HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA CÁC ĐẢNG BỘ XÃ, THỊ
TRẤN Ở HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI, 2009
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1: CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA CÁC ĐẢNG BỘ XÃ, THỊ TRẤN Ở
HUYỆN CHƯƠNG MỸ. THÀNH PHỐ HÀ NỘI – NHỮNG VẤN ĐÊ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN
1.1. Khái quát về huyện Chương Mỹ và các Đảng bộ xã, thị trấn ở huyện Chương
Mỹ, thành phố Hà Nội.
1.2. Công tác dân vận cùa các đảng bộ xã, thị trấn ở huyện Chương Mỹ, thành phố
Hà Nội - quan niệm, vai trò, nội dung, phương thức, đặc điểm.
Chương 2: CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA CÁC ĐẢNG BỘ XÃ, THỊ TRẤN Ở
HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI – THỰC TRẠNG, NGUYÊN
NHÂN VÀ KINH NGHIỆM.
2.1. Công tác dân vận của các đảng bộ xã, thị trấn ở huyện Chương Mỹ, thành phố
Hà Nội - Thực trạng và nguyên nhân.
2.2. Các kinh nghiệm chủ yếu.
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG
CƯỜNG CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA CÁC ĐẢNG BỘ XÃ THỊ TRẤN Ở HUYỆN
Trung học cơ sở
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lực lượng của dân rất to, việc dân vận rất
quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành
công” [50, tr.700]. Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã đạt lên hàng đầu nhiệm vụ tập
hợp tất cả lực lượng không để sót một người nào, góp thành lực lượng toàn dân để thực
hiện những mục tiêu của cách mạng. Thực chất của công tác dân vận là xây dựng lực
lượng cách mạng. Không có lực lượng nhân dân đông đảo tham gia phong trào cách
mạng hăng hái, nhiệt tình thì cách mạng không thể thành công. Thực tiễn đấu tranh cách
mạng của Đảng và nhân dân ta trong tám mươi năm qua đã chứng minh đây là một
trong những nguyên nhân cơ bản đưa sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo đi từ
thắng lợi này đến thắng lợi khác. Vì vậy, Đảng phải thường xuyên, liên tục tiến hành
công tác dân vận, chăm lo lợi ích thực sự của nhân dân.
Trước yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, công tác dân vận góp
phần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo ra sức mạnh nội lực kết hợp với
sức mạnh bên ngoài, sức mạnh truyền thống với sức mạnh thời đại để thực hiện thắng
lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Mặt khác, công
tác dân vận còn phát huy tính tích cực, sáng tạo của nhân dân trong xây dựng Đảng,
chính quyền trong sạch vững mạnh, xây dựng hệ thống chính trị nước ta đáp ứng đòi hỏi
của nhân dân và yêu cầu mới của cách mạng. Do vậy, Đảng phải tăng cường công tác
dân vận, đặc biệt là công tác dân vận ở cấp cơ sở, bởi cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện các
chủ trương, chính sách của Đảng pháp luật của Nhà nước và là nơi trực tiếp thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân.
Chương Mỹ là một huyện của Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội. Ngày nay, cùng với
nhân dân Thủ Đô, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Chương Mỹ, nhân dân Chương
Đảng cũng cho ra đời tác phẩm Đổi mới công tác quần chúng vào năm 1991. Năm
1999, Ban Dân vận Trung ương cho xuất bản cuốn Sơ thảo lịch sử công tác dân vận của
Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-1996). Đây là công trình nghiên cứu lớn nhất, có ý
nghĩa cả về lý luận và thực tiễn; đã dựng lại quá trình thực hiện công tác dân vận của
Đảng qua các thời kỳ cách mạng. Năm 2006, Trung tâm nghiên cứu Khoa học Dân vận
thuộc Ban Dân vận Trung ương xuất bản cuốn 75 năm công tác dân vận của Đảng - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn. Đây là công trình hình thành trên cơ sở những bài tham
luận tại Hội thảo 75 năm công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam, thu hút sự
tham gia của nhiều nhà lãnh đạo, các nhà khoa học. Cuốn sách đã phác họa bức tranh
toàn cảnh về công tác dân vận, làm rõ những quan điểm của Đảng về công tác dân vận,
trao đổi những kinh nghiệm và phương pháp vận động các giai cấp, tầng lớp nhân dân
qua mỗi thời kỳ cách mạng và giới thiệu thực tiễn công tác dân vận ở một số địa
phương tiêu biểu.
Một số công trình nghiên cứu cũng được thực hiện về đề tài công tác dân vận như:
Công tác vận động nông dân của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
(Luận án tiến sĩ của Lê Kim Việt, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2002);
Công tác vận động giáo dân của tổ chức cơ sở đảng (cấp xã) ở đồng bằng Bắc bộ nước
ta hiện nay (Luận án tiến sĩ của Hoàng Mạnh Đoàn, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, 2002); Công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình thực hiện
đường lối đổi mới 1986-1996 (Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Ngọc Mai, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2002); Kinh nghiệm công tác quần chúng của Đảng ta
ở căn cứ địa Tân Trào trong Cách mạng Tháng Tám (Luận vãn thạc sỹ của Lê Quang
Hoà, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1996); Nâng cao chất lượng công tác
dân vận của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới (Luận văn thạc sỹ của Vũ
5
Dũng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1998); Năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của đảng bộ xã ở tỉnh Hà Tây hiện nay - thực trạng và giải pháp (Luận văn thạc sỹ
của Tạ Thị Minh Phú, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2004) .v.v... Các công
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng công tác dân vận của
các đảng bộ xã, thị trấn ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước.
4. Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu của luận văn
6
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác dân vận của các đảng bộ xã, thị
trấn ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm các chủ trương, nghị quyết của các
đảng bộ xã, thị trấn và thực trạng công tác dân vận ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà
Nội từ năm 2005 đến nay và từ nay đến 2015.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hổ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng và các nghị quyết của Đảng bộ
huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội về công tác dân vận.
- Cơ sở thực tiễn của luận văn là thực trạng công tác dân vận của các đảng bộ xã,
thị trân ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội trong thời gian qua. Đồng thời luận văn
cũng căn cứ vào yêu cầu và nhiệm vụ của đảng bộ và nhân dân huyện Chương Mỹ trong
công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của huyện.
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là kết
hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, kết hợp chặt chẽ phương pháp lịch sử với
logic, phân tích và tổng hợp. Đồng thời luận văn cũng sử dụng phương phấp khảo sát
thực tế, xử lý số liệu thống kê.
6.
Những đóng góp về khoa học của luận văn
Qua nghiên cứu, luận văn làm rõ bối cảnh, điều kiện và đặc điểm của công tác dân
vào giữa miền rừng núi Tây Bắc với vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng, là địa bàn
trọng điểm có vị trí quan trọng về kinh tế, quân sự, cửa ngõ phía Tây Nam của Thủ đô
Hà Nội; có đường quốc lộ 6A, 21A, đường 80 và đường sông (Sông Bùi và Sông Đáy)
chạy qua.
Phía Bắc huyện Chương Mỹ tiếp giáp với hai huyện Hoài Đức và Quốc Oai. Phía
Nam giáp với địa bàn huyện Mỹ Đức và một phần của huyện Ứng Hoà. Phía Đông
huyện có dòng Sông Đáy mà bên kia sông là địa phận huyện Thanh Oai. Phía Tây tiếp
giáp với huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình.
Địa dư hành chính huyện Chương Mỹ có từ mùa hạ, tháng tư năm Đồng Khánh thứ
ba 1888. Đây là huyện có địa hình vừa mang đặc trưng của vùng đồng bằng châu thổ
Sông Hồng, vừa mang đặc trưng của vùng bán sơn địa. Một số vùng phía Tây Bắc giáp
ranh với Hoà Bình và khu vực tiếp giáp với Quốc Oai, Ba Vì có địa hình gò đồi, nhưng
ngay chân các vùng gò đồi này là cả một vùng trũng như một thung lũng của các ngọn
núi cao xung quanh. Phía Đông Nam, nhất là vùng ven lưu vực sông lớn, là vùng đất
phù sa tương tự vùng châu thổ Sông Hồng. Tuy nhiên vẫn là vùng đất thấp, vì thế mà
nơi đây là rốn nước của các con sông lớn từ thượng nguồn đổ về và là huyện phân lũ
của Trung ương, khi sức đê Sông Hồng quá tải.
Tổng diện tích tự nhiên của Chương Mỹ là 22.862 ha, trong đó đất nông nghiệp là
14.371 ha. Huyện có 32 đơn vị hành chính: 30 xã, 02 thị trấn, với 213 thôn, cụm dân cư;
chia thành 3 vùng kinh tế rõ rệt: vùng bán sơn địa, vùng bãi và vùng trũng.
Vùng bán sơn địa, giới hạn bởi phía Bắc và Đông Bắc giáp bờ hữu Sông Tích và
Sông Bùi; gồm 10 xã, thị trấn (Thuỷ Xuân Tiên, Xuân Mai, Tân Tiến, Nam Phương
Tiến, Hoàng Văn Thụ, Hữu Văn, Mỹ Lương, Trần Phú, Đồng Lạc, Hồng Phong); diện
tích đất tự nhiên có 9.842,36 ha trong đó có 384 ha đất canh tác. Các xã vùng này
thường chịu ảnh hưởng lũ rừrig Ngang của dãy núi Hoà Bình. Địa hình rất phức tạp, đất
đai xen kẹp và bị chia cắt bởi các khu vực đồi gò thấp với các ô trũng, chằm sâu và các
dòng suối nhỏ, các đường tràn thoát lũ của hai hồ chứa nước lớn (hồ Đồng Sương, hồ
8
Đóng góp vào nền văn hóa của dân tộc, Chương Mỹ cũng là đất đã sinh ra và nuôi
dưỡng tài năng lỗi lạc làm rạng rỡ cho quê hương, cho dân tộc như: Trần Khải, Ngô Sĩ
Liên, Nguyễn Sỹ Chiêu, Đặng Thái Sơn...
Nhân dân Chương Mỹ có niềm tự hào chính đáng về những truyền thống vẻ vang
lâu đời của quê hương mình trong quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc. Trong hai
cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, đánh đuổi thực dằn Pháp và đế quốc Mỹ xâm
9
lược, Đảng bộ và nhân dân huyện Chương Mỹ vinh dự được Đảng và Nhà nước phong
tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Với những đặc điểm nêu trên, thời kỳ lịch sử nào, vùng đất Chương Mỹ cũng có
thế mạnh để phát triển về mọi mặt.
1.1.1.2. Thành tựu kinh tế - xã hội những năm qua
Những năm qua, kinh tế trong huyện có bước tăng trưởng khá. GDP của huyện
năm 2005: 13,5%; năm 2006: 15,4%; năm 2007: 15,8%; năm 2008: 15,7%; ước thực
hiện năm 2009: 12,2%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2005: 4,89 triệu đồng; năm
2006: 5,77 triệu đồng; năm 2007: 7,03 triệu đồng; năm 2008: 8,75 triệu đồng; ước thực
hiện năm 2009: 9,76 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực: năm 2008
tỷ trọng của ngành nông - lâm - ngư nghiệp: 34,6%; Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệpxây dựng: 39,7%; Thương mại- dịch vụ: 22,7% (xem phụ lục 1). Các chương trình kinh
tế dự án của Trung ương, của thành phố và của huyện đã và đang triển khai thực hiện có
hiệu quả.
Sản xuất nông nghiệp từng bước được phát triển theo hướng bền vững, hiệu quả,
từng bước tạo sản phẩm hàng hoá, góp ổn định và cải thiện đời sống nhân dân nông
thôn. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng được quan tâm, tập trung chỉ đạo. Huyện chủ trương
phá bỏ thế độc canh cây lúa để tiến tới đa canh, thích ứng với địa hình đa dạng của địa
phương. Trước hết, Chương Mỹ xây dựng chương trình sản xuất lúa hoá 1000 ha ở 7 xã
vùng đồng trũng có điều kiện thâm canh đạt năng suất cao, đồng thời có kế hoạch
chuyển đổi diện tích trồng lúa thuộc vùng đất bãi, vùng cao sang trồng màu và trồng cây
- tiểu thủ công nghiệp với diện tích 780 ha. Năm 2007, đã có 32 dự án đầu tư vào huyện
với tổng diện tích 1.243,5 ha, đặc biệt là dự án trục phát triển kinh tế Bắc - Nam và khu
đô thị sinh thái huyện Chương Mỹ với 946 ha. Đến nay, đã có 366 công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty cổ phần và tổ hợp sản xuất đang hoạt động sản xuất kinh doanh trên
địa bàn huyện, thu hút và giải quyết việc làm cho trên 50.000 người lao động. Giá trị
sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng cơ bản nãm 2008 đạt 470 tỷ
đồng. Giá trị sản xuất thương mại - dịch vụ năm 2008 đạt 425 tỷ đồng. Thu ngân sách
huyện đạt 70,401 tỷ đồng.
Trên mặt trận xoá đói, giảm nghèo, huyện đã đẩy mạnh công tác lập sổ bảo hiểm,
cấp 100% giấy chúng nhận hộ nghèo (chiếm 11,8% số hộ trong huyện) để người nghèo
có cơ hội được hưởng các chính sách xã hội, chăm sóc sức khoẻ và một số ưu đãi khác,
nhanh chóng vượt qua khó khăn vươn lên trong cuộc sống. Hàng năm, huyện tiết kiệm
chi ngân sách hỗ trợ xoá nhà dột nát, hộ nghèo. Từ năm 2005 đến nay hỗ trợ xây gần
130 nhà tình nghĩa, với số kinh phí 2.613 triệu đổng; tặng 1.522 sổ tiết kiệm tình nghĩa,
mỗi sổ trị giá từ 200.000- 500.000 đồng; huy động được 1.470 triệu đồng quỹ đền ơn
đáp nghĩa... Do vậy đã góp phần thu hẹp dần khoảng cách về mức sống của nhân dân ở
nông thôn, từng bước xây dựng nông thôn mái giàu đẹp.
Về y tế, trong những năm qua, huyện đã làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ ban
đầu cho nhân dân với 100% số xã, thị trấn có trạm y tế có bác sĩ, y sĩ sản khoa và kiện
toàn bước đầu đội ngũ nhân viên y tá thôn đội (113/213 thôn). Mục tiêu của các chương
trình y tế quốc gia, y tế dự phòng đều được thực hiện tốt, đạt và vượt kế hoạch được
giao, không để dịch bệnh lớn xảy ra. Hàng năm, công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em
cũng được chăm sóc thường xuyên với tỷ lệ trẻ em tiêm chủng 6 loại vắc xin luôn đạt
99,6199,8%; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng năm 2008 còn 19%; 6/32 trạm y tế đạt chuẩn
quốc gia đạt 19% tổng số trạm y tế trong huyện.
Nhân tố con người luôn giữ vai trò quan trọng, Chương Mỹ luôn dành sự lựa chọn
hàng đầu cho đầu tư xây dựng, đổi mới cơ sở hạ tầng và trang thiết bị cho các ngành
11
kinh tế — xã hội đến 2010, ở thời điểm này, đều đạt và vượt mức so với tiến độ.
1.1.1.3 Thực trạng đời sống nhân dân và những vấn đề bức xúc đang đặt ra trong
nông thôn huyện Chương Mỹ
Nhân dân Chương Mỹ cần cù, giản dị, trung thực, có bề dày truyền thống văn hoá,
đoàn kết trong lao động sản xuất, xây dựng quê hương và chống ngoại xâm. Kinh tế
nông nghiệp là nguồn sống chủ yếu của người dân trong huyện. Một số làng có các
nghề như mây tre đan ở Phú Vinh; đục đá, nung vôi ở Long Châu, khâu nón lá ở Văn
La, Mỗ Xá; kéo mía làm mật ở một số làng ven sông Đáy ... Tuy nhiên, nghề thủ công ở
12
Chương Mỹ phần lớn mang tính chất nghề phụ. Nhiều người, nhiều gia đình làm nghề
thủ công nhưng không tách khỏi làm ruộng.
Nhiều năm qua, sự tiến bộ trong sản xuất, kinh doanh của nhân dân cũng như
những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước đã góp phần làm cho đời sống của đại
bộ phận nhân dân trong huyện được cải thiện và nâng lên khá rõ rệt. Thu nhập của đại
bộ phận nhân dân trong huyện đã tăng khá do phát triển được sản xuất, dịch vụ. Một bộ
phận có thu nhập cao và tăng nhanh là các hộ phát triển kinh doanh dịch vụ tổng hợp và
phát triển kinh tế trang trại, phát triển thành doanh nghiệp tư nhân. Thu nhập tăng nên
đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao, hộ khá và giàu tăng nhanh, hộ nghèo
giảm nhiều, hộ đói không còn. Nhìn chung, điều kiện sống và sinh hoạt, làm việc của đa
số nhân dân trong huyện đã được cải thiện. Nhà ở của đa số hộ nhân dân đã khang trang
hơn; số hộ có nhà kiên cố, nhà mái bằng tăng khá nhanh. Phần nhiều số hộ đã mua sắm
được những vật dụng có giá tri như xe máy, ti vi, tủ lạnh ... số hộ có điện thoại ngày
càng tăng. Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ nhân dân, nhất là nông dân còn có đời
sống thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần. Thu nhập của nông dân vẫn thấp và chênh
lệch khá nhiều so với các bộ phận dân cư khác; điều kiện sinh hoạt và làm việc của
nông dân còn khá nhiều vất vả, nặng nhọc, lao động thủ công là chính. Một bộ phận vẫn
phải sống trong những căn nhà tạm bợ, điều kiện sinh hoạt thấp kém so với mặt bằng
chung của xã hội. Đây là vấn đề đặt ra đòi hỏi các cấp uỷ đảng, chính quyền phải có
Đến nay, 100% các xã, thị trấn trong huyện đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS.
Tỷ lệ học sinh bỏ học giảm, tỷ lệ người có trình độ THPT tăng nhanh. Trình độ chuyên
môn của nhân dân trong huyện đã có tiến bộ, năng suất lao động tăng. Hầu hết nhân dân
trong huyện đều là những lao động có kỹ năng khá thành thạo và nhiều kinh nghiệm
trong sản xuất so với các vùng khác, nhất là trong canh tác lúa nước và chăn nuôi gia
súc, gia cầm. Tuy nhiên do số lao động trẻ mới tốt nghiệp THPT mấy năm gần đây rất ít
ở lại làng quê tham gia lao động, chủ yếu đi tìm kiếm việc làm ở ngoài huyện hoặc đi
học đại học, cao đẳng, học nghề nhưng không về quê hương công tác nên thực tế phần
lớn lao động ở nông thôn trong huyện có trình độ tiểu học và THCS. Bên cạnh đó, với
chủ trương thực hiện đa dạng các loại hình đào tạo nghề cho nhân dân, năm 2008 số lao
động trong huyện được đào tạo nghề là 34%; tuy nhiên, nội dung đào tạo ngành nghề
còn đơn điệu, kiến thức, tay nghề được trang bị chưa thật phù hợp nên hiệu quả dạy
nghề chưa cao. Nếu so với yêu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn của huyện hiện
nay thì trình độ học vấn, chuyên môn của nhân dân còn thấp. Đây là vấn đề khó khăn
trong việc nâng cao chất lượng lao động, chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời gian tới.
Những năm qua, nhất là từ sau Đại hội Đảng bộ huyện và các đảng bộ cơ sở nhiệm
kỳ 2005 - 2010 đến nay, các cấp uỷ đảng, chính quyền đã có nhiều năng động, sáng tạo
trong việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Nghị quyết Đại hội XXI
Đảng bộ huyện Chương Mỹ, kinh tế - xã hội phát triển khá nhanh, cùng với thành tựu
của công cuộc đổi mới đất nước đã tác động mạnh mẽ, tích cực đến tâm trạng, ý thức
chính trị và niềm tin của nông dân. Người dân phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo
Đảng, của các cấp uỷ đảng, chính quyền.
Việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã mang lại luồng sinh khí mới
trong nhân dân, góp phần củng cố sự giác ngộ chính trị của nhân dân. Người dân ngày
càng có ý thức trách nhiệm cao hơn trong việc đóng góp ý kiến xây dựng chủ trương,
chính sách của Đảng, Nhà nước, phương hướng, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của
đảng bộ, chính quyền địa phương. Mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, chính quyền
ngày càng gắn bó.
tham nhũng của một số cán bộ, công chức, đảng viên chưa được xử lý dứt điểm và thỏa
đáng đang là những vấn đề bức xúc. Những tồn tại, bất cập này nguyên nhân của nó có
liên quan mật thiết đến hạn chế của công tác dân vận.
1.1.2. Khái quát về các đảng bộ xã, thị trấn ở huyện Chương Mỹ
1.1.2.1. Vị trí, vai trò
Tổ chức cơ sở đảng có vai trò quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng.
C.Mác và Ph.Ăngghen là người đầu tiên nêu lên những quan điểm, tư tưởng về vị trí,
vai trò của tổ chức cơ sở đảng. Hai ông sáng lập ra “Liên đoàn những người cộng sản”
và khẳng định các chi bộ của “Liên đoàn” được thành lập dưới hình thức các hội bí mật
trong các hiệp hội công nhân. Hai ông cũng chỉ ra rằng, nếu các chi bộ này bị buông
15
lỏng về mặt tổ chức sẽ dẫn đến cắt dứt liên lạc với Ban Chấp hành Trung ương, làm cho
Đảng “mất chỗ dựa vững mạnh và duy nhất”.
Trong điều kiện “Liên đoàn những người cộng sản” chuyển từ hoạt động bí mật
sang hoạt động công khai, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát triển tư tưởng của mình: Phải
tổ chức lại liên đoàn mà khâu đặc biệt quan trọng là củng cố các chi bộ, “biến mỗi chi
bộ của mình thành trung tâm và hạt nhân của các hội liên hiệp công nhân” [46, tr.348],
là mắt xích quan trọng, là chỗ dựa vững chắc của Đảng.
Kế thừa những tư tưởng đó của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I. Lênin đã phát triển
quan điểm về vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng trong quá trình xây dựng và lãnh đạo
Đảng Bônsêvích Nga - Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Người chỉ rõ rằng, việc
thành lập các tổ chức cách mạng trong các xí nghiệp, nhà máy là nhiệm vụ đầu tiên, cấp
bách của Đảng Công nhân dân chủ - xã hội Nga: mỗi nhà máy phải là một thành trì.
V.I Lênin coi chi bộ là nơi rèn luyện, phân công công tác, quản lý, sàng lọc đảng viên để
họ luôn luôn là người chiến sỹ tiên phong của giai cấp. Chi bộ còn là nền tảng của quần
chúng, là hạt nhân chính trị của các tập thể lao động. Người yêu cầu mỗi chi bộ phải là
điểm tựa để tiến hành công tác tuyên truyền, cổ động và tổ chức thực hiện trong quần
Chí Minh nhấn mạnh: Các chi bộ, đảng bộ cơ sở dù được thành lập ở loại hình đơn vị
cơ sở nào trong xã hội đều có vai trò là “nền móng” của Đảng, hạt nhân chính trị ở cơ
sở, là “sợi đây chuyền” để Đảng liên hệ với quần chúng. Người khẳng định: “Mỗi chi
bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên
hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng”
[53, tr.23]. Chất lượng của các tổ chức cơ sở đảng là một trong những nhân tố quyết
định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, quyết định việc thực hiện nhiệm vụ
chính trị ở cơ sở, “chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt” [54, tr.213]. Vì vậy, xây dựng chi bộ
tốt, cho vững mạnh là một việc vô cùng quan trọng.
Từ những bài học thành công, chưa thành công trong thực tiễn xây dựng tổ chức cơ
sở đảng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng ta đã khẳng định: “Những thành
tựu đã đạt được, những tiềm năng được khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt
nguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở mà hạt nhân là tổ chức đảng.
Nhưng mặt khác, sự yếu kém của nhiều tổ chức cơ sở đảng đã hạn chế những thành tựu
của cách mạng” [28, tr.141].
Như vậy, rõ ràng tổ chức cơ sở đảng có vai trò quan trọng tạo nên chất lượng lãnh
đạo của Đảng đối với cách mạng. Trong mối quan hệ này, năng lực lãnh đạo, sức chiến
đấu của tổ chức cơ sở đảng là nguyên nhân quan trọng trực tiếp, còn việc thực hiện
đường lối, chính sách của Đảng tại cơ sở là kết quả và cũng là chuẩn mực, thước đo để
đánh giá chất lượng lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng.
Điều 21, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, được Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X của Đảng thông qua, đã quy định: “Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ
sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở” [32, tr.34].
Với tư cách là một tổ chức cơ sở đảng, vị trí, vai trò của các đảng bộ cơ sở xã, thị
trấn ở huyện Chương Mỹ còn được quy định bởi vị trí, vai trò của mặt trận nông nghiệp,
nông thôn và nông dân. Trong giai đoạn hiện nay vai trò quan trọng của các đảng bộ xã,
thị trấn ở huyện Chương Mỹ được thể hiện những khía cạnh sau:
Trước hết, các đảng bộ xã, thị trấn huyện ở Chương Mỹ cũng như các tổ chức cơ
sở khác của Đảng là nơi trực tiếp liên kết các đảng viên lại với nhau thành tổ chức. Với
mạng lưới tổ chức của mình, các đảng bộ xã, thị trấn là điểm tựa của Đảng để tiến hành
tế - xã hội, giúp nhân dân xoá đói giảm nghèo, có việc làm, nâng cao mức sống, giữ gìn
an ninh, trật tự xã hội, môi trường sống an toàn và bền vững. Các đảng bộ xã, thị trấn
thực hiện vai trò lãnh đạo toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giáo dục,
thuyết phục dân làm, dân thực hiện chứ không làm thay, không áp đặt, mệnh lệnh, chỉ
thị theo kiểu hành chính quan liêu, càng không bao biện làm thay chính quyển, can thiệp
vào công việc của chính quyền; gần dân, phải trở thành chỗ dựa đáng tin cậy của dân,
phải giải quyết kịp thời những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của dân, khuyến khích
dân góp ý xây dựng Đảng, chính quyền. Đảng viên phải gương mẫu trong công tác được
phân công, tham gia sinh hoạt đảng đều đặn, thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định của cấp trên và địa phương, vận động,
tuyên truyền nhân dân hoàn thành nghĩa vụ công dân.
Thực tế cho thấy, sự ổn định chính trị, kinh tế- xã hội ở địa bàn huyện Chương Mỹ
thời gian qua là nhân tố cực kỳ quan trọng để ổn định chính trị xã hội đất nước nói
chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng. Điều đó nói lên vị trí vai trò quan trọng của các đảng
bộ xã, thị trấn ở huyện Chương Mỹ.
1.1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ
18
* Chức năng
Tổ chức cơ sở đảng có chức năng quan trọng là hạt nhân chính trị lãnh đạo tại
đơn vị cơ sở. Theo Quy định số 95 - QĐ/TW (ngày 3/3/2004) của Đảng về chức năng,
nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở xã, các đảng bộ xã ở huyện Chương Mỹ có chức
năng: “Là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống
chính trị ở xã vững mạnh, nông thôn giàu đẹp văn minh; không ngừng nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân, động viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với
Nhà nước” [31, tr.26].
Theo Quy định số 94 - QD/TW (ngày 3/3/2004) của Đảng về chức năng, nhiệm vụ
của đảng bộ, chi bộ cơ sở phường, thị trấn thì về chức năng, đảng bộ thị trấn khác đảng
Những nhiệm vụ trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và tác động lẫn nhau. Trong
hoạt động thực tiễn, các đảng bộ xã, thị trán không được xem nhẹ nhiệm vụ nào, cần
xác định những vấn đề trọng tâm để tập trung lãnh đạo thực hiện.
Các đảng bộ xã ở huyện Chương Mỹ có quan hệ thường xuyên với nông dân và
lĩnh vực lãnh đạo chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Do vậy,
yêu cầu có tính chất bao trùm trong hoạt động là đảm bảo cho đảng bộ thật sự là ngưòi
đại diện cho lập trường giai cấp công nhân ở nông thôn, là hạt nhân của sự đoàn kết,
thật sự là đơn vị chiến đấu cơ bản trên mặt trận nông nghiệp và xây dựng nông thôn
mới. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, các đảng bộ xã của huyện cần lãnh đạo đổi mới
về cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho
phù hợp với tiềm năng thế mạnh của địa phương. Không ngừng củng cố và đổi mới hình
thức tổ chức, phương thức hoạt động kinh tế tập thể, phát huy mọi tiềm năng của các
thành phần kinh tế, đẩy mạnh kinh doanh tổng hợp, phát triển kinh tế gia đình, tăng
nhanh hộ sản xuất kinh doanh giỏi, giảm đến mức thấp nhất số hộ nghèo, có khó khăn.
Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nông thôn mới, lãnh đạo chính quyền
xã thực hiện các chính sách xã hội và công bằng xã hội. Tiếp tục xây dựng và củng cố
chi bộ theo địa bàn dân cư, có nhiều hình thức sinh hoạt và hoạt động thích hợp cho
đảng viên.
Các đảng bộ thị trấn của huyện được thành lập ở nơi tập trung dân cư và ở trung
tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của huyện. Trong khi thực hiện các nhiệm vụ cơ bản của
tổ chức cơ sở đảng, các đảng bộ thị trấn cần hướng trọng tâm lãnh đạo của mình vào các
lĩnh vực hành chính, văn hoá, xã hội, trật tự xây dựng đô thị và trật tự an ninh trên địa
bàn, thực hiện tốt các chính sách xã hội; làm tốt công tác phát triển đảng, công tác dân
vận, xây dựng các đoàn thể nhân dân.
Thực tiễn xây dựng Đảng ở huyện Chương Mỹ những năm qua cho thấy, các đảng
bộ xã, thị trấn đạt trong sạch, vững mạnh là do thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của
mình, tiến hành đồng bộ những hoạt động lãnh đạo, thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây
dựng tổ chức, phát huy quyền làm chủ của nhân dân cùng với các hoạt động xây dựng
nội bộ làm cho đời sống nhân dân được cải thiện, niềm tin của quần chúng nhân dân đối
với Đảng được củng cố, mối quan hộ giữa Đảng với nhân dân ngày càng gắn bó chặt
vai trò đầu tầu gương mẫu ở cơ sở và trong lĩnh vực hoạt động của đời sống kinh tế- xã
hội, đặc biệt là trong việc phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo. Tuy nhiên, đội ngũ này
còn bộc lộ nhiều nhược điểm, thiếu sót: Có một bộ phận không nhỏ đảng viên có biểu
hiện phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí chiến đấu; tính tiền phong, gương
mẫu không cao; đảng viên ở một số nơi sống gần dân nhưng không sát dân, chưa hiểu
dân, chưa thường xuyên lắng nghe ý kiến, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân.
Vẫn còn tình trạng đảng viên bỏ sinh hoạt, vắng sinh hoạt, không tự giác nhận nhiệm vụ
và hoàn thành nhiệm vụ được tổ chức đảng phân công. Công tác phát triển đảng viên
kết quả còn yếu; số đảng viên mới được kết nạp, phần lớn là cán bộ, nhân viên công tác
ở xã, thị trấn, là giáo viên, công an, số đảng viên mới là thanh niên nông thôn không
nhiều.
Hoạt động của các đảng bộ xã, thị trấn ở huyện Chương Mỹ.
Năm 2008: có 23 tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh, đạt 71,9% (tăng
16,4% so với năm 2005); 08 tổ chức cơ sở đảng hoàn thành nhiệm vụ, đạt 25%; 01 tổ
chức cơ sở đảng yếu kém chiếm 3,1%. Số đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm
vụ là 4.913 đ/c = 74,08% (tăng 17% so với năm 2004); đảng viên đủ tư cách, hoàn
thành nhiệm vụ là 1.669 đ/c = 25,17%; đảng viên vi phạm tư cách, không hoàn thành
nhiệm vụ là 50 đ/c = 0,75%.
21
Về tổ chức đảng ở các xã, thị trấn: do tính chất dân cư chi phối nên số lượng đảng
viên ở các xã, thị trấn có sự chênh lệnh. Trong 32 xã, thị trấn có 2 thị trấn và 1 xã có từ
300- 600 đảng viên; có 10 xã có từ 200- 300 đảng viên; có 19 xã có số lượng dưới 200
đảng viên. Số lượng các chi bộ ở các xã, thị trấn cũng khác nhau: có 16 xã, thị trấn có từ
10- 18 chi bộ, có 16 xã có từ 6- 9 chi bộ. Các chi bộ về cơ bản được tổ chức theo thôn
xóm, cụm dân cư, tổ dân phố. Ở các đơn vị sự nghiệp do xã, thị trấn quản lý như trường
học, trạm xá, nhà trẻ, mẫu giáo; các cơ sở kinh tế, sản xuất kinh doanh như hợp tác xã
tiểu thủ công, thương mại, dịch vụ cũng đã thành lập chi bộ hoặc tổ đảng. Nhìn chung,
Nhiều nơi, tổ chức đảng chưa thực sự quan tâm thường xuyên, cụ thể, sâu sát đến công
tác rèn luyện, giáo dục, bồi dưỡng và kiểm tra cán bộ, đảng viên ở cơ sở, chưa ngăn
chặn kịp thời, có kết quả những biểu hiện quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, tiêu cực,
vô trách nhiệm của cán bộ. Do đó vẫn còn tình trạng mất đoàn kết và những biểu hiện
tiêu cực trong đội ngũ cán bộ xã, làm giảm sút lòng tin của nhân dân. Công tác kiểm tra
của Đảng chưa được phát huy mạnh mẽ; nhiều khuyết điểm trong bộ máy đảng - chính
quyền - đoàn thể chậm được phát hiện và giải quyết. Hoạt động của các chi bộ ở một số
noi còn nhiều yếu kém, nội dung sinh hoạt chưa được cải tiến, chất lượng thấp. Phương
thức lãnh đạo của tổ chức đảng, cấp uỷ cơ sở ở xã, thị trấn chậm được đổi mới, hiệu quả
thấp; nghị quyết của cấp uỷ một số nơi còn bị trùng lặp, chất lượng chưa cao. Hiệu quả
hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính tri ở một số xã thiếu đồng bộ, phong
trào quần chúng chưa có chiều sâu, chưa phát triển đều khắp.
1.2. CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA CÁC ĐẢNG BỘ XÃ, THỊ TRẤN Ở
HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI - QUAN NIỆM, VAI TRÒ, NỘI
DUNG, PHƯƠNG THỨC, ĐẶC ĐIỂM
1.2.1. Quan niệm
Theo Từ điển tiếng Việt - Tường giải và liên tưởng định nghĩa công tác dân vận là
"công tác tuyên truyền, tổ chức, động viên và lãnh đạo quần chúng trong một cuộc đấu
tranh" [55, tr 42].
C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đầu tiên đặt cơ sở khoa học cho chủ nghĩa
xã hội khoa học và cho toàn bộ phong trào công nhân- đã chứng minh rằng: “...Toàn bộ
lịch sử xã hội loài người từ trước đến nay là lịch sử đấu tranh giai cấp”...[46, tr.508].
Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và các giai cấp
bóc lột khác xây dựng xã hội mới cũng ở trong tiến trình lịch sử đó. Hai ông cũng cho
rằng, để đảm bảo cho cuộc đấu tranh cách mạng ấy giành thắng lợi, phải có hai yếu tố
cơ bản: Một là, giai cấp công nhân phải tự mình tổ chức ra được chính đảng độc lập của
mình; hai là, “Bản thân quần chúng phải tự mình tham gia vào công cuộc cải tạo ấy,
phải tự mình hiểu rõ đó là vấn đề gì và vì sao phải tham gia vào công cuộc cải tạo ấy
Như vậy, qua những chỉ dẫn trên của các nhà kinh điển mác - xít và của Hồ Chí
Minh, có thể hiểu công tác dân vận của Đảng là toàn bộ các hoạt động tuyên truyền,
giáo dục, hướng dẫn, tập hợp tổ chức của tổ chức đảng đối với quần chúng nhân dân,
nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động tối đa lực lượng toàn dân thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng.
Trên cơ sở khái niệm công tác dân vận của Đảng như trên đã trình bày, có thể hiểu
công tác dân vận của các đảng bộ xã, thị trấn ở huyện Chương Mỹ là hoạt động của cấp
uỷ và tổ chức đảng nhằm tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn, tập hợp, thu hút nhân dân
và tổ chức các phong trào hành động cách mạng trong nhân dân thực hiện đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các chủ trương, nghị quyết
của các cấp uỷ, tổ chức đảng và chính quyền địa phương, góp phần thực hiện thắng lợi
các mục tiêu kinh tế- xã hội, an ninh - quốc phòng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị
của địa phương vững mạnh.
Nội hàm của khái niệm công tác dân vận của các đảng bộ xã, thị trấn ở huyện
Chương Mỹ bao gồm:
- Hoạt động tuyên truyền, giáo dục, giải thích cho nhân dân hiểu được đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hiểu được quyền lợi, trách
nhiệm và nghĩa vụ của mình.
- Tập hợp, thu hút các tầng lớp nhân dân vào các tổ chức cách mạng dưới sự lãnh
đạo của Đảng. Xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân.
24
- Tổ chức các phong trào hành động cách mạng của nhân dân thực hiện chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
- Công tác dân vận là trách nhiệm chủ yếu và trực tiếp của các cấp uỷ, tổ chức
đảng.
Chất lượng công tác dân vận của các đảng bộ xã, thị trấn ở huyện Chương Mỹ là
kết quả tổng hợp của nhiều hoạt động, bao gồm: Công tác tuyên truyền, giáo dục; công
Đảng và chế độ XHCN, đối với đảng bộ, chính quyền trong các xã, thị trấn và thể hiện
ở đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
25