Những nội dung cơ bản trong văn học hiện sinh .......................... 21
1.2.3. Tư tưởng hiện sinh trong văn học Nhật Bản ................................. 23
1.3. Tiền đề cho sự xuất hiện con người cô đơn trong sáng tác của
Kawabata...................................................................................................... 25
1.3.1. Yếu tố đất nước và con người Nhật Bản ....................................... 25
1.3.2. Yếu tố văn hóa, văn học truyền thống Nhật Bản .......................... 26
1.3.2.1. Từ nền văn hóa giàu bản sắc ................................................. 26
1.3.2.2. Đến nền văn học đậm niềm bi cảm ........................................ 29
1.3.3. Sự tiếp xúc giữa văn hóa Nhật Bản và văn hóa phương Tây ....... 33


1.3.4. Những biến động trong cuộc đời Kawabata ................................. 34
1.3.4.1. Người lữ khách ưu sầu ........................................................... 34
1.3.4.2. Tâm thức hiện sinh trong tiểu thuyết của Kawabata ............. 37
Chương 2. ĐẶC ĐIỂM CON NGƯỜI CÔ ĐƠN MANG TÂM THỨC
HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT KAWABATA .................................. 40
2.1. Con người mang cảm thức cô đơn ....................................................... 40
2.1.1. Con người với nỗi cô đơn bản thể................................................. 40
2.1.2. Con người mang niềm bi cảm Nhật Bản ....................................... 45
2.2. Con người với giới hạn thân phận........................................................ 52
2.2.1. Những nghịch cảnh của số mệnh .................................................. 52
2.2.2. Ý thức về hữu hạn ......................................................................... 57
2.3. Hành trình sống và dấn thân ................................................................ 62
2.3.1. Hành trình vượt giới hạn .............................................................. 62

Về vị trí địa lí, Nhật Bản là một quốc gia khá độc lập so với các quốc
gia khác trên thế giới và trong khu vực. Không chỉ nổi tiếng với cái tên như
“đất nước mặt trời mọc”, Nhật Bản còn được biết đến là một “quốc đảo” khi
toàn bộ diện tích đất nước là sự quy tụ của những hòn đảo lớn nhỏ, xung
quanh là đại dương mênh mông. Khoảng cách đó vừa đủ xa để người Nhật
lắng nghe những biến động của thế giới vừa đủ cách biệt để họ khép kín trong
nỗi cô đơn của dân tộc mình.
Thế giới biết đến Nhật Bản không chỉ là một cường quốc về kinh tế và
khoa học công nghệ mà còn bởi những đức tính đáng quý của con người
Nhật. Với ý chí và nghị lực phi thường, người Nhật đã tạo nên sức bật thần kì
để hồi sinh mạnh mẽ sau hai cuộc chiến tranh thế giới. Tuy nhiên, như là định
mệnh, hệ quả tất yếu của tính chủ động, độc lập chính là nỗi cô đơn, trầm mặc
trong đời sống tâm hồn và sự cô lập, khép kín với tha nhân.
Về tôn giáo, ở Nhật Bản, đạo Phật chiếm ưu thế hơn hẳn so với các tôn
giáo khác. Phật giáo cung cấp cho người Nhật một cách nhận thức về thế giới
tự nhiên, tâm linh, bản ngã và tạo cho người Nhật lối sống thiên về nội tâm
trầm lặng, đi sâu vào thế giới bên trong con người hơn là khai phá hiện thực
khách quan.
Về văn học, xuyên suốt chiều dài lịch sử, Nhật Bản có quyền tự hào về
một nền văn học giàu có bậc nhất thế giới với lịch sử phát triển gần mười hai
thế kỷ với những tác phẩm nổi tiếng như: Kokiji (Cổ sự kí), Nihonsuki (Nhật
Bản thư kí), Fudoki (Phong thổ kí), Manyyoshu (Vạn diệp tập)…
Ấn tượng đặc biệt về “đất nước mặt trời mọc” là lí do thứ nhất chúng
tôi lựa chọn một tác giả được sinh ra trên mảnh đất Phù Tang, xứ sở của hoa
anh đào và những nét văn hóa phương Đông điển hình: nhà văn Kawabata.


2

1.2. Lòng ngưỡng mộ tài năng của một nhà văn phương Đông

nhà văn lớn đồng thời cũng là những nhà tư tưởng lớn, sáng tác của Kawabata
đặc biệt là tiểu thuyết chính là nơi thể hiện những vấn đề hiện sinh như thế.
Bởi vậy, việc nghiên cứu con người cô đơn trong tiểu thuyết Kawabata nói
riêng và các tác gia văn học hiện đại nói chung là một hướng đi đúng và có ý
nghĩa trọng bối cảnh hiện nay.
Về mặt lí thuyết, lựa chọn đề tài, chúng tôi mong muốn góp thêm một
cách tiếp cận mới về quan niệm con người trong tiểu thuyết Kawabata dưới
sự soi chiếu của lí thuyết hiện sinh qua đó làm nổi bật những nét chung và
nét riêng, những kế thừa và sáng tạo của nhà văn trong việc thể hiện con
người cô đơn.
Về thực tiễn, trong những năm gần đây, văn học Nhật và sáng tác của
Kawabata được dịch, giới thiệu và giảng dạy phổ biến ở các trường Đại học,
Cao đẳng, phổ thông ở Việt Nam. Vì vậy, với đề tài Con người cô đơn trong
tiểu thuyết của Kawabata – nhìn từ tâm thức hiện sinh, chúng tôi hi vọng
những nội dung được triển khai sẽ có ý nghĩa nhất định cho việc nghiên cứu,
giảng dạy tác phẩm của Kawabata trong nhà trường.
2. Lịch sử vấn đề
Các tác phẩm của Kawabata không chỉ được giới thiệu rộng rãi mà còn
thu hút nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam. Ở Việt Nam, các
sáng tác của ông được dịch ra tiếng Việt gồm thể loại truyện ngắn, truyện
ngắn trong lòng bàn tay và tiểu thuyết. Sáng tác của Kawabata từng được
nghiên cứu dưới nhiều góc độ của phân tâm học, Thiền học, chủ nghĩa hiện
sinh... Đề tài của chúng tôi có hai giới hạn: thứ nhất là về con người cô đơn,
thứ hai là tiếp cận từ tâm thức hiện sinh. Vì vậy, dù số lượng các bài nghiên
cứu, sách, bài viết về sáng tác của Kawabata là rất phong phú và đa dạng
nhưng chúng tôi chỉ điểm qua những công trình nghiên cứu có đề cập đến yếu
tố hiện sinh và con người cô đơn trong tiểu thuyết Kawabata với ý nghĩa cơ
sở và gợi mở ý tưởng cho đề tài.




5

việc xác định những tiền đề cơ bản làm nảy sinh yếu tố hiện sinh trong tác
phẩm của Kawabata. Do đó, dù cùng được nhìn từ tâm thức hiện sinh nhưng
con người cô đơn trong tiểu thuyết Kawabata vẫn có những nét khác biệt so
với các tiểu thuyết gia khác.
2.2. Nghiên cứu về sáng tác của Kawabata ở Việt Nam
Ở Việt Nam, năm 1969 – một năm sau khi nhà văn Kawabata của Nhật
Bản được tặng giải Nonel đã xuất hiện một số bài nghiên cứu, giới thiệu về
cuộc đời sự nghiệp của nhà văn này. Từ đó đến nay đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu lớn nhỏ về ông và tác phẩm của ông.
Công trình đáng kể nhất giới thiệu chung về tác giả Kawabata và tác
phẩm của ông là Yasunary Kawabata cuộc đời và tác phẩm của tác giả Lưu
Đức Trung do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1997. Trong chuyên luận
này, tác giả đã đưa ra những tìm hiểu, phân tích cuộc đời và những yếu tố thời
đại có ảnh hưởng nhất định đến con đường nghệ thuật và sáng tác của
Kawabata. Phong cách nổi bật của Kawabata được tác giả nhận định đó là
“chất trữ tình sâu lắng, nỗi buồn êm dịu” [88;18] được kế thừa từ dòng văn
học “nữ lưu” thời Heian.
Tác giả Lưu Đức Trung quay trở lại với bài viết Thi pháp tiểu thuyết
Kawabata - nhà văn lớn của Nhật Bản nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của
Kawabata (1899 – 1999). Trong đó, ông đã chỉ ra đặc trưng nổi bật trong sáng
tác Kawabata là dấu ấn của mĩ học Thiền - tiêu biểu là thi pháp chân không,
lấy im lặng làm nguyên tắc biểu đạt.
Bài viết Yasunary Kawabata dưới nhãn quan phương Tây in trên Tạp
chí Văn Sài Gòn năm 1969 của tác giả Chu Sỹ Hạnh đã có những cảm nhận
sắc sảo về bút pháp của nhà văn Kawabata như âm hưởng chung về nỗi cô
đơn, những suy nghĩ nội tâm nhân vật... Những ý kiến sâu sắc của tác giả sẽ


thuyết Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Tiếng rền của núi, Người đẹp ngủ mê, Cố đô,


8

Đẹp và Buồn in trong Tuyển tập Yashunari Kawabata của Trung tâm Văn hóa
Ngôn ngữ Đông Tây, Nxb Lao động, xuất bản năm 2003.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích
- Thực hiện đề tài chúng tôi nhằm mục đích làm rõ những biểu hiện con
người cô đơn trong quan niệm nghệ thuật của Kawabata nhìn từ tâm thức hiện
sinh, qua đó, khẳng định sự khác biệt giữa hình tượng con người cô đơn trong
sáng tác của Kawabata với các tác giả khác đó là: con người với nỗi cô đơn
bản thể nói chung nhưng còn là con người mang nỗi cô đơn bản địa đặc thù,
mang niềm bi cảm Nhật Bản.
- Song song với việc khai thác và làm rõ những vấn đề về nội dung,
chúng tôi cũng đặt ra mục đích tìm hiểu vai trò của nghệ thuật trong việc thể
hiện con người cô đơn nhìn từ thủ pháp của văn học hiện sinh.
4.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi đề ra cho luận văn những
nhiệm vụ chính:
- Tìm hiểu vấn đề con người cô đơn trong triết học và văn học hiện sinh
đặc biệt là trong văn học Nhật Bản.
- Tìm hiểu những biểu hiện cụ thể của con người cô đơn trong tiểu
thuyết Kawabata nhìn từ tâm thức hiện sinh.
- Tìm hiểu những thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu thể hiện con người cô
đơn nhìn từ tâm thức hiện sinh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:

nguyên của vũ trụ; trong thế giới tự nhiên, con người vô cùng nhỏ bé, bị vũ
trụ lấn át và “bỏ quên”. Ngược lại, triết học hiện sinh coi con người là trung
tâm của thế giới và là đối tượng nghiên cứu chính yếu của mình. Những câu
hỏi đặt ra đều xoay xung quanh thân phận làm người của con người. Vì vậy
triết học hiện sinh còn được gọi là triết học về con người.
Bước sang thế kỉ XX, thế giới chứng kiến những đổi thay mạnh mẽ với
nhiều thành tựu vượt bậc về khoa học – kĩ thuật nhưng nhân loại cũng phải
trải qua biết bao biến thiên, thăng trầm, đau khổ, mất mát do chiến tranh mang
lại. Nếu những phát minh khoa học như lí thuyết lượng tử của Max Planck,
thuyết tương đối của A. Einstein... làm thay đổi bức tranh thế giới; sự phát
triển đỉnh điểm của chủ nghĩa tư bản mang đến thành tựu rực rỡ về kinh tế,
khoa học – kĩ thuật thì hệ quả của cuộc khủng hoảng kinh tế (1929 – 1933),
hai cuộc thế chiến (1914 – 1918; 1939 – 1945) cũng đã phá hủy hàng ngàn
công trình, hàng triệu người bị sát hại, nhân dân thế giới chứng kiến và gánh
chịu những mất mát vô vùng to lớn cả về vật chất và tinh thần.


11

Đất nước Nhật Bản gánh chịu những đau thương tổn thất nặng nề trong
cuộc chiến tranh thế giới II sau khi bị đế quốc Mĩ ném hai quả bom nguyên tử
xuống hai thành phố Hirôsima và Nagazaki. Hành động này của Mĩ khiến
nhân loại cảm thấy hoang mang, đau đớn và sụp đổ niềm tin nghiêm trọng
vào lòng nhân ái của con người. Trong quang cảnh đó, một bộ phận người
dân châu Âu đặc biệt là giới trí thức đã bắt đầu tỏ ra bi quan và hoài nghi về
cuộc sống và thân phận mong manh của con người: “Mọi sự đều vô nghĩa,
mọi sự đều phi lí, đó là cái tâm trạng đổ nát của chế độ tư bản và trong tâm
trạng đó họ bắt gặp tư tưởng hiện sinh chủ nghĩa về thân phận con người”
(Chuyển dẫn theo [19;15]).
Sự biến động của xã hội tư bản phương Tây đầu thế kỉ XX khiến “trí

hay vì người khác nghĩ “tôi” phải làm, không phải vì “tôi” sợ người này hay
sợ người kia, càng không phải vì những mục đích đê tiện hay thói quen. Hành
động là cách “tôi” thể hiện ý nghĩa cuộc đời của mình, “làm cho bản thân
mình thêm phong phú và định mệnh của mình thêm quý trọng” [22;30].
Triết học hiện sinh hay còn được gọi là triết học của sự bừng tỉnh. Tại
sao lại bừng tỉnh và bừng tỉnh về điều gì? Nếu như triết học truyền thống coi
vũ trụ là đối tượng để khám phá và con người chỉ là một trong hàng vạn vật,
khuyến khích con người quên mình để tìm hiểu về những lẽ huyền vi của tạo
hóa; con người bị bỏ quên, mờ hóa, nhạt nhòa thì triết hiện sinh lại dạy con
người biết suy nghĩ về thân phận làm người của mình. Con người trăn trở về
chính mình, về lí do tồn tại của mình trên cõi đời: Ta là ai? Cuộc đời ta rồi sẽ
đi đến đâu? Kết thúc thế nào? Ta kiếm tìm điều gì ở cuộc sống và đời có đáng
sống không?... Những câu hỏi thôi thúc các nhà hiện sinh chủ nghĩa đi tìm câu
trả lời cho ý nghĩa đích thực của sự tồn tại.
Mỗi con người hiện sinh phải là một nhân vị độc đáo. Con người hành
động để khẳng định cá tính, sự sáng tạo và bản lĩnh của mình. Độc đáo chính
là một đề tài lớn của triết hiện sinh nhưng “độc đáo không có nghĩa là lập dị,


13

và ngang tàn không có nghĩa là phá phách” [22;28]. Con người hiện sinh nhìn
rõ khả năng và giới hạn của bản thân mình trước những thử thách của cuộc
sống. Vì vậy họ biết tận dụng khả năng, vượt qua giới hạn để thể hiện ý nghĩa
cuộc nhân sinh, khẳng định cái “tôi” hoàn toàn khác biệt. Nếu mỗi người đều
ý thức và hành động để khẳng định bản thân như những nhân vị độc đáo thì sẽ
tạo nên một thế giới nhân sinh đầy ý nghĩa và nhân bản.
Ở mỗi thời điểm, với những điều kiện nhất định, sự lựa chọn hành động
là cách thể hiện cá tính và ý nghĩa cuộc đời, là cách để người hiện sinh tạo
nên giá trị và định mệnh riêng của bản thân. Mỗi hành động đều mang một

bản lĩnh làm người của mình. "Sống như sinh vật là một buồn nôn cho triết
gia hiện sinh đã ý thức sâu xa về nhân vị con người" [22;42]. Những người
sống mà không biết mình sống để làm gì, Sarte gọi là hiện hữu chứ chưa phải
là hiện sinh, tồn tại chứ chưa phải là sống. Bản thân những người đó không ý
thức được sự nhàm chán và "buồn nôn" của cuộc đời mình còn những người
đã ý thức sâu xa được địa vị làm người của mình thì cảm thấy "khó chịu" bởi
vẻ tầm thường và vô nghĩa lí ấy. "Buồn nôn làm cho chúng ta vùng dậy, bỏ
trạng thái sự vật để vươn lên thiên chức làm những nhân vị tự do và tự trách
nhiệm" [22;44]. Điều này làm nên ý nghĩa nhân bản của tư tưởng hiện sinh.
- Phóng thể: nguyên nghĩa dịch từ tiếng Pháp là "hóa thành cái khác",
thành người khác. Phóng thể là tình trạng những con người chưa tự ý thức
mình là những nhân vị độc đáo, họ sinh hoạt như mọi người và hành động chỉ
vì người khác bảo mình làm hoặc nghĩ mình phải làm chứ không phải vì mình
muốn hay cần làm để khẳng định bản ngã của mình. Phóng thể làm mất bản
ngã của con người, làm con người sống yên trong một trạng thái gần như sự
vật, là căn nguyên của cuộc sống tầm thường, nhạt nhẽo và vô nghĩa.
- Ưu tư: là trạng thái thức tỉnh và suy nghĩ của con người khi đã tỉnh
ngộ để bắt đầu hối cải và vươn lên một cuộc sống có ý nghĩa hơn. Ưu tư "là
xao xuyến, băn khoăn về tương lai chưa rõ rệt" [22;47]. Con người hiện sinh


15

biết rằng tương lai đầy huyền nhiệm với bao điều chờ đợi mình phía trước,
chờ đợi những quyết định, lựa chọn và hành động của mình. Nếu ta để người
khác hoặc đoàn thể quyết định thay ta nghĩa là ta đã từ chối địa vị con người
chủ thể và tự do của mình. Tất cả cuộc sống của ta, hạnh phúc và đau khổ,
thành công hay thất bại đều lệ thuộc vào quyết định của ta nên ta ưu tư, ta
hiểu và ý thức một cách bi đát rằng cuộc đời của ta, sự sống của ta do chính ta
đảm nhiệm, người khác có thể lo lắng cho ta nhưng không làm thay ta tất cả.

mình và đảm nhiệm luôn cả cuộc sống của mình" [22;55]. Người hiện sinh
khi ý thức về tính độc đáo thường tự cảm thấy cô đơn vì con người phải sống
cuộc sống của chính mình, sống theo cách của mình chứ không theo cách của
người khác. Vậy người hiện sinh là người dám chấp nhận và đảm nhiệm nỗi
cô đơn để khẳng định nhân vị độc đáo bằng cách phát huy tất cả hững khả
năng riêng biệt của “tôi” mà chỉ mình “tôi” biết phải làm thế nào để có thể đạt
đến mức hoàn thiện.
E. Mounier trong cuốn Những chủ đề triết hiện sinh sau khi khảo cứu
về các trào lưu của triết học hiện sinh đã khái lược tư tưởng hiện sinh thành
mười hai luận đề chính. Những luận đề này có ý nghĩa quan trọng làm nên
diện mạo và chứng tỏ sự phát triển sôi nổi của các trào lưu hiện sinh, giúp
mỗi người nhìn nhận lại cuộc sống của chính mình để suy ngẫm nhiều hơn và
cũng không ngừng hi vọng về thân phận làm người của mình.
- Sự ngẫu nhiên của cuộc sống con người: việc xuất hiện và tồn tại
của mỗi người là một ngẫu nhiên của đời sống. Ngẫu nhiên xuất hiên, ngẫu
nhiên mất đi, đó là một sự thật hiển nhiên không dễ có câu trả lời thỏa đáng.
Như vậy, con người không thể không thừa nhận sự hư vô bao quanh cuộc
sống của mình.
- Sự bất lực của lí trí: ý niệm này bắt đầu được nêu lên từ B. Pascal. Lí
trí của con người là một phần rất quan trọng giúp con người cấu tạo định


17

mệnh của mình nhưng nó cũng có những giới hạn nhất định. Trước mọi việc,
con người luôn dùng lí trí để phân tích. Nhưng lí trí đôi khi lại bất lực trong
việc tìm hiểu vận mệnh của bản thân con người. Trong cuộc sống có những
điều con người lựa chọn và quyết định theo tiếng gọi của trái tim mà lí trí
không thể nào lí giải được.
- Sự nhảy vọt của con người: Triết hiện sinh được xem là một triết học

nhiệm cái chết của mình là điều không ai tránh khỏi và không ai làm giúp
được ai. Vì thế, người hiện sinh cần phải sống cho ra sống, “sống để luôn chờ
chết trong mọi nơi, mọi lúc và nhìn thẳng vào mặt người đồng hành từng giây
từng phút” [57;70]. Targo – nhà thơ vĩ đại của Ấn Độ đã từng suy nghiệm rất
hay về cái chết và cuộc sống con người: thần Chết là người bạn thủy chung
nhất của con người, luôn ở bên con người ngay từ lúc con người có mặt trên
đời, và con người phải sống như thế nào để khi thần Chết gõ cửa chúng ta
không phải ân hận vì không có gì làm quà tặng cho Người. Cuộc hiện sinh
dẫn dắt con người đến một cách sống thực thụ và dày ý nghĩa: đời người
không phải hơn nhau ở sự dài ngắn mà ở việc ta đã làm trong quãng thời gian
ta sống.
- Sự cô độc và bí mật: Nếu như cái chết là người bạn đồng hành chung
thủy nhất của con người thì cô độc lại như một thứ quà tặng vĩnh cửu của con
người, là định mệnh của mỗi người. Khi con người không ngừng cố gắng
vượt lên để khẳng định bản ngã độc đáo của mình cũng là lúc con người vươn
tới sự cô đơn tuyệt đối. Giao tiếp với tha nhân là điều tất yếu trong cuộc sống
nhưng chưa khi nào đủ sức khỏa lấp những chỗ trống trong tâm hồn mỗi
người. Dù yêu thương và thấu hiểu nhau đến mấy, con người vẫn không thể
nào có được sự cảm thông tuyệt đối của tha nhân, mỗi người vẫn luôn là một
thế giới đầy bí mật.
- Sự hư vô: hư vô là một trong những luận đề chính yếu của triết học
hiện sinh. Sartre nói: “Đời người là một đam mê vô ích”. Con người luôn


19

hướng tới cái tuyệt đối nhưng sự thật không bao giờ đạt đến được điều đó.
Nhưng dù sao vẫn phải cố gắng tiến lên. Ý nghĩa đích thực của một cuộc hiện
sinh là luôn vươn tới cái tuyệt đối để rồi cảm thấy thất vọng hoàn toàn vì
không bao giờ chạm tới chân lí. Cuộc sống chỉ có ý nghĩa và thúc đẩy khát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status