Đại học kinh tế Huế
GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN SÀI GÒN HÀ NỘICHI NHÁNH HUẾ
Sinh viên thực hiện
GVHD:
THEPVONGSA VIDOU
TS. TRẦN THỊ BÍCH NGỌC
K45A TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
THEPVONGSA VIDOU
1
Đại học kinh tế Huế
GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
3
Đại học kinh tế Huế
GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
MỤC LỤC
THEPVONGSA VIDOU
4
Đại học kinh tế Huế
GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
DANH MỤC SƠ ĐỒ
THEPVONGSA VIDOU
5
Đại học kinh tế Huế
GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
DANH MỤC BẢNG BIỂU
GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động ngân hàng ngày nay được coi là xương sống của nền kinh tế, sự phát
triển của nó phản ánh đúng thực trạng kinh tế của mỗi quốc gia. Trong những năm gần
đây ngành ngân hàng đã đạt được những kết quả hết sức khả quan và khẳng định là một
trung gian tài chính quan trọng không thể thiếu được của nền kinh tế thị trường. Ngân
hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất, đóng vai trò thủ quỹ của toàn xã hội. Với đội
ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, trang thiết bị hiện đại ngân hàng còn là nhà tư vấn, lập kế
hoạch tài chính giúp doanh nghiệp.
Ngân hàng cung cấp rất nhiều các dịch vụ nhưng đem lại doanh thu lớn nhất cho ngân
hàng là hoạt động tín dụng. Ngân hàng cấp tín dụng nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu về
vốn của các doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế, là hoạt động đem lại nhiều
doanh thu thì cũng đi đôi với nhiều rủi ro, bất kì khoản tín dụng nào của ngân hàng
được sử dụng không có hiệu quả thì ngân hàng cũng phải đối mặt với rủi ro tín dụng.
Nếu không thể kiểm soát được thì rủi ro này còn kéo theo nhiều loại rủi ro khác. Hoạt
động của ngân hàng chủ yếu dựa vào lòng tin của khách hàng vì vậy nếu không kiểm
soát được rủi ro, một ngân hàng sụp đổ sẽ kéo theo sự sụp đổ của toàn hệ thống ngân
hàng, lúc này nó sẽ tác động đến mọi hoạt động của nền kinh tế. Chính vì vậy việc đưa
ra các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng ngày càng trở nên quan trọng và được các ngân
hàng đặc biệt quan tâm. Đó là lý do vì sao em lựa chọn đề tài “Thực trạng rủi ro tín
dụng tại Ngân Hàng Thương Mại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn - Hà
Nội Chi Nhánh Huế “
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích thực trạng hoạt động tín dụng, đánh
giá tình hình rủi ro tín dụng tại Ngân hàng, đồng thời tìm ra những nguyên nhân dẫn
đến rủi ro tín dụng để từ đó tìm ra những biện pháp đề phòng rủi ro, nhằm tối thiểu
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
+ Bảng cân đối kế toán.
- Tổng hợp các thông tin từ tạp chí ngân hàng tham khảo sách báo, tài liệu về ngân
hàng có liên quan đến đề tài.
- Kết hợp với hướng dẫn của giáo viên và ý kiến góp ý của cán bộ tín dụng Ngân
hàng, những kinh nghiệm thực tế học hỏi được qua thời gian thực tập tại ngân hàng.
5.3. Phương pháp phân tích
•
•
Đề tài nghiên cứu theo phương pháp thống kê tổng hợp số liệu giữa các năm.
Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh bao gồm so sánh tuyệt đối và so
sánh tương đối.
• Phương pháp phân tích đánh giá số liệu thực tếtại chi nhánh.
• Phương pháp thống kê tổng hợp số liệu giữa các năm.
• Sử dụng một số chỉ số tài chính để đánh giá tình hình và rủi ro tín dụng.
THEPVONGSA VIDOU
9
Đại học kinh tế Huế
GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
Ngoài ra còn dùng biểu đồ minh họa để giúp cho việc phân tích được rõ ràng hơn.
6. Kết cấu chuyên đề
Chuyên đề gồm 3 chương :
có sự kiểm soát rất chặt chẽ. Bởi vì, thông qua ngân hàng Chính Phủ thực hiện các
chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ. Do đó, cần nghiên cứu và hiểu một
cách cặn kẽ về loại hình tổ chức này để có thể vận hành và quản lý nó có hiệu quả.
1.2. Các loại rủi ro phổ biến trọng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Cũng như bất kỳ ngành kinh doanh nào khác, ngân hàng có thể gặp rủi ro và có
thể bị mất vốn. Hơn nữa, ngân hàng là một ngành kinh tế nhạy cảm, hoạt động của
ngân hàng với bản chất của nó, chịu ảnh hưởng của rất nhiều loại rủi ro. Bản thân
người quản lý ngân hàng và người lập chính sách cần biết và hiểu những rủi ro này để
tìm mọi cách hạn chế những đổ vỡ dễ gây thiệt hại, trước hết là đến ngân hàng đó và
sau đó là toàn bộ nền kinh tế. Trên thế giới, người ta đã phân ra nhiều loại rủi ro trong
hoạt động ngân hàng.
1.2.1. Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do
khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi. Khi
THEPVONGSA VIDOU
11
Đại học kinh tế Huế
GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
thực hiện một hoạt động cho vay cụ thể, ngân hàng không dự kiến là khoản cho vay đó
sẽ bị tổn thất. Tuy nhiên những khoản cho vay đó luôn hàm chứa rủi ro. Rủi ro tín
dụng xảy ra có thể làm tê liệt khả năng thanh toán của ngân hàng, thậm chí đưa ngân
hàng đến bờ vực phá sản.
1.2.2. Rủi ro hối đoái
Rủi ro hối đoái là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu khi tỷ
Đại học kinh tế Huế
GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
Hoạt động ngoại bảng là các hoạt động không thuộc bảng cân đối tài sản (nội
bảng), bởi vì các hoạt động này không liên quan đến việc nắm giữ các chứng khoán
hay giấy nhận nợ sơ cấp hoặc ngân hàng phát hành các chứng khoán hay giấy nhận nợ
thứ cấp. Tuy nhiên, các hoạt động ngoại bảng có ảnh hưởng đến trạng thái tương lai
của bảng cân đối tài sản nội bảng, bởi vì các hoạt động ngoại bảng có thể tạo ra những
tài sản có và tài sản nợ bổ sung cho bảng cân đối nội bảng.
1.2.6. Rủi ro công nghệ
Rủi ro công nghệ phát sinh khi những khoản đầu tư cho phát triển công nghệ
không tạo ra được khoản tiết kiệm trong chi phí như đã dự tính khi mở rộng qui mô
hoạt động.
Rủi ro về công nghệ có thể gây nên hậu quả là khả năng cạnh tranh của ngân
hàng giảm xuống đáng kể và nguyên nhân tiềm ẩn của sự phá sản ngân hàng trong
tương lai.
1.2.7. Rủi ro quốc gia và rủi ro khác
Những rủi ro khác bao gồm: thay đổi thuế đột ngột, ảnh hưởng của chiến tranh
làm cho các điều kiện trên thị trường tài chính thay đổi đột biến không dự tính trước,
sự sụp đổ đột ngột của thị trường chứng khoán, rủi ro trộm cắp, lừa đảo...
Cuối cùng phải kể đến các rủi ro bắt nguồn từ yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát
gia tăng, sự biến động vô lối của giá cả hàng hoá, thất nghiệp đều có ảnh hưởng đến sự
biến động lãi suất, bộc lộ rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản.
Mỗi loại rủi ro này cần những biện pháp quản lý phù hợp với đặc điểm của
chúng và những chỉ số đo lường phản ánh đúng tình trạng hiện tại của rủi ro trong
tương lai.
1.3. Khái niệm quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng thương mại
Quản lý rủi ro là một quá trình liên tục cần được thực hiện ở mọi cấp độ của ngân
hàng. Mục đích của hoạt động quản lý rủi ro tín nhằm xác định rõ, đo lường và kiểm
•
Quy trình định lượng rủi ro phải được thiết kế chặt chẽ nhằm định lượng được tất cả
những rủi ro trọng yếu.
•
Quy trình định lượng rủi ro phải đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng thông tin.
Quản lý rủi ro:
•
Các giới hạn của rủi ro phải thống nhất với chính sách của ngân hàng và các hạn mức
tín dụng đã được phê duyệt.
•
Quản lý rủi ro cũng cần đảm bảo các hoạt động kinh doanh của ngân hàng không chứa
đựng những rủi ro gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự tồn tại và khả năng cạnh tranh
của ngân hàng.
Kiểm soát rủi ro:
THEPVONGSA VIDOU
14
Đại học kinh tế Huế
- Rủi ro làm tăng nguy cơ phá sản: đây là ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của rủi
ro đối với hoạt động của ngân hàng. Nếu rủi ro ở mức độ cao không sớm được hạn chế
sẽ dẫn đến hàng loạt các ảnh hưởng xấu nêu trên, và sẽ dẫn đến đỉnh điểm là sự phá
sản của ngân hàng.
2. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
2.1. Tín dụng ngân hàng
2.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
THEPVONGSA VIDOU
15
Đại học kinh tế Huế
GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
Tín dụng xuất phát từ chữ La tinh Creditium có nghĩa là tin tưởng , tín nhiệm
,tiếng Anh gọi là Credit.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân
hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành ra nhiều loại khác nhau tuỳ theo những
tiêu thức phân loại khác nhau.
2.1.2. Phân loại tín dụng ngân hàng
- Dựa vào mục đích của tín dụng :theo tiêu thức này tín dụng Ngân hàng có thể phân
chia theo các loại sau :
•
•
•
•
chính của người đi vay có thể trả nợ bất kỳ lúc nào.
- Dựa vào phương thức cho vay :
Cho vay từng lần theo món :
Cho vay theo hạn mức tín dụng.
- Dựa vào rủi ro tín dụng :
Tín dụng lành mạnh :Các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao
Tín dụng có vấn đề : Các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh như: khách
hàng tiêu thụ chậm hàng hoá, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách hàng gặp
thiên tai, hoặc trì hoăn nộp báo cáo tài chính...
THEPVONGSA VIDOU
16
Đại học kinh tế Huế
GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
2.2. Rủi ro tín dụng
2.2.1. Khái niệm
Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất trong
hoạt động tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện
nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Rủi ro tín dụng được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi
cấp tín dụng cho một khách hàng. Có nghĩa là khả năng khách hàng không trả được nợ
theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ. Hoặc nói một
cách cụ thể hơn, luồng thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời của các
ngân hàng có thể không được hoàn trả đầy đủ xét cả về mặt số lượng và thời hạn. Các
ngân hàng sẽ không bị đe doạ bởi rủi ro tín dụng nếu luôn luôn nhận lại được cả gốc
Rủi ro ứ đọng vốn, thiếu hụt vốn:
Hoạt động chính của ngân hàng là đi vay để cho vay, ngân hàng huy động vốn
với mức lãi suất thấp và cho vay với mức lãi suất cao hơn, sự chênh lệch giữa lãi suất
đầu ra với lãi suất đầu vào tạo ra thu nhập cho ngân hàng. Trên thực tế, đôi khi các
nghiệp vụ này thường không diễn ra như mong muốn bởi vì xảy ra các rủi ro như:
•
Rủi ro ứ đọng vốn: xảy ra khi vốn bị tồn đọng lớn không cho vay hoặc đầu tư làm cho
thu nhập của ngân hàng giảm sút. Khi huy động vốn ngân hàng phải mất chi phí huy
động do vậy nếu khi xảy ra tình trạng mất cân đối giữa việc huy động và sử dụng vốn
(lượng vốn huy động lớn hơn sử dụng), điều này sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng
do lợi nhuận đem lại từ việc cho vay có thể không đủ bù đắp chi phí hoạt động và lãi
suất huy động vốn.
• Rủi ro thiếu vốn: xảy ra khi ngân hàng sử dụng vốn vượt quá mức huy động được. Để
bù đắp mức thiếu hụt này, ngân hàng phải đi vay vốn của các ngân hàng khác hoặc
ngân hàng trung ương với mức lãi suất cao hơn b́nh thường, điều này làm giảm thu
nhập của ngân hàng.
- Rủi ro nợ quá hạn
Xảy ra khi đến hạn thanh toán mà người đi vay vẫn chưa trả nợ đầy đủ thì
khoản cho vay đó chuyển sang nợ quá hạn.
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá
hạn. Nợ quá hạn trong kinh doanh ngân hàng là hiện tượng khách hàng không có khả
năng trả nợ đúng hạn như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Tuỳ theo những tiêu thức khác nhau, người ta phân nợ quá hạn thành:
Căn cứ vào thời gian quá hạn
-
Nợ quá hạn theo VNĐ.
Nợ quá hạn theo ngoại tệ.
Căn cứ theo nguyên nhân phát sinh
-
Nợ quá hạn do lỗi người vay.
Nợ quá hạn do lỗi của người cho vay.
Căn cứ theo biện pháp bảo đảm tiền vay
-
Nợ quá hạn có bảo lãnh của bên thứ ba.
Nợ quá hạn của vật tư, của hàng hoá tồn kho chờ bán và có tài sản hình thành từ vốn
-
vay.
Nợ quá hạn có tín chấp.
Nợ quá hạn có xác nhận của cấp chủ quyền
2.2.3. Khái niệm về nợ xấu và nợ quá hạn
Bản chất của Nợ xấu :
Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi
ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra
khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm các khoản nợ
quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của
khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.
Tính chất :
Nợ xấu là một số tiền được viết bởi các doanh nghiệp như là một tổn thất cho
doanh nghiệp và được phân loại như là một khoản chi phí vì nợ cho doanh nghiệp là
toàn lực để giải quyết. Để hạn chế tối đa rủi ro tín dụng ở các NHTM hiện nay cần
thiết phải tìm ra nguyên nhân phát sinh để có biện pháp giải quyết. Các nguyên nhân
chính gây ra rủi ro tín dụng là:
-
Những nguyên nhân bất khả kháng
Những nguyên nhân bất khả kháng tác động tới người vay, làm họ mất khả
năng thanh toán cho ngân hàng. Ví dụ: thiên tai, chiến tranh, hoặc những thay đổi tầm
vĩ mô (thay đổi của Chính phủ, chính sách kinh tế, hàng rào thuế quan...) vượt quá tầm
kiểm soát của người vay lẫn người cho vay.
Những thay đổi này thường xuyên xảy ra, tác động liên tục tới người vay, tạo
thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay. Nhiều người vay, với bản lĩnh của mình có khả
năng dự báo, thích ứng, hoặc khắc phục những khó khăn.Trong những trường hợp
khác, người vay có thể bị tổn thất song vẫn có khả năng trả nợ cho ngân hàng đúng
hạn, đủ gốc và lãi. Tuy nhiên, khi tác động của những nguyên nhân bất khả kháng đối
với người vay là nặng nề, khả năng trả nợ của họ bị suy giảm.
-
Nguyên nhân từ phía khách hàng
Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích
THEPVONGSA VIDOU
20
Đại học kinh tế Huế
Nguyên nhân từ phía ngân hàng thương mại
Ngân hàng có thể đưa ra quyết định cho vay sai lầm do không nắm được
đầy đủ hoặc chuẩn xác các thông tin về khách hàng như: khả năng tài chính, quản trị,
THEPVONGSA VIDOU
21
Đại học kinh tế Huế
GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
kết quả hoạt động kinh doanh, hiệu quả của dự án, giá trị tài sản đảm bảo... Điều này
đã gây ra rủi ro và dẫn đến tổn thất cho ngân hàng.
Chính sách tín dụng không hợp lý cũng là nguyên nhân dẫn đến rủi ro. Nếu
chính sách tín dụng không rõ ràng, đầy đủ và thống nhất thì dễ dẫn đến việc cấp những
khoản tín dụng chất lượng thấp, thiếu hiệu quả do người vay đã lợi dụng những khe hở
trong chính sách.
Mở rộng khối lượng tín dụng nhưng chưa quan tâm đến chất lượng tín dụng.
Trên thực tế, trong quá trình cho vay các ngân hàng do quá chú trọng tới số lượng cho
vay mà lơ là chất lượng khoản cho vay nên dễ gây ra rủi ro tín dụng.
Trình độ năng lực của cán bộ thẩm định dự án c̣n thấp dẫn đến những nhận
định sai lầm và cho vay không hiệu quả. Cán bộ tín dụng không am hiểu lắm về lĩnh
vực kinh doanh của khách hàng nên xác định sai hiệu quả của dự án và khả năng trả nợ
của khách hàng. Việc thiếu hiểu biết về luật cũng gây ra thiệt hại cho khách hàng khi
xảy ra tranh chấp trước pháp luật.
Trình độ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng không đảm bảo. Một
này được gọi là rủi ro đạo đức.
Môi trường kinh tế, các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ.
- Hệ thống hành lang pháp lí của Nhà nước chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, không
rõ ràng sẽ tạo kẽ hở để người vay lợi dụng chiếm vốn và gây thiệt hại tới ngân hàng.
- Hoạt động của doanh nghiệp và ngân hàng đều chịu ảnh hưởng của chính sách
kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Vì vậy, bất cứ một sự thay đổi nhỏ nào trong chính sách
(ví dụ như: chính sách tài chính- tiền tệ, chính sách thuế...) đều có thể gây ảnh hưởng
tích cực hoặc tiêu cực tới việc kinh doanh của ngân hàng.
2.2.5. Các chỉ tiêu phản ánh về rủi ro tín dụng
Tuy rủi ro tín dụng là khách quan, song ngân hàng phải quản lí rủi ro tín dụng
nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra. Từ những nguyên nhân
nảy sinh rủi ro tín dụng, ngân hàng cụ thể hoá thành những dấu hiệu phát sinh trong
hoạt động tín dụng, phản ánh rủi ro tín dụng:
-
Nợ có vấn đề
Khi cấp tín dụng các NHTM đều mong muốn khoản tín dụng được hoàn trả đầy
đủ và đúng hạn như đã thoả thuận. Để đảm bảo an toàn, sau khi cấp tín dụng cho
khách hàng, ngân hàng phải thường xuyên giám sát khoản tín dụng đã cấp để theo dõi
việc khách hàng có sử dụng vốn vay đúng mục đích không, hiệu quả hoạt động và sử
dụng vốn vay ra sao. Tuỳ thuộc vào tính lành mạnh của khoản vay mà ngân hàng có
mức độ giám sát thường xuyên, liên tục hay định kì. Hoạt động giám sát giúp ngân
hàng nhận biết và phát hiện được các khoản vay có vấn đề để có những hành động và
biện pháp cần thiết, kịp thời để ngăn ngừa hoặc xử lí.
Nợ có vấn đề là những khoản vay mà trong đó thoả thuận hoàn trả có khả năng
bị đổ vỡ, dù hiện tại những khoản vay đó chưa đến kỳ hạn trả nợ gốc và lãi.
THEPVONGSA VIDOU
nghiệp
+ Giá trị sản lượng hoặc doanh thu của doanh nghiệp suy giảm
+ Thu nhập không ổn định và thiếu tính thường xuyên
+ Hệ số quay ṿng vốn lưu động thấp, khả năng thanh toán giảm
+ Các khoản nợ thương mại gia tăng một cách bất thường
Nhóm 4: Nhóm dấu hiệu thuộc về xử lý thông tin tài chính, kế toán
THEPVONGSA VIDOU
24
Đại học kinh tế Huế
GVHD: TS Trần Thị Bích Ngọc
+ Chậm chễ hay tŕ hoăn nộp báo cáo tài chính, các số liệu trong báo cáo tài
chính không hợp lý và thiếu chuẩn xác
+ Tăng doanh số bán hàng nhưng lãi giảm hoặc lỗ
+ Tiền mặt giảm, vốn lưu động giảm
+ Sản xuất và bán hàng không đạt chỉ tiêu như kế hoạch
Nhóm 5: Nhóm các dấu hiệu thuộc về thương mại
+ Doanh nghiệp chuyển lĩnh vực kinh doanh, kinh doanh những ngành nghề mà
không thuộc chuyên môn của ḿnh, lĩnh vực có độ rủi ro cao
+ Yếu tố đầu vào không thuận lợi như: giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng,
không nhập được những nguyên liệu đặc chủng...
+ Cơ cấu vốn của doanh nghiệp không hợp lí, sử dụng vốn sai mục đích ví dụ
như: dùng vốn vay ngắn hạn để mua sắm, tài trợ cho TSCĐ, nhà xuởng...
+ Chi phí của doanh nghiệp không hợp lí
Nhóm 6: Nhóm các dấu hiệu về mặt pháp luật