BÀI THẢO LUẬN
ề Tài: SỰ SÁNG TẠO CỦA HỒ CHÍ MINH V
SỰ RA ĐỜI CỦA NHÀ NƯỚC SAU CÁCH
MạNG THÁNG 8
LỜI MỞ ĐẦU
Hồ Chí Minh – người cha già vĩ đại của dân tộc Việt nam đứng vượt hẳn
lên những người đương thời ở tầm tư duy và cái nhìn biện chứng. Bôn ba
khắp năm châu bốn biển, hiểu rõ ngọn ngành những tinh hoa cũng như
những khuyết tật mà phong trào cách mạng đã trải qua, để khi về đến Tổ
quốc, hôn nắm đất quê hương đang đói nghèo, đau khổ, Người hiểu rõ cần
phải làm gì cho nhân dân mình. Tiếp nhận tinh hoa của nền văn minh
phương Tây mà Người đã có nhiều năm chiêm nghiệm để rồi gắn kết với bản
lĩnh và tri thức cách mạng, Hồ Chí Minh thấy được những vấn đề mà có thể
những người khác chưa thấy hoặc thấy chưa rõ, nghiên cứu, tiếp thu có
chọn lọc tinh hoa của nhân loại để từ đó lãnh đạo thành công sứ mệnh giải
phòng dân tộc, xây dựng nước một Việt Nam độc lập.
Cách mạng Tháng Tám thành công, Nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà ra đời, đưa nhân dân ta từ
thân phận nô lệ lên làm chủ đất nước, làm chủ
vận mệnh của mình.
Đó là thành quả cách mạng do Đảng
Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ
tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, đã vận dụng
sáng tạo lý luận Mác - Lê-nin về nhà
nước kiểu mới của giai cấp công nhân,
còn lạc hậu giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc và từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Những
khả năng hiện thực này đã đem lại nhận thức mới mẻ và
triệt để trong quan niệm cũng như giải pháp để giải quyết
vấn đề độc lập dân tộc.
Khi xây dựng Nhà nước, trong điều kiện Đảng cầm quyền, V.I.Lênin
nhấn mạnh tính tất yếu phải xây dựng Đảng cộng sản trong sạch vững
mạnh, Người khẳng định: “Không có một Đảng sắt thép được tôi
luyện trong đấu tranh, không có một Đảng được sự tín nhiệm của tất
cả những phần tử trung thực trong giai cấp… thì không thể tiến hành
thắng lợi cuộc đấu tranh ấy được”.
Yêu cầu phải xây dựng các tổ chức
chính trị - xã hội khác như đoàn thanh
niên, hội phụ nữ, hội nông dân…vững
mạnh, vì các tổ chức đó đại diện cho
quyền lợi của các tầng lớp nhân dân và
thông qua đó để thực hiện quyền làm
chủ của nhân dân lao động. quan niệm
của V.I.Lênin về hệ thống chuyên chính
vô sản là hết sức khoa học, đó là sự phát
triển sáng tạo quan điểm của Mác và
Ăngghen về chuyên chính vô sản vào
tình hình mới, gắn với đòi hỏi của thực
tiễn quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
trên nước Nga. Quan điểmnày là được
Hồ Chí Minh vận dụng vào khi xây
dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
của đất nước ta.
nói: “Trong bầu trời không có gì quý hơn bằng nhân dân. Trong
thế gian không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” .
Tuy nhiên tư tưởng lấy dân làm gốc của Người đã vượt qua
những hạn chế còn tồn tai trong tư tưởng Nho giáo phong kiến.
Mục đích của Nho gia là để làm dịu mâu thuẫn giữa
giai cấp thống trị và tầng lớp bị trị. Giai cấp thống trị
mong muốn, nếu người dân được “bề trên” “quan tâm”
thì yên bề ở vị trí nô lệ của mình, không đụng chạm đến
quyền lợi, địa vị của chúng.
Ngược lại, mục đích thực hiện quan điểm “lấy dân làm
gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là để giải phóng người
dân thoát khỏi tình trạng bị nô lệ về chính trị, bị kiệt
quệ về kinh tế, bị tối tăm về tinh thần, tư tưởng, văn
hóa, giáo dục do xã hội cũ gây nên. Người nói: “Tôi chỉ
có ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta
hoàn toàn được độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do,
đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học
hành”. Quan điểm “lấy dân làm gốc” hay lý tưởng sống
vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được thể hiện
bằng chính hoạt động của Người. Người không chỉ nói
mà còn làm. Người suốt đời phấn đấu không ngừng cho
lý tưởng đó.
NhìnNghiên
2.2.
lại lịch cứu
sử nhà
Thời
vậy,đến
muốn
quốc
các nhà
nhắc
chíndựa
chắnvào
và nhân
quyếtdân,
địnhlấy
thay
đổilàm
vì lợi
íchhành
chung
củatheo ý
đạo phải
dân
gốc,
động
dân
dân,tộc.
vì tương lai dân tộc. Đó cũng chính là tư tưởng đặt căn
-bản
Nhàtrên
Trần,
hậuthần
Lê (Nguyễn
Trãi),
là quý,
về
càng
hơn Tuân
nhưngTử
nhìn
chung
mang
tắc,sau
vua
thì tiến
xembộ
nhẹ”.
cũng
có câu
nóitính
rất chất
nổi tiếng:
an
dân,
nhằm điều
mâu nước
thuẫnchở
giaithuyền,
cấp, bênh
“Vua
là thuyền,
dân hòa
là nước,
nước vực
tịch Hồ
bênh
vực cho
dân điểm
lao động.
Cơtựsởnhư
tư Nho
Chí Minh
của quyền
chúng lợi
ta của
cũngnhân
có quan
tương
tưởng
Người
là “Trong
chủ nghĩa
Lênin,có
học
về bằng
gia, khicủa
Người
nói:
bầuMác
trời–không
gì thuyết
quý hơn
cách
xóa bỏ
có phong
lợi chokiến.
dân ta hết sức làm.
Việc gì có hại cho dân ta hết sức tránh.
Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta"
1.3. Phân tích, nghiên cứu Nhà nước Tư sản
Giai cấp tư sản xây dựng một nhà nước pháp quyền và xã hội công dân của mình
với một số quan điểm cụ thể: nhà nước dân chủ dựa trên cơ sở đa nguyên về chính
trị, đảm bảo xuất hiện nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau để tạo ra tự do,
công khai và cân bằng quyền lực; xây dựng một xã hội công dân được thực hiện
bằng một “khế ước xã hội”, đảm bảo mọi công dân đều có quyền tự do, bình đẳng,
dân chủ, hạnh phúc…; thực hiện việc phân lập các quyền nhằm “lấy quyền lực
ngăn cản quyền lực”. Tuy nhiên, với cái nhìn toàn diện và sâu sắc, Chủ tịch Hồ
Chí minh đã nhận ra rằng nếu xét về bản chất giai cấp, nhà nước pháp quyền tư
sản hiện đại là công cụ chuyên chính của giai cấp tư sản độc quyền. Nếu xét về
hình thức, nhà nước pháp quyền tư sản hiện đại đều được tổ chức theo nguyên tắc
phân quyền và dựa trên chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, nhưng thực
chất sự phân quyền chỉ là cơ chế để thực hiện quyền lực duy nhất của giai cấp tư
sản. Còn về hệ thống pháp luật, nhà nước pháp quyền tư sản có hệ thống pháp
luật khá hoàn chỉnh và về hình thức nó mang nặng tính công quyền
Trên cơ sở phân tích những ưu, nhược điểm đó,
Người đã chắt lọc và vận dụng một cách sáng
tạo, độc lập vào việc xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vẫn là dân
chủ, vẫn là các cơ quan Nhà nước có sự phân
dân, những vấn đề quan hệ đến vận mệnh quốc gia do nhân
dân phán quyết, tức là nhân dân phải là người thực hiện
quyền lực, hoặc là trực tiếp, hoặc là gián tiếp thông qua các
đại biểu của mình. Vì vậy, trong bản Hiến pháp đầu tiên
của nước ta (1946) do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo,
ngay từ điều 1 đã khẳng định: “Tất cả quyền bính trong
.nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt
nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Điều 32
của Hiến pháp 1946 cũng quy định: “Những việc quan hệ
đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phán quyết”.
Thực chất đó là chế độ trưng cầu dân ý, một hình thức dân
chủ trực tiếp được đề ra khá sớm ở nước ta. Sau khi giành
được chính quyền, nhân dân ủy quyền cho các đại diện do
mình bầu ra “Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung
ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân
tổ chức nên”. Đồng thời: “Nhân dân có quyền bãi miễn đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những
đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của
nhân dân”.
2.2. Xây dựng nhà nước do dân
Đó là nhà nước do dân lựa chọn, bầu ra những
đại biểu của mình. Nhà nước đó do dân ủng hộ,
giúp đỡ, đóng thuế để nhà nước chi tiêu, hoạt
động; Nhà nước đó lại do dân phê bình, xây dựng.
Do đó, Người yêu cầu: “Tất cả các cơ quan nhà
nước phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với
nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát
của nhân dân”. “Hễ Chính phủ nào mà có hại cho
giặc nội xâm là; tham ô, lãng phí, quan liêu. Một mặt nhà nước
phải thực hành dân chủ rộng rãi với nhân dân mặt khác phải
thực hành chuyên chính với mọi hành động xâm hại đến lợi ích
của Tổ quốc, quyền làm chủ của nhân dân. Người thường nhấn
mạnh vấn đề bản chất xã hội chủ nghĩa, tính dân chủ, tính nhân
dân, tính nhân đạo của nhà nước mà nhân dân ta xây dựng.
Bình dân học vụ (Giáo dục)
Tăng gia sản xuất (Kinh tế)
Tổ chức lạc quyên, lập hũ gạo (Kinh tế)
Bầu cử (chính trị)
III. Quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất giai cấp công
nhân với tính nhân dân và tính dân tộcc của nhà nước
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được coi là nhà
nước của dân, do dân, vì dân nhưng tuyệt nhiên nó không phải là “Nhà nước toàn
dân”, hiểu theo nghĩa nhà nước phi giai cấp. Nhà nước Việt Nam mới, theo quan điểm
của Hồ Chí Minh, là một nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân. Vì:
Một là, Nhà Nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Điều này được thể hiện:
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước giữ vững và tăng cương bản chất giai
cấp công nhân.
Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng phương thức thích hợp.
+ Đảng lãnh đạo bằng đường lối,quan điểm, chủ trương để nhà nước thể chế hóa
thành pháp luật, chính sách, kế hoạch.
nghiệm tổ chức, hoạt động của nhà nước trong
quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, Hồ Chí
Minh cho rằng, quản lý xã hội bằng pháp luật là
dân chủ, tiến bộ và có tính chất phổ biến đối với
các xã hội hiện đại.
Nhận thức được tầm quan trọng của luật pháp,
từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã đề cập đến vai trò
của chúng trong điều hành và quản lý xã hội.
- Phân tích bản yêu sách của nhân dân An Nam
( Hồ Chí Minh) trong hội nghị Véc-xây
Sau Cách mạng Tháng Tám, năm 1945, Hồ Chí Minh đề ra một trong
sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là:
Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Ngày 20/9/1945, Chủ tịch
lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ký Sắc lệnh thành lập Ban
dự thảo Hiến pháp gồm 7 thành viên do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm
trưởng ban. Bản dự thảo Hiến pháp hoàn thành khẩn trương và
nghiêm túc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chủ tịch. Đó là bản hiến
pháp đầu tiên của nước Việt Nam: Hiến pháp năm 1946. Trong phiên
họp Quốc hội thông qua hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát
biểu: “… Hiến pháp đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các
dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai
cấp”. Và nhấn mạnh rằng: “Chính phủ cố gắng làm theo đúng 3 chính
sách: dân sinh, dân quyền và dân tộc”.
Sau năm 1954, khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước
đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhiều quy định trong Hiến pháp năm 1946
không còn phù hợp, Hồ Chí Minh đã chủ trương sửa đổi và ban hành Hiến pháp
đến nay của Đảng và nhân dân ta là quá trình không
ngừng vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong
cách mạng Việt Nam. Đó cũng là quá trình không ngừng
tổng kết thực tiễn, bao gồm các tư tưởng tích cực, tiến bộ
về nhà nước pháp quyền, tổ chức nhà nước và kinh
nghiệm áp dụng các học thuyết đó của các nước trên thế
giới để đưa vào thử nghiệm và từng bước xây dựng, hoàn
thiện ở Việt Nam. Là quá trình tìm tòi, nghiên cứu, tiếp
thu có chọn lọc, không sao chép, rập khuôn, giáo điều mà
luôn luôn sáng tạo để xây dựng chủ nghĩa xã hội thành
công trong hiện thực.