TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
-------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài
DẠY HỌC GÂY HỨNG THÚ TRONG RÈN LUYỆN
VÀ PHÁT TRIỂN TƯ DUY THUẬT TOÁN CHO HS
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Giảng viên hướng dẫn:
Ths. Nguyễn Chí Trung
Sinh viên:
Vũ Thị Kiều Anh
Lớp :
K61A
Mã sinh viên:
615102002
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và
sâu sắc đến Th.S Nguyễn Chí Trung – người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ, dạy bảo
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Hà Nội, ngày…..tháng…..năm 2015
Chữ kí của GVHD
NHẬN XÉT
( Của giảng viên phản biện )
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Hà Nội, ngày…..tháng…..năm 2015
Chữ kí của GVPB
DANH MỤC VIẾT TẮT
VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Không thể phủ rằng được một số lĩnh vực của Tin học mang lại cho nhiều tầng lớp,
thành phần trong xã hội (trong đó có HS) những điều hết sức hấp dẫn và thú vị, ví dụ
như các bộ phim hay, các bản nhạc nổi tiếng đăng tải trên Internet, hoặc những trang
mạng xã hội cho phép giao lưu với bạn bè ở khắp nơi, không phụ thuộc vào khoảng
cách và thời gian. Tuy nhiên, giáo dục tin học ở trường phổ thông không chỉ đơn giản là
dừng lại ở việc cho HS hiểu biết những ứng dụng phổ biến nói trên, mà còn nhằm hình
thành và phát triển được nền tảng tư duy của HS trong thời đại mới, bao gồm nhóm kiến
thức, kĩ năng cơ bản của tin học; nhóm các kĩ năng tư duy và nhóm các phẩm chất nhân
cách và đạo đức. Trong đó, các kĩ năng tư duy có thể kể đến như biết cách suy luận,
phát hiện, giải quyết vấn đề, biết cách học, cách tự học, có tư duy sáng tạo, ...
Thông qua dạy kiến thức và kỹ năng để đạt được mục tiêu là hình thành và phát
triển năng lực tư duy - trí tuệ của HS, thông qua việc dạy và học tư duy, chúng ta sẽ tạo
được nền móng trí tuệ - cách suy nghĩ để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn sau này
cho mỗi HS khi bước vào đời. Vậy, mục tiêu quan trọng bậc nhất của quá trình dạy và
học các môn học nói chung, dạy và học môn tin học nói riêng là giúp cho HS phát triển
được tư duy. Chính vì thế, mục tiêu giáo dục Tin học được nêu rất rõ trong (SGV Tin
học 10, 2006) là “nhằm cung cấp cho HS những kiến thức phổ thông về ngành khoa học
tin học, hình thành và phát triển khả năng tư duy thuật toán, năng lực sử dụng các
thành tựu của ngành khoa học này trong học tập và trong các lĩnh vực hoạt động của
mình sau này"
Môn Tin học đã được giảng dạy trong trường phổ thông từ thập kỷ 90 dưới hình
thức là môn học tự chọn hoặc môn học phân ban. Đến tháng 5 năm 2006, Tin học đã trở
thành một trong các môn học chính thức trong trường phổ thông như các môn văn hóa
khác, với một khung chương trình hoàn chỉnh và bộ sách giáo khoa, sách giáo viên và
sách bài tập chuẩn đi kèm. Mục tiêu chung của môn Tin học ở bậc phổ thông là “nhằm
thông và dạy học để phát triển tư duy thuật toán cho HS
6. Cấu trúc khóa luận
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, và phụ lục, khóa luận gồm
được trình bày các nội dung nghiên cứu trong 3 chương sau đây:
Chương I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của phương pháp dạy học gây hứng thú trong rèn
luyện tư duy thuật toán cho HS THPT
Chương này trình bày một số khái niệm cơ bản về hứng thú, hứng thú học tập, cũng
như các xu hướng dạy học gây hứng thú đồng thời trình bày một số khái niệm tư duy
thuật toán, tác nhân và các biểu hiện của sự phát triển tư duy thuật toán, các cấp độ của
tư duy thuật toán.
Chương II: Dạy học gây hứng thú trong rèn luyện phát triển tư duy thuật toán
Chương này đề nghị một giải pháp thực hiện dạy học gây hứng thú trong dạy học
thuật toán nhằm rèn luyện và bồi dưỡng duy thuật toán cho HS ở trường trung học phổ
thông.
Chương III. Thực nghiệm sư phạm
Chương thực nghiệm sư phạm sẽ mô tả quá trình thử nghiệm PPDH đã nghiên cứu
trên một bài dạy cụ thể giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Kết quả thực nghiệm
được phân tích để từ đó rút ra các nhận xét và định hướng phát triển tiếp theo.
NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHƯƠNG PHÁP GÂY
HỨNG THÚ TRONG RÈN LUYỆN TƯ DUY THUẬT TOÁN
1.1.
TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC GÂY HỨNG THÚ
1.1.1 Khái niệm chung về hứng thú
Hứng thú là một khái niệm trong Tâm lý học, trên thế giới cũng như trong nước
thú về một cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, ta hiểu ý nghĩa của nó đối
với cuộc sống của ta. Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối với nó, do đó
hứng thú lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó tạo ra tâm lý khát khao tiếp
cận đi sâu vào nó.
Khóa luận đồng tình với quan điểm của nhóm tác giả Phạm Minh Hạc – Lê Khanh –
Trần Trọng Thủy.
1.1.2. Vai trò của hứng thú trong học tập
Khẳng định vai trò của hứng thú, B.M.Teplov đã nhấn mạnh: “Hứng thú là động lực
thúc đẩy mạnh mẽ nhất đối với việc năm bắt tri thức, đối với việc mở rộng tầm hiểu biết
của con người và làm giàu nội dung đời sống tâm lý của họ. Sự thiếu hay nghèo nàn
hứng thú sẽ làm cho đời sống con người xoàng kém, trống rỗng. Đối với những con
người như thế, cảm xúc đặc trưng nhất là sự buồn chán”. Thái độ học tập quyết định
lớn đến kết quả học tập, HS có hứng thú học tập thì việc nắm bắt kiến thức trở nên nhẹ
nhàng hơn, tích cực hơn và đạt hiệu quả hơn so với những HS học tập không có hứng
thú.
L.X Vưgốtxki, R.E.LêVin còn cho rằng, trong quá trình phát triển của tâm lý, hứng
thú nâng cao hoạt động tư duy, chính trong quá trình dạy học, hứng thú tạo nên độ bền
và chiều sâu của tri thức. Nhứng tri thức nắm bắt được nhờ hứng thú thường được nhớ
lâu (có độ bền) và hiểu kỹ (chiều sâu) hơn, dễ dàng tái hiện lại và thường có tính khái
quát cao.
Hứng thú có vai trò tác động tới việc nắm bắt kiến thức và nâng cao hoạt động tư
duy, nó có mối quan hệ mật thiết với năng lực, D.Bauman, S.Bavnaep,
V.B.Bondarepxki đã xác nhận, hứng thú làm giảm mệt mỏi, tăng sự chú ý, nâng cao
tính tích cực của HS trong quá trình học.
M.goocki nói “Nếu con người yêu thích công việc của mình, thì dù việc ấy là đơn
giản, cũng có thể trở thành sáng tạo” .Hứng thú đưa người học tới việc áp dụng tốt hơn
tri thức vào cuộc sống một cách thông minh, linh hoạt.
A.N. Lêônchép đã viết “Hứng thú như một mô hình có cấu tạo các thuật toán kích
-
HS khao khát tự nguyện tham gia trả lời câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả
lời của bạn trong lớp, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề đưa ra.
-
HS hay nêu thắc mắc, muốn được giải thích cặn kẽ những vấn đề mà HS cho
rằng GV chưa trình bày đủ rõ ràng.
-
HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã học để nhận
thức vấn đề mới.
-
HS mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới lấy từ
những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi bài học, môn học.
Ví dụ:
Với biểu hiện HS hay nêu thắc mắc, muốn được giải thích, trong giờ dạy thuật toán
với thuật toán tìm UCLN của hai số nguyên dương. HS chủ động nêu ra thắc mắc với
GV: Tại sao không tìm tất cả các ước của 2 số rồi so sánh với nhau? Vì HS gặp sự khác
biệt giữa cách giải quyết vấn đề này trong Toán học khác với thuật toán được học.
Với biểu hiện HS chủ động vận dụng linh hoạt, trong giờ dạy thuật toán, GV nêu
yêu cầu tối giản phân số, HS có thể vận dụng được thuật toán tìm UCLN thực hiện 1
bước của hoạt động tối giản.
thảo luận chính thức).
+ Ham thích các hoạt động học tập có tính chất khó hơn (tòm tòi sáng tạo) chứ
không dễ quá (lặp lại, thực hành)
+ Độc lập trong việc nắm vững các kỹ năng cần thiết để đạt được kết quả cần thiết.
+ Tích cực, độc lập tìm tòi trong việc bổ sung kiến thực về lĩnh vực mà mình yêu
thích.
+ Đọc nhiều và muốn mở rộng tầm hiểu biết của mình nhờ độc lập lựa chọn cách
sách cần thiết
+ Muốn dùng thời gian rảnh rỗi để học các môn yêu thích
+ Tích cực tham gia vào các công việc tự nguyện với môn học cũng như tham gia
vào các nhóm và tập thể tự chọn trong nhà trường, trong câu lạc bộ thiếu niên và
HS, trong cung thiếu niên
Nhóm 2: HS với mức độ phát triển hứng thú học tập trung bình:
+ Biểu lộ thái độ lựa chọn một số môn học nhất định (hoặc một số môn)
+ Tích cực tương quan với các kích thích của giáo viên, chứ không biểu lộ tính tích
cực cần thiết theo sáng kiến của mình (những con người lãnh đạm)
+ Cũng thích các hoạt động có tính chất tìm tòi, nhưng không phải bao giờ cũng có
xu hướng hoàn thành các bài tập với tính chất sáng tạo.
+ Đôi khi (không thường xuyên) dành thời gian rảnh rỗi của mình để nghiên cứu
môn học yêu thích, nhưng ở đây cũng cần phải có các thúc đầy liên tục từ bên
ngoài (thầy giáo, cha mẹ và tập thể)
+ Ở các em HS này, hoạt động độc lập có vị trí là để mở rộng tầm hiểu biết và nắm
phương pháp học tập mới về lĩnh vực mình yêu thíc, nhưng không phải là có hệ
thống mà là từng thời kỳ và ở đây cần một lực kích thích từ bên ngoài nhằm thúc
đẩy hứng thú bởi vì kích thích bên trong không đủ mạnh và vững chắc.
Nhóm 3: HS có hứng thú học tập yếu, không sâu và thường thường là không
bền vững (mức độ phát triển hứng thú học tập thấp):
+ Hứng thú không có hoặc là không bắt nguồn từ các tổ chức tâm lý các và không
nghiên cứu sách của các em HS này không cố định, chọn sách moọt cách tùy tiện (ngẫu
nhiên) (thích sách nào thì đọc sách đó, gặp cuốn nào cũng đọc). Các em thường do dự
khi tham gia vào các công việc ngoài lớp hoặc ngoài nhà trường, nhưng cũng nhanh
chóng nguội lạnh đi đối với các em.
Nhóm HS ghép này rốt cuộc là bị yếu đi, hoặc là trong nhóm thiếu hứng thú học tập,
hoặc là trong nhóm, hứng thú học tập phát triển với mức độ trung bình, phụ thuộc vào
xu hướng có liên quan đến vùng phát triển lan cần của HS. Chúng hướng tới sự tìm tòi
hoặc chỉ hướng đến hành động dập khuôn; nguyện vong muốn tìm hiểu biệt sâu sắc và
đầy đủ hơn hoặc coi “thích thú ” học tập là một nhiệm vụ nặng nề.
Quan đây, có thể nói, đối tượngng số 1 là đối tượng HS lý tưởng đối với GV. Tuy
nhiên, môi trường lý tưởng này khó đạt được trong thực tế. Vì vậy, qua sự phân chia các
nhóm HS, tác giả kỳ vọng GV có thể xác định được các đường lối công tác của giáo
viên với từng nhóm HS như sau:
a)
Cần phải có sự thích ứng đối với nhóm HS loại 1, vì rằng hứng thú của
các em phát triển ở mức độ cao, sự phát triển này tương quan với phạm vi phong phú
với trình độ hiểu biết cao, đòi hỏi sự củng cố và phát triển trình độ, làm sâu sắc kiến
thức của các em. Đối với các em HS này, việc vượt qua giới hạn của chương trình,
hướng vào khoa học cao hơn với sự vận dụng tối đa và hoàn thiện tính tích cực. Làm
việc với nhóm HS này, địa vị của người giáo viên làm phong phú thêm kiến thức đã
tiếp thu được trong quá trình học tập
b)
Đối với các em có mức phát triển hứng thú học tập trung bình chiếm ưu
thể thì phần nhiều đòi hỏi sự kích thích từ bên ngoài, vì rằng hứng thú của các em này
chưa đủ mạnh, sâu sắc và bền vững. Tính tích cực của nhận thức của các em HS này
không được mạnh đến mức có thể hi vọng sự biểu hiện của nó. Trong kế hoạch công tác
tập, ý thức rõ về nhiệm vụ học tập, thường xuyên tự giác làm thêm, tìm hiểu các nội
dung kiến thức có liên quan, đem ứng dụng vào đời sống chính là thành công của giờ
dạy.
Như vậy, dạy học gây hứng thú có thể đạt được bằng cách chỉ ra những tiêu chí sau
đây để giáo dục từ môn học. Những nội dung này bao gồm
(1) Giúp HS hiểu được ý nghĩa, vai trò của môn học thông qua nhiều ví dụ minh họa
sinh động và gắn với thực tiễn.
(2) Giúp HS hiểu được ý nghĩa và ứng dụng của từng nội dung, chủ đề của kiến
thức; cung cấp cho HS các ví dụ minh họa về những ứng dụng này trong thực tế
của cuộc sống.
(3) Tạo ra một môi trường hoặc không khí mà trong đó HS bộc lộ những dấu hiệu
của sự hứng thú học tập.
Ví dụ 1, khi dạy bài 1 SGK Tin học 10 “Tin học là một ngành khoa học”, người GV cần
đưa ra càng nhiều càng phong phú về các ứng dụng của Tin học trong tất cả các lĩnh vực
của cuộc sống và những minh chứng nói về sự phát triển nhanh chóng, cần thiết của Tin
học thông qua khai thác, định hướng sự hiểu biết của HS. Qua đó HS tự nhận thấy được
vai trò của môn Tin học trong cuộc sống xã hội.
Ví dụ 2: Đối với dạy học chủ đề thuật toán, GV đưa ra những thuật toán được vận dụng
trong các lĩnh vực khác của khoa học xã hội như thuật toán tìm UCLN được vận dụng
trong kỹ thuật mã hóa khóa công khai SRA.
1.1.4.2. Kỹ thuật dạy học gây hứng thú của Bonwell
Trong quá trình học tập, nhóm tác giả của Bonwell đã đưa ra một số kĩ thuật giảng
dạy tích cực để tạo ra sự hứng thú và tăng cường việc học cho HS, bao gồm:
(1) Đặt câu hỏi có chủ ý;
(2) Sử dụng hình thức thuyết trình trong dạy học;
(3) Mời diễn giả;
(4) Sử dụng video – chi tiết minh họa;
(5) Kết nối nội dung bài học với các sự kiện hiện tại;
nào đó.
(2) Tình huống sư phạm (Didactical situation) là tình huống mà trong đó có sự thiết kế
việc tổ chức dạy học một cách rõ ràng để cuốn hút người học học một kiến thức nào đó..