Nâng cao hứng thú và kết quả học tập môn toán cho HS lớp 1 thông qua các trò chơi học tập - Pdf 37

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Phát triển trí tuệ cho HS tiểu học là một trong những vấn đề được quan tâm hàng
đầu của hầu hết các quốc gia, của các bậc phụ huynh và các thầy cô giáo. Cùng với tất
cả các môn học khác trong chiến lược phát triển toàn diện, có thể nói Toán học đóng
một vai trò hết sức quan trọng, nó rèn luyện cho các em không chỉ đơn thuần là tính
toán mà điều chủ yếu là năng lực tư duy. Chính bởi tư duy sâu sắc mà các em mới có
thể nhanh nhẹn, nhạy bén hơn trong nhiều môn học khác. Rèn luyện toán học không
có nghĩa đơn giản là kì vọng các em trở thành những nhà toán học mà chính là rèn
luyện cho các em trở nên linh hoạt hơn khi tiếp cận những vấn đề trong nhà trường
hoặc giải quyết bất cứ một vấn đề nào trong thực tiễn cuộc sống.
Đối với môn Toán ở tiểu học, nếu GV chỉ truyền đạt, giảng giải theo tài liệu có
sẵn, theo sách giáo khoa, theo hướng dẫn và thiết kế bài dạy một cách máy móc thì sẽ
làm cho HS học tập một cách thụ động. Điều đó sẽ khiến cho việc học tập của các em
diễn ra một cách đơn điệu, tẻ nhạt dẫn đến kết quả học tập không cao. Đó là một trong
những nguyên nhân gây cản trở việc đào tạo các em thành những con người năng
động, tự tin, sáng tạo sẵn sàng thích ứng với những đổi mới diễn ra hàng ngày.
Mặt khác, HS tiểu học có trí thông minh khá nhạy bén, sắc sảo, có óc tưởng tượng
phong phú. Đó là tiền đề tốt cho sự phát triển tư duy toán học. Nhưng các em cũng rất
dễ bị phân tán, rối trí nếu bị áp đặt, căng thẳng hay quá tải. Hơn nữa, HS ở bậc tiểu
học nói chung, HS lớp 1 nói riêng đang trong giai đoạn phát triển cơ thể hay nói cụ
thể hơn là các hệ cơ quan chưa hoàn thiện vì thế sức dẻo dai của cơ thể còn thấp; một
mặt trẻ vừa chuyển từ môi trường vui chơi là chủ yếu sang môi trường học tập đòi hỏi
sự chú ý cao cho nên trẻ khó có thể ngồi lâu trong phòng học cũng như tập trung chú
ý vào bài học trong một thời gian dài.
Muốn các em học tốt môn Toán trước hết phải tạo cho các em những say mê
hứng thú với môn học. Vì vậy, việc sử dụng các trò chơi học tập trong giờ học Toán
là hết sức cần thiết và có ích. Nó giúp HS thay đổi động hình hoạt động, chống mệt
mỏi căng thẳng trong học tập, tăng cường khả năng luyện tập thực hành và vận dụng
nhanh các kiến thức đã học; ghi nhớ nội dung kiến thức một cách tự nhiên theo kiểu
học mà chơi, chơi mà học. Từ đó giúp cho HS nhớ lâu, hiểu kỹ và vận dụng linh hoạt
trong đời sống, học tập. Và cũng qua đó phát triển hứng thú, tập thói quen tập trung,

Mặc dù đã được tiếp thu các chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học. Song để
tổ chức trò chơi trong các giờ dạy học Toán sao cho mang lại hiệu quả như GV mong
muốn quả là một điều không đơn giản. Nó cần nhiều thời gian để đầu tư suy nghĩ, tìm
tòi, chuẩn bị phương tiện, đồ dùng,… Mặt khác, tổ chức trò chơi học tập sao cho HS
tiếp xúc cảm thấy hấp dẫn nhất và thích thú thì phụ thuộc hoàn toàn vào công tác tổ
chức của GV mà kĩ năng tổ chức trò chơi của GV cơ bản còn rất nhiều hạn chế.
Muốn chất lượng môn Toán lớp 1được nâng cao, yếu tố đầu tiên và cũng là quan
trong nhất là HS phải yêu thích học Toán, phải có hứng thú học Toán thực sự. Bởi vậy
đòi hỏi người GV phải đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trong đó
vận dụng linh hoạt các trò chơi học tập Toán vào các tiết học là ưu tiên số 1 và là việc
cần được làm ngay.
B. Nội dung và biện pháp thực hiện:
2


I. Điều tra khảo sát tình hình HS trước khi áp dụng trò chơi học tập Toán
vào tiết dạy:
Năm học 2009 – 2010, tôi được phân công giảng dạy lớp 1A trường Tiểu học
Châu Đình với tổng số HS là 22, trong đó nam có 9 em, nữ 13 em, dân tộc thiểu số là
16 em. Các em phân bố rải rác ở 8 thôn bản.
Sau gần 2 tháng giúp học sinh quen dần với môn Toán, để tiện cho vấn đề nghiên
cứu và thực nghiệm, tôi tiến hành chia lớp thành 2 nhóm: Nhóm 1 là nhóm thực
nghiệm, nhóm 2 là nhóm đối chứng. Tôi tổ chức khảo sát HS về ý thức học tập môn
Toán, kết quả cho thấy đa số HS thờ ơ, không mấy hứng thú khi học Toán, chưa thật
ham thích học môn Toán.
Cụ thể:
Thích học môn Toán
Nhóm khảo sát

TSHS


4

36.4

Nhóm 2 (Nhóm ĐC)

11

2

18.2

4

36.4

5

45.5

Chúng tôi dùng bài kiểm tra khảo sát chất lượng giữa học kì 1 môn Toán (do
chuyên môn trường ra đề và tổ chức chấm chéo nhau) làm bài kiểm tra trước tác
động. Kết quả cho thấy chất lượng môn Toán chưa thật cao; số HS đạt điểm 10 ít, số
HS yếu kém còn chiếm tỷ lệ khá cao. Để xác định các nhóm có đảm bảo tương
đương về kiến thức hay không, tôi tiến hành kiểm chứng độ chênh lệch giữa điểm TB
của hai nhóm; kết quả p = 0,8 (> 0,05), từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung
bình giữa nhóm thực nghiệm với nhóm đối chứng là không có ý nghĩa, hai nhóm được
coi là tương đương.
Cụ thể bảng số liệu khảo sát chất lượng và kiểm chứng độ tương đương như sau:

- Trò chơi nhằm dẫn dắt hình thành tri thức mới.
- Trò chơi nhằm củng cố kiến thức, luyện tập kĩ năng.
- Trò chơi nhằm ôn tập, rèn luyện tư duy trong giờ học ngoại khoá.
Nếu phân loại theo các mạch kiến thức Toán học ta có thể nói tới:
- Trò chơi tính toán.
- Trò chơi hình học (vẽ hình, đếm hình, cắt ghép hình, xếp hình,…)
- Trò chơi gắn với hoạt động đo đại lượng.
- Trò chơi về giải toán, giải đố.
- Trò chơi về rèn luyện trí thông minh,…
1.2. Các nguyên tắc chủ yếu để thiết kế và sưu tầm trò chơi toán học.
a. Nguyên tắc 1: Tất cả các trò chơi toán học đều nhằm củng cố một nội dung
toán học ở tiểu học, quán triệt nguyên lý “học đi đôi với hành”. Nghĩa là sau khi GV
truyền tải tới HS một lượng kiến thức mới để cho các em nắm chắc và hiểu kỹ vấn đề
đó thì có thể và cần thiết tổ chức cho các em vận dụng dưới hình thức các trò chơi học
tập.
b. Nguyên tắc 2: Kế thừa các ý tưởng dạy học toán trong các sách giáo khoa tiểu
học, kế thừa một số trò chơi trong dân gian và trong một số tài liệu đã có để tiếp tục
phát triển và hoàn thiện cho phù hợp với thời gian, với đặc điểm nhận thức của HS
tiểu học, với điều kiện cơ sở vật chất cụ thể của nhà trường Việt Nam hiện nay.
c. Nguyên tắc 3: Luật chơi ở mỗi trò chơi đưa ra phải rõ ràng để HS định hướng,
nắm được cách chơi, cách giải quyết. Đồng thời các yêu cầu đó cũng phải có mức độ
dễ, khó khác nhau để phù hợp với nhiều đối tượng khác nhau, vừa phù hợp với trình
độ HS trong lớp (trình độ đại trà), vừa có một số yếu tố nâng cao đòi hỏi có sự thông
4


minh, khéo léo mới có thể giải quyết được (trình độ khá, giỏi) nhằm phát huy năng
lực ứng dụng và các sở trường của HS trong lớp.
d. Nguyên tắc 4: Mỗi trò chơi phải tạo hứng thú cuốn hút HS tham gia, sao cho
thi đua mà không căng thẳng, vui mà học toán thực thụ. Nguyên tắc này quán triệt ý

vui, sinh động.
5


- Sau khi hoàn thành một chương trình học, nhóm các chủ đề, chẳng hạn sau khi
HS đã học xong phần phép tính cộng, trừ trong phạm vi 10, GV có thể đưa ra trò chơi
có mục đích củng cố, ôn tập các phép tính cộng, trừ trong phạm vi 10.
c. Khi tổ chức các trò chơi phải sắp xếp các tình huống chơi sao cho tất cả mọi
HS, của nhóm hoặc của lớp đều được tham gia. Mặc dù trong một số vấn đề nhất
định, tại một thời điểm có thể chỉ có một em tham gia trò chơi hoặc trình bày kết quả
nhưng toàn nhóm (lớp) phải có trách nhiệm cùng tìm ra lời giải đáp. Khi chơi nên tổ
chức thi giữa những người có cùng năng lực. GV hoặc người chỉ huy tránh làm lúng
túng hay làm xấu hổ cho những HS không hoàn thành nhiệm vụ, luôn quan tâm, khích
lệ, động viên hơn là so sánh, tỏ ý không hài lòng. Tuy nhiên, cần lưu ý tổ trò chơi một
cách chu đáo để sao cho tính “bất quy tắc và sự hiếu động” không làm hạn chế tính
mục đích của trò chơi.
d. Người GV (chỉ huy) khi hướng dẫn phải ngắn gọn, dễ hiểu và rõ ràng để người
tham gia chơi nắm được mục đích chơi, quy tắc chơi và cách tham gia (cách chơi).
Cần vạch kế hoạch chi tiết và tổ chức việc trình bày trò chơi. Có thể sử dụng một vài
HS thực hành ban đầu để giúp HS hình dung được rõ quy tắc chơi và cách chơi.
e. Người chỉ huy phải là người trọng tài công bằng khi đánh giá, không thiên vị
bên nào.
f. Trong lúc chơi (chơi theo nhóm), HS được phép trao đổi, bàn luận với nhau
(nhưng nói nhỏ).
g. Điều quan trọng nữa là việc tham gia chơi phải được sự tự nguyện của HS,
tránh áp đặt, bắt buộc các em phải chơi (vì làm như vậy sẽ phản tác dụng của trò
chơi).
2. Sưu tầm, thiết kế một số trò chơi trong dạy học Toán lớp 1.
Sau khi nắm vững kiến thức về trò chơi học tập Toán 1, chúng tôi tiến hành tìm
hiểu mạch kiến thức Toán 1 từ đó tôi lựa chọn và lồng ghép một số trò chơi theo

2.1.2.Trò chơi thứ hai: Buộc dây cho bóng.
a. Mục đích :
- Củng cố cho HS về phép cộng, trừ trong pham vi 5.
b. Chuẩn bị:
- Phương tiện: GV vẽ lên bảng 2 nhóm, mỗi nhóm gồm:
+ Phần trên: Vẽ 4 quả bóng bay, trên mỗi quả bóng có ghi một phép tính cộng
hoặc trừ trong phạm vi 5.
+ Phần dưới vẽ một cụm các ô vuông ghi các kết quả của các phép tính trên.
(Như hình dưới)
c. Cách chơi:
- Số người chơi: hai nhóm, mỗi nhóm 4 em.
- Thời gian chơi: 3 phút.
7


- Luật chơi: Chia lớp thành 2 tổ, mỗi tổ cử 4 bạn đại diện nối bóng với ô ghi kết
quả tương ứng. Mỗi em trong đội chỉ được nối 1 lần và chuyển cho em khác nối tiếp.
- Cách đánh giá: (10 điểm) + “Buộc” đúng mỗi dây cho bóng được 2 điểm.
+ Có đáp án nhanh được 2 điểm

1 +
4

5 3

5

3

2 +



b. Chuẩn bị:
- GV chuẩn bị 3 tấm bìa khổ A3, mỗi tờ bìa có vẽ 1 vòng tròn có ghi số 7 nằm ở
giữa và 8 vòng tròn không số nằm xung quanh (như hình vẽ dưới). 8 mảnh bìa tròn có
ghi các số từ 0 đến 7.
Mỗi tấm bìa có hình vẽ như sau:

.
.

.

5
.

7
.
.

2

- Mỗi nhóm có 6 tấm bìa hình tròn nhỏ như sau:

4

3

6


30

10
20

40
20
20

Cắt cho 3 nhóm, mỗi nhóm 4 bông hoa bằng bìa, ở giữa có ghi kết quả của các
phép tính cộng các số tròn chục ở từng cây (mỗi cây có một bông hoa kết quả đúng),
và làm thêm 1 bông hoa ghi kết quả sai cho mỗi nhóm. Như sau:
50

30
70

40

c. Cách chơi:
- Số người chơi: ba nhóm, mỗi nhóm 3 em.
- Thời gian chơi: 3 phút.
- Luật chơi: Mỗi nhóm cử 3 đại diện lên chơi theo hình thức “tiếp sức”. Đội nào
gắn hoa đúng và nhanh thì đội đó thắng cuộc.
Lưu ý:
- Đối tượng chơi: HS đại trà.
- Trò chơi được tổ chức vào cuối tiết Luyện tập (Trang 130 – sgk) sau khi học
xong bài Cộng các số tròn chục.
2.1.5. Trò chơi thứ năm: Xếp đúng thứ tự:
a. Mục đích :

- Phạm vi áp dụng: Trò chơi này áp dụng vào Bài tập 4 (Viết các số 6; 1; 3; 7; 10
theo thứ tự từ bé đến lớn và từ lớn đến bé) tiết Luyện tập chung (Trang 40 - SGK).
Ngoài ra có thể vận dụng linh hoạt để tổ chức trò chơi cho các bài sau:
+ Bài tập 4 (Viết các số 8; 5; 2; 9; 6 theo thứ tự từ bé đến lớn và từ lớn đến bé)
tiết Luyện tập chung (Trang 42 - SGK).
+ Bài tập 2 (Viết các số 7; 5; 2; 9; 8 theo thứ tự từ bé đến lớn và từ lớn đến bé)
tiết Luyện tập chung (Trang 90 - SGK).
2.1.6. Trò chơi thứ sáu: Làm tính tiếp sức:
a. Mục đích :
- Rèn kĩ năng làm tính cộng, trừ trong phạm vi 10.
b. Chuẩn bị:
- GV vẽ sẵn lên bảng 2 hình như sau:
- 3
- 7

+ 2
+ 8

10
11


c. Cách chơi:
- Số người chơi: 2 đội, mỗi đội 4 bạn
- Thời gian chơi: 3 - 5 phút.
- Luật chơi: Khi GV ra hiệu lệnh bắt đầu chơi thì bạn đầu tiên của mỗi đội lên
điền kết quả phép tính đầu tiên vào hình tam giác rồi nhanh chóng trao lại bút viết cho
bạn thứ hai. Cứ tiếp tục như vậy, bạn thứ tư lên viết kết quả cuối cùng vào ngôi sao.
Đội nào làm đúng và nhanh hơn sẽ thắng cuộc.
Lưu ý:

42

c. Cách chơi:
- Số người chơi: 2 đội, mỗi đội 3 bạn
- Thời gian chơi: 3 phút.
12


- Luật chơi: Khi GV ra hiệu lệnh bắt đầu chơi thì bạn đầu tiên của mỗi đội dò
theo đường nối từ phép tính thứ nhất tới kết quả, nếu kết quả đúng điền “đ” vào ô
trống, nếu kết quả sai điền “s”; sau đó nhanh chóng trao bút cho bạn thứ hai. Cứ tiếp
tục như thế cho đến bạn cuối cùng của đội. Đội nào làm đúng và xong trước sẽ thắng
cuộc.
Lưu ý:
- Phạm vi áp dụng: Trò chơi này áp dụng vào Bài tập 4: Đúng ghi Đ sai ghi S
(theo mẫu) tiết Luyện tập (Trang 163 - SGK).
2.2. Các trò chơi có yếu tố hình học.
2.2.1. Trò chơi thứ 8: Xếp hình bằng que diêm
a. Mục đích :
- Củng cố biểu tượng về hình tam giác.
- Rèn luyện trí tưởng tượng.
b. Chuẩn bị:
- Mỗi nhóm HS chuẩn bị 9 que diêm.
c. Cách chơi:
- Số người chơi: chơi cá nhân
- Thời gian chơi: 5 - 7 phút.
- Luật chơi: Cho HS chơi cá nhân. Mỗi HS chuẩn bị sẵn 9 que diêm trên bàn. Khi
GV nêu yêu cầu: "Từ 9 que diêm hãy xếp thành 3 hình tam giác giống hệt nhau" thì
HS bắt đầu xếp.
- Cách đánh giá: (10 điểm)

- Thời gian chơi: 3 phút.
- Luật chơi: Cho hai đội lên chơi. Khi GV ra hiệu lệnh: Hãy ghép lại thành hình
mới theo mẫu thì HS bắt đầu ghép.
- Cách đánh giá:
14


+ Ghép được 2 hình (Theo mẫu) cho 8 điểm
+ Ghép nhanh cho 2 điểm
- Đáp án:

Lưu ý:
- Phạm vi áp dụng: Trò chơi này áp dụng vào bài tập 2 tiết Luyện tập (Trang 10 SGK).
2.2.4. Trò chơi thứ 11: Ai ở trong, ai ở ngoài
a. Mục đích :
- Củng cố về điểm ở trong, điểm ở ngoài một hình.
b. Chuẩn bị:
- 3 bộ, mỗi bộ gồm 5 tấm biển ghi chữ A, B, C, D, E (cho 5 HS)

A

B

C

D

E

- Vẽ sẵn 3 hình tam giác to trên sân trường.


Trang
128
130
132
133

Trò chơi áp dụng
Xếp theo thứ tự
Buộc dây cho bóng
Làm tính tiếp sức
Ai ở trong, ai ở ngoài

VD: Khi dạy bài: Luyện tập (Trang 128):
Mục tiêu của tiết học này là: Biết đọc, viết, so sánh các số tròn chục; bước đầu
nhận biết cấu tạo số tròn chục (40 gồm 4 chục và 0 đơn vị); Luyện kĩ năng đọc, viết,
so sánh và nhận biết cấu tạo số tròn chục; Giáo dục học sinh yêu thich học Toán.
Sau khi tiến hành cho học sinh luyện tập củng cố các bài tập

Trong quá trình thực nghiệm, tôi đã áp dụng trò chơi học tập với nhóm thực
nghiệm, nghĩa là tôi vẫn tiến hành cung cấp đầy đủ kiến thức cho hai nhóm HS song
đến phần áp dụng trò chơi học tập tôi cho nhóm thực nghiệm tiến hành chơi, nhóm
đối chứng vẫn tiếp tục làm bài tập bình thường. Sau khi thực nghiệm xong 4 tiết học
trên, tôi nhận thấy HS hứng thú hẳn lên, các em không còn rụt rè nhút nhát, luôn sôi
nổi với tiết học Toán. HS hăng say xây dựng bài hơn, làm bài tập nhanh hơn,… Nếu
chỉ nêu kết quả chung chung e rằng hơn chủ quan, tôi đã tiến hành khảo sát thái độ
của HS đối với môn Toán . Cụ thể kết quả khảo sát như sau:
Bảng 5: Thái độ của HS đối với môn Toán sau khi áp dụng trò chơi học tập vào
tiết học:
Thích học môn Toán

Như trên đã chứng minh rằng kết quả hai nhóm trước khi áp dụng trò chơi học tập
vào tiết học là tương đương. Sau khi áp dụng đề tài, ta thấy số học sinh hứng thú thích
học Toán tăng lên một cách đáng kể (Sau tác động chỉ còn 1 học sinh (9,1%) không
thích học môn Toán do em đó thuộc diện thiểu năng trí tuệ học hòa nhập).
Tiếp theo, tôi cho HS làm bài kiểm tra định kì giữa học kì 2 (đối chiếu Chuẩn
KTKN, bài kiểm tra này tập trung vào đánh giá các kiến thức nằm trong phạm vi các
tiết dạy thực nghiệm của tôi). Chuyên môn trường đã tiến hành đổi chéo GV chấm
bài. Bởi vậy, kết quả bài kiểm tra hoàn toàn khách quan. Tiến hành so sánh điểm TB
bài kiểm tra của HS sau khi áp dụng trò chơi học tập vào tiết học. Cụ thể:
Nhóm TN
Nhóm ĐC
ĐTB
8,5
6,9
Độ lệch chuẩn
1.44
1.97
0.050
Giá trị P của T-test
0.8
Chênh lệch giá trị TB chuẩn (SMD)
Đối chiếu kết quả kiểm tra sau tác động, ta thấy:
+ Chênh lệch ĐTB cho kết quả P = 0,005 cho thấy chênh lệch giữa ĐTB nhóm
thực nghiệm và nhóm đối chứng rất có ý nghĩa (Chênh lệch kết quả không do ngẫu
nhiên mà do tác động trò chơi học tập đưa lại)
+ Kết quả của bài kiểm tra sau khi áp dụng đề tài của nhóm thực nghiệm là ĐTB =
8,5; kết quả bài kiểm tra tương ứng của nhóm đối chứng là ĐTB = 6,9. Độ chênh lệch
giữa điểm số hai nhóm là ĐTBTN – ĐTBĐC = 1,6. Điều đó cho thấy điểm TBC của
hai nhóm có sự khác biệt rõ rệt, nhóm thực nghiệm có ĐTB cao hơn nhóm đối chứng.
+ Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0,8. Điều này

PHẦN III. KẾT LUẬN:
I/ Kết quả của việc áp dụng đề tài:
Ngoài những trò chơi học tập đã giới thiệu ở trên, tôi còn sưu tầm , thiết kế một số
trò chơi khác để phục vụ cho dạy học môn Toán và các môn Tiếng việt, Tự nhiên xã
hội. Tổ chức trò chơi tuy vất vả nhưng tôi đã tìm thấy niềm vui trong dạy học và càng
thấy yêu nghề hơn bởi thông qua các trò chơi, quan hệ cô - trò không còn khoảng
cách (vì nhiều lúc cô cũng tham gia chơi với trò). Tình cảm bạn bè giữa HS với HS
ngày càng gần gũi, gắn bó hơn. Những giờ học thoải mái, sôi nổi, hiệu quả ngày càng
gia tăng. Chất lượng học tập của các em ngày càng được nâng lên, hạn chế tình trạng
HS tiếp thu kiến thức một cách thụ động, trong giờ học không còn hiện tượng HS ngủ
gật, uể oải hay lơ mơ trong học tập. Không những thế còn giúp HS nhút nhát, cá biệt
hòa mình vào tập thể. Số lượng HS yêu thích môn Toán ngày một tăng lên. Điều đó
cho thấy những cố gắng đổi mới trong phương pháp, hình thức dạy học của tôi đã có
kết quả khả quan. Những thầy cô giáo trường bạn trong lần dự thực tạp liên trường
tiết dạy Toán của tôi cũng đã công nhận lớp học sôi nổi, HS nắm vững kiến thức. Đó
chính là động lực giúp tôi tiếp tục theo đuổi ý tưởng của mình.
II/ Kết luận:
Phải nói rằng việc dạy học Toán dưới dạng trò chơi toán học là rất cần thiết và
phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi HS lớp 1 nói riêng, HS tiểu học nói chung. Thực
tế đã cho thấy hình thức tổ chức trò chơi dễ được HS hưởng ứng và tích cực tham gia.
Để trò chơi học tập Toán đem lại hiệu quả cao trong dạy học, GV cần phải:
1. GV phải biết lựa chọn trò chơi phù hợp với yêu cầu kiến thức và kỹ năng của
bài dạy. Biết chuyển tải một số bài tập phù hợp thành trò chơi học tập để đảm bảo
không đưa thêm bài ngoài vào làm nặng thêm kiến thức.
2. GV phải chuẩn bị đầy đủ phương tiện thiết bị để phục vụ cho mỗi trò chơi.
3. Phổ biến luật chơi và cách tiến hành ngắn gọn, rõ ràng để tất cả HS nắm vững
trước khi tổ chức trò chơi.
4. Quản lý theo dõi và nắm vững các hoạt động của từng cá nhân, từng nhóm.
18


II. Đồ dùng dạy học:
-Các số tròn chục từ 10 đến 90.
-Bộ đồ dùng toán 1.
III. Các hoạt động dạy học:
Hoạt động GV
1.KTBC: Hỏi tên bài học.
Giáo viên nêu yêu cầu cho việc
KTBC:
Hai chục còn gọi là bao nhiêu?
Hãy viết các số tròn chục từ 2
chục đến 9 chục.
So sánh các số sau: 40 … 80 , 80
… 40
Nhận xét về kiểm tra bài cũ.
2.Bài mới:
Giới thiệu trực tiếp, ghi tựa.
3. Hướng dẫn học sinh làm các
bài tập
Bài 1: Học sinh nêu yêu cầu của

Hoạt động HS
3 học sinh thực hiện các bài
tập:
Học sinh nêu: Hai chục gọi là
hai mươi.
20, 30, 40, 50, 60, 70, 80, 90.
40 < 80 , 80 > 40

Học sinh nhắc tựa.
Hai nhóm thi đua nhau, mỗi

bài:
Giáo viên gợi ý học sinh viết
các số tròn chục dựa theo mô
hình các vật mẫu.
4.Củng cố, dặn dò:
Hỏi tên bài.
Nhận xét tiết học, tuyên dương.
Dặn dò: Làm lại các bài tập,
chuẩn bò tiết sau.
2. Kế hoạch bài học 2: bài : Luyện tập (Trang 130)
I. Mục đich yêu cầu:
- Biết đặt tính, làm tính, cộng nhẩm số tròn chục; bước đầu biết
về tính chất phép cộng; biết giải toán có phép cộng.
- Bài tập cần làm: Bài 1, Bài 2a, Bài 3, Bài 4.
II. Đồ dùng dạy học:
-Bộ đồ dùng toán 1.
III. Các hoạt động dạy học:
Hoạt động GV
Hoạt động HS
21


Hoạt động GV
1.KTBC: Hỏi tên bài học.
Gọi học sinh lên bảng làm bài
tập số 1 và tính nhẩm bài toán
số 3.
Giáo viên nhận xét về kiểm tra
bài cũ.
2.Bài mới:

Bài 3: Gọi nêu yêu cầu của Lan hái
: 20 bông hoa
bài:
Mai hái
: 10 bông hoa
Gọi học sinh đọc đề toán.
Cả hai bạn hái
:? bông hoa
Giáo viên gợi ý cho học sinh tóm
tắt bài toán.
Số bông hoa của Lan hái được
Bài toán cho biết gì?
cộng số bông hoa của Mai hái
Bài toán yêu cầu gì?
được.
Muốn tìm tìm cả hai bạn hái được Giải
bao nhiêu bông hoa ta làm thế Cả hai bạn hái được là:
nào?
20 + 10 = 30 (bông hoa)
Đáp số: 30 bông hoa.
Học sinh tự nêu cách làm và
làm bài.
Thi đua theo hai nhóm ở hai
Bài 4: Gọi nêu yêu cầu của bảng phụ.
bài:
Học sinh khác cổ động cho
Tổ chức cho các em thi đua nhau nhóm mình thắng cuộc.
theo các tổ nhóm.
Học sinh nêu nội dung bài.
4.Củng cố, dặn dò:

Hoạt động HS
1.KTBC: Hỏi tên bài học.
Gọi học sinh làm bài 2 và 4 SGK.
4 học sinh thực hiện các bài tập,
Nhận xét về kiểm tra bài cũ.
mỗi em làm 2 cột.
2.Bài mới:
Giới thiệu trực tiếp, ghi tựa.
Học sinh nhắc tựa.
3. Hướng dẫn học sinh làm các bài
tập
Các em đặt tính và thực hiện vào
Bài 1: Học sinh nêu yêu cầu của vở, nêu miệng kết quả (viết các
bài.
số cùng hàng thẳng cột với
nhau).
Bài 2: Gọi nêu yêu cầu của bài:
Tổ chức cho học sinh thi đua tính nhẩm
và điền kết quả vào ô trống trên
hai bảng phụ cho 2 nhóm.
Bài 3: Gọi nêu yêu cầu của bài:
Cho học sinh làm vở và nêu kết
quả.

Bài 4: Gọi nêu yêu cầu của bài:
Giáo viên gợi ý học sinh nêu tóm
tăt bài toán rồi giải bài toán theo
tóm tắt.

Hai nhóm thi đua nhau, mỗi nhóm 4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status