Tiểu luận biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án - Pdf 37

Học viện Tư Ph¸p
2012

Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m

LỜI NÓI ĐẦU
Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và tăng cường pháp chế Xã
hội chủ nghĩa, ngoài chức năng của Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án thì
Cơ quan Thi hành án giữ một vai trò đặc biệt trong quá trình tố tụng. Mọi phán
quyết của Tòa án chỉ là những quyết định trên giấy và không thể phát huy trên
thực tế nếu không được thi hành đầy đủ và hiệu quả trong quá trình thi hành án.
Trong quá trình thi hành án thì Cơ quan Thi hành án phải sử dụng biện pháp
cưỡng chế là không thể tránh khỏi. Tuy biện pháp cưỡng chế không phải là lựa
chọn đầu tiên được áp dụng trong hoạt động thi hành án nhưng lại có vai trò rất
quan trọng. Trong các nghĩa vụ phải thi hành án thì thi hành nghĩa vụ trả tiền
phổ biến nhất, đồng nghĩa với đó là có nhiều biện pháp cưỡng chế thi hành
nghĩa vụ trả tiền. Điều đó được thể hiện tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự
năm 2008 quy định 06 biện pháp cưỡng chế thì có đến 04 biện pháp cưỡng chế
thi hành nghĩa vụ trả tiền. Chính vì lý do đó mà học viên chọn đề tài "Cưỡng
chế khấu trừ vào thu nhập của người phải thi hành án" để làm tiểu luận nghiên
cứu của khóa học.
Hoạt động thi hành án mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giữ
gìn kỷ cương phép nước, củng cố trật tự pháp luật, bảo vệ vững chắc pháp chế
Xã hội chủ nghĩa và đảm bảo quyền lực Tư pháp được thi hành trên thực tế.
Trong đó cưỡng chế thi hành án là một biện pháp nghiêm khắc được Chấp hành
viên áp dụng trong quá trình thi hành án. Điều đó thể hiện việc Cơ quan Thi
hành án, Chấp hành viên sử dụng quyền lực Nhà nước để buộc người phải thi
hành án thi hành nghĩa vụ mà Bản án, quyết định mà Tòa án đã có hiệu lực. Để
góp phần xây dựng pháp chế Xã hội chủ nghĩa, đảm bảo mọi Bản án, quyết định
có hiệu lực pháp luật của Tòa án được thi hành trên thực tế thì phải được các
Cơ quan, cá nhân, tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh.

cứu lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp...Trên cơ sở đó
để làm rõ cơ sở lý luận của biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người
phải thi hành án, nhằm nhận thức đúng đắn hơn về biện pháp cưỡng chế này.
Trên cơ sở nghiên cứu, từ đó tìm ra những vướng mắc trong quá trình áp dụng
pháp luật về biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
Kết cấu của tiểu luận gồm:
- Lời nói đầu.
- Phần nội dung gồm có
I. Khái quát chung về hoạt động thi hành án dân sự;
II. Biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án theo
quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
III. Thuận lợi và khó khăn của biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của
người phải thi hành án trong thực tiễn;
IV. Bài học kinh nghiệm trong cưỡng chế trừ vào thu nhập của người
phải thi hành án.
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp

2

Học viên: Giáp Văn Thịnh


Học viện Tư Ph¸p
2012

Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m

- Phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng nhưng vì kiến thức của học viên
còn hạn chế nên tiểu luận không thể tránh khỏi những sai sót. Rất mong sự góp

cuc sng. Hot ng thi hnh ỏn dõn s trờn thc t khụng tỏch ri quy trỡnh t
tng, ng thi C quan Thi hnh ỏn dõn s luụn gn vi cỏc c quan tin hnh
t tng. Hot ng thi hnh ỏn dõn s c thc hin thụng qua b mỏy c bit
thuc h thng c quan hnh phỏp v da vo cỏc c quan hnh phỏp thc
hin chc nng ca mỡnh, c bit trong hot ng cng ch.
Vy, C quan Thi hnh ỏn dõn s l: C quan Nh nc cú nhim v trc
tip t chc thi hnh cỏc Bn ỏn, Quyt nh cú hiu lc thi hnh theo trỡnh t,
th tc ca phỏp lut Thi hnh ỏn dõn s.
2. Thi hnh ỏn dõn s cú mt s c im sau
Th nht: Thi hnh ỏn dõn s l hot ng mang tớnh quyn lc Nh
nc: Trong ú bao gm nhiu hot ng ca nhiu ch th khỏc nhau thc
hin. Nờn ũi hi s huy ng lc lng khụng ch cỏc c quan hnh chớnh nh
nc m c cỏc c quan t phỏp v b tr t phỏp. Do ú, vic thc hin quyn
lc nh nc hot ng ny l s phi hp gia quyn hnh phỏp v quyn t
phỏp.
Th hai: Thi hnh ỏn dõn s l hot ng cú mc ớch: ú l vic hin
thc hoỏ ý chớ ca Nh nc thụng qua Bn ỏn, quyt nh ca To ỏn v mt
Tiểu luận Cỡng chế khấu trừ thu nhập

4

Hc viờn: Giỏp Vn Thnh


Học viện Tư Ph¸p
2012

Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m

vụ việc dân sự cụ thể vào thực tiễn cuộc sống được quy định tại khoản 2 Điều


5

Học viên: Giáp Văn Thịnh


Học viện Tư Ph¸p
2012

Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m

nhân và tổ chức có liên quan phải thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh,
thống nhất và tự giác. Bản án và quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật
phải được tôn trọng thực hiện.
Thứ ba: Nguyên tắc nhân đạo và công bằng
Hoạt động thi hành án dân sự phải được đặt dưới một yêu cầu cơ bản đó
là đảm bảo duy trì tính nhân đạo. Luật Thi hành án không cho phép sử dụng các
biện pháp cưỡng chế kê biên đối với những đương sự đang có những hoàn cảnh
về sức khoẻ, đối tượng chính sách và đặc biệt là về tuổi tác. Không tiến hành kê
biên tài sản với các loại tài sản mà pháp luật không cho kê biên được quy định
tại Điều 87 Luật Thi hành án như: Lượng thực, thuốc men cần thiết, công cụ lao
động và đồ dùng sinh hoạt thông thường của người phải thi hành án. Hơn thế
nữa, nguyên tắc nhân đạo và công bằng cũng không cho phép hoạt động thi
hành án tiến hành khi các đương sự còn có khả năng thoả thuận với nhau. Nhân
đạo và công bằng cũng đòi hỏi hoạt động thi hành án phải khuyến khích được
sự tự nguyện của người phải thi hành án.
Thứ tư: Nguyên tắc tôn trọng và đảm bảo quyền tự do cơ bản của con
người và công dân
Đó là tôn trọng danh dự, nhân phẩm và quyền tự do của cả người phải và
người được thi hành án cũng như của những cá nhân, tổ chức có liên quan. Hoạt

là có hiệu lực pháp luật và có giá trị thi hành. Tuy nhiên, có một phần dân sự
trong Bản hình sự, quyêt định về dân sự có được đưa ra thi hành không lại phụ
thuộc chủ yếu và ý chí của người được thi hành án. Trong trường hợp này, Cơ
quan Thi hành án đều phải căn cứ vào đơn yêu cầu của người được thi hành án
để ban hành quyết định thi hành án. Nếu người được thi hành án không có yêu
cầu hoặc quá thời hạn yêu cầu mới yêu cầu thi hành án thì Cơ quan Thi hành án
không có trách nhiệm thi hành. Như vậy, hoạt động của Cơ quan Thi hành án
luôn phụ thuộc nhiều vào ý chí, sự lựa chọn và cách xử sự của đương sự.
4. Khái niệm, nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thi
hành án
Bản án, Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật có được thi hành
nghiêm chỉnh, dứt điểm hay không, kỷ cương, pháp luật có được tôn trọng, lợi
ích hợp pháp của Nhà nước, của tập thể, của các tổ chức xã hội và mọi công dân
có được đảm bảo hay không phụ thuộc nhiều vào kết quả của việc thi hành án.
Không có cưỡng chế thi hành án dân sự, một số lượng không nhỏ Bản án, Quyết
định chỉ của Tòa án có hiệu lực không được thi hành trên thực tế, vì nhiều
trường hợp đương sự có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện, cố tình
trốn tránh, chây ỳ nghĩa vụ thi hành án.
4.1. Khái niệm cưỡng chế thi hành án
Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng chế bắt buộc do Chấp
hành viên quyết định áp dụng theo thẩm quyền nhằm buộc đương sự (người
phải thi hành án) phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo
Bản án, Quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp

7

Học viên: Giáp Văn Thịnh



tài sản để áp dụng biện pháp cưỡng chế. Tuy nhiên nguyên tắc này cũng có
ngoại lệ là người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều
nghĩa vụ phải thi hành án hoặc tài sản không thể phân chia, thì Chấp hành viên
vẫn có quyền cưỡng chế đối với tài sản đó. Hoặc có tài sản nhưng tài
santvnhor không đủ chi phí mà chỉ có tài sản duy nhất là nguồn thu nhập từ
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp

8

Học viên: Giáp Văn Thịnh


Hc vin T Pháp
2012

Lp Chp hnh viên Khóa 12 năm

tin lng, tin cụng, tin lng hu hoc tr cp mt sc lao ng v cỏc thu
nhp hp phỏp khỏc.
- Khụng c t chc cng ch thi hnh ỏn trong thi gian m lut
cm.
vic cng ch khụng nh hng ti trt t cụng cng, chớnh tr ti
a phng v vỡ mc ớch nhõn o, tụn trng phong tc truyn thng tt p
ca dõn tc. iu ú c th hin ti khon 2 iu 8 Ngh nh s:
58/2009/N-CP quy nh "Ngoi nhng trng hp do Lut Thi hnh ỏn quy
nh, C quan Thi hnh ỏn dõn s khụng c t chc cng ch thi hnh ỏn
cú huy ng lc lng trong thi gian 15 ngy trc v sau tt Nguyờn ỏn,
cỏc ngy truyn thng i vi cỏc i tng chớnh sỏch, nu h l ngi phi
thi hnh ỏn".
II. BIN PHP CNG CH trừ vào thu nhập của ngời

hình thành trong tương lai.
Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiển có những đặc điểm riêng
như sau:
- Người phải thi hành án theo bản án, quyết định có nghĩa vụ phải trả
tiền. Nghĩa vụ trả tiền được xác lập bởi bản án, quyết định có hiệu lực thi hành
và việc áp dụng biện pháp cưỡng chế là để thực hiện những nghĩa vụ trả tiền.
- Đối tượng mà biện pháp cưỡng chế tác động là tiền, tài sản thuộc sở
hữu hợp pháp của người phải thi hành án.
- Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án nghĩa vụ trả tiền phải
đảm bảo nguyên tắc tương ứng với nghĩa vụ thi hành án của người phải thi
hành án theo bản án, quyết định.
Các đặc điểm đó được thể hiện tại Điều 8 Nghị định số: 58/2009/NĐ-CP
quy định “Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương
ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết”.
2. Biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành
án
Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là một trong sáu biện pháp
cưỡng chế được quy định tại khoản 2 Điều 71 và được cụ thể hóa tại Điều 78
Luật Thi hành án. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là việc Chấp
hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, bảo hiểm xã hội
nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ
cấp mất sức lao động và các thu nhập hợp pháp khác chuyển cho Cơ quan Thi
hành án hoặc người được thi hành án một phần hay toàn bộ thu nhập của
người phải thi hành án để thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo Bản án, Quyết định
của Tòa án, Cơ quan có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật. Việc áp dụng
biện pháp này được xác định khi người phải thi hành án có thu nhập tương đối
ổn định và không tự nguyện.
2.1. Điều kiện áp dụng
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp


xã, mà người phải thi hành án được nhận từ một tổ chức, cá nhân quản lý thu
nhập đó.
Việc quy định cụ thể các điều riêng của biện pháp cưỡng chế này là do
tính đặc thù của nó. Vì hậu quả pháp lý của biện pháp cưỡng chế này có thể
gây ảnh hưởng lớn tới bản thân người phải thi hành án và gia đình của họ. Do
khi thu nhập của người phải thi hành án bị giảm, do đó cuộc sống hàng ngày sẽ
bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Vì vậy, khoản 3 Điều 78 Luật Thi hành án đã quy
định mức cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ
cấp mất sức lao động là 30% tổng số tiền người phải thi hành án được nhận
hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. Đối với thu nhập
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp

11

Học viên: Giáp Văn Thịnh


Học viện Tư Ph¸p
2012

Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m

khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án,
nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được
nuôi dưỡng. Việc xác định mức sinh hoạt tối thiểu của người phải thi hành án
và người mà người đó có nghĩa vụ nuôi dưỡng, được căn cứ vào điều kiện cụ
thể từng địa phương nơi họ sinh sống và được quy định cụ thể tại khoản 2
Điều 13, Điều 32 Nghị định số: 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính
phủ. Thu nhập của người phải thi hành án được Luật Thi hành án dân sự quy
định bao gồm: tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao

Học viện Tư Ph¸p
2012

Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m

- Đối với thu nhập hợp pháp khác mà không phải là tiền lương, tiền
công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động thì mức khấu trừ có thể
không bắt buộc phải thấp hơn hoăc bằng 30% thu nhập hàng tháng, tuy nhiên
mức trừ cần căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án, nhưng
phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu cho người phải thi hành án và người
được nuôi dưỡng.
+ Việc chỉ xác định được thời gian bất đầu khấu trừ chứ không xác định
được thời gian kết thúc, vì việc tổ chức cưỡng chế kéo dài trong một khoảng
thời gian nhất định, theo phương thức trừ nhiều lần.
Thủ tục áp dụng biện pháp này khá đơn giản, sau khi có đủ căn cứ xác
định các điều kiện chung và riêng được thỏa mãn, Chấp hành viên ban hành
quyết định trừ vào thu nhập và gửi cho đương sự và cơ quan tổ chức, cá nhân
chi trả thu nhập của người phải thi hành án. Cơ quan, tổ chức, người sử dụng
lao động, Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm thi hành quyết định của Chấp hành
viên.
Trong biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền, chỉ có duy nhất
biện pháp cưỡng chế này là quyết định cưỡng chế có hiệu lực áp dụng nhiều
lần. Ví dụ: Để thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng, Chấp hành viên ban hành quyết
định cưỡng chế khấu trừ vào thu nhập và người sử dụng lao động phải khấu
trừ tiền lương hàng tháng của người phải thi hành án để chuyển tiền cho Cơ
quan Thi hành án.
Như vậy, quyết định cưỡng chế có hiệu lực rất dài, có thể lên tới 5, 6
năm hoặc lâu hơn nữa. Quyết định chỉ chấm dứt hiệu lực khi nghĩa vụ đã được
thi hành xong hoặc nguồn thu nhập của người phải thi hành án bị chấm dứt.
2.3. Các loại thu nhập của người phải thi hành án

hành án dân sự.
+ Tiền lương
Tiền lương là khoản tiền trả cho cán bộ, công chức làm việc trong các Cơ
quan hành chính Nhà nước, các tổ chức chính trị và chính trị xã hội, được trả từ
ngân sách nhà nước, trả qua hệ thống kế toán tài vụ của cơ quan, tổ chức nơi
cán bộ, công chức đó làm việc. Lương, bảng lương, hệ số lương... đều được thể
hiện rõ trên sổ sách kế toán của cơ quan. Theo quy định của pháp luật hiện
hành, thông thường cứ ba năm cán bộ, công chức sẽ được nâng lương một lần
theo ngạch mà công chức, cán bộ đó đang được hưởng. Như vậy, mức lương sẽ
được tăng lên theo thời gian hoặc khi Nhà nước tăng lương tối thiểu. Ngoài mức
lương chính cán bộ, công chức còn có thể có phụ cấp, chẳng hạn như phụ cấp
chức vụ, phụ cấp nghề nghiệp, phụ cấp vùng miền...
+ Tiền lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động
Tiền lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động là khoản tiền trả cho cán
bộ, công chức đã làm việc trong các Cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị và
chính trị xã hội sau khi đã đủ năm công tác và đã đủ tuổi nghỉ hưu hoặc theo
quy định của pháp luật họ được hưởng theo chế độ hưu trí hoặc mất sức lao
động. Khoản tiền này được nhận từ nguồn ngân sách Nhà nước. Thông thường
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp

14

Học viên: Giáp Văn Thịnh


Học viện Tư Ph¸p
2012

Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m


kiến thiết… nhưng những nguồn thu nhập này Chấp hành viên không được áp
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp

15

Học viên: Giáp Văn Thịnh


Học viện Tư Ph¸p
2012

Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m

dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án mà phải
lựa chọn biện pháp cưỡng chế khác vì đây là những khoản thu nhập không
thường xuyên của người phải thi hành án.
3. Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ thu nhập
của người phải thi hành án
3.1. Xác minh điều kiện thi hành án .
Sau khi được phân công tổ chức thi hành quyết định thi hành án có
khoản phải trả tiền, Chấp hành viên trước tiên phải tiến hành các thủ tục cần
thiết và vận dụng các hiểu biết về pháp luật, đương sự cũng như phối hợp với
toàn thể hệ thống chính trị tại địa phương để vận động người phải thi hành án
tự nguyện thi hành. Sau khi việc giáo dục, thuyết phục người phải thi hành án
tự nguyện không có kết quả, Chấp hành viên phải tiến hành xác minh điều
kiện của người phải thi hành án. Xác minh trong thi hành án dân sự là hoạt
động không thể thiếu trong các hoạt động chuyên môn thi hành án. Mục đích
của xác minh là giải quyết hồ sơ thi hành án cho đúng pháp luật bảo đảm
quyền và nghĩa vụ của các bên. Đối với việc thi hành án trong trường hợp này
công tác xác minh cần áp dụng trong các trường hợp sau:

người phải thi hành án không có tài sản nào để thi hành án hoặc có tài sản
nhưng tài sản đó có giá trị nhỏ không đủ để thi hành án và người phải thi hành
án phải có thu nhập thường xuyên.
Để áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi
hành án, Chấp hành viên phải trực tiếp tiến hành xác minh điều kiện thi hành án
của người phải thi hành án. Khi xác minh về thu nhập của người phải thi hành
án, Chấp hành viên cần tập trung vào một số nội dung chính sau: Tổng số tiền
thu nhập hàng tháng là bao nhiêu? Ai là người đang trực tiếp quản lý các nguồn
thu nhập đó? Thời gian mà người phải thi hành án được nhận các khoản thu
nhập đó?
Việc xác minh thu nhập của người phải thi hành án do Chấp hành viên
tiến hành trực tiếp tại nơi người phải thi hành án làm việc (cơ quan, tổ chức, xí
nghiệp...) hoặc nơi sinh sống, cư trú, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của người
phải thi hành án (Ủy ban nhân dân cấp xã, Bảo hiểm xã hội cấp huyện nơi người
phải thi hành án cư trú hoặc có hộ khẩu thường trú). Chấp hành viên cũng có thể
xác minh bằng hình thức gửi văn bản yêu cầu Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang
quản lý thu nhập của người phải thi hành án cung cấp các thông tin cần thiết
liên quan đến thu nhập của người phải thi hành án. Văn bản trả lời của cơ quan,
tổ chức, xí nghiệp, cá nhân đang quản lý thu nhập của người phải thi hành án có
giá trị pháp lý và là cơ sở để Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ
vào thu nhập của người phải thi hành án.
Khi tiến hành xác minh tại Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý thu
nhập của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải trực tiếp gặp những
người có trách nhiệm như: Thủ trưởng cơ quan, kế toán trưởng… để xác minh
thu nhập của người phải thi hành án. Kết thúc việc xác minh, Chấp hành viên
phải lập biên bản xác minh có đầy đủ chữ ký của người cung cấp thông tin và
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp

17


định hoãn thi hành án theo điểm c khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự nếu
là khoản nộp ngân sách Nhà nước.
Trường hợp xác định người phải thi hành án có thu nhập và mức thu nhập
đó có thể khấu trừ để thi hành án, thì Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế
bằng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án và tiến hành thực
hiện quyết định đó.
3.2. Ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp

18

Học viên: Giáp Văn Thịnh


Học viện Tư Ph¸p
2012

Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m

Nội dung quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án thi hành
án, Chấp hành viên phải đúng biểu mẫu được quy định tại thông tư số:
09/2011/TT-BTP ngày 30 tháng 5 năm 2011 của Bộ Tư pháp về việc ban hành
và hướng dẫn việc quản lý, sử dụng các loại biểu mẫu nghiệp vụ thi hành án dân
sự.
Quyết định gồm những nội dung chính sau đây:
- Phần căn cứ ra quyết định: khoản 5 Điều 20, khoản 2 Điều 71, Điều 78
Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Bản án, Quyết định số, ngày, tháng, năm
của Tòa án nào; Quyết định thi hành án số, ngày, tháng, năm của Cục trưởng
hay Chi cục trưởng.


xác minh... nhưng do đặc thù của biện pháp cưỡng chế này thuộc loại cưỡng chế
không cần phải huy động lực lượng bảo vệ vì người phải thi hành án là người
không trực tiếp quản lý tài sản thi hành án. Mà tài sản thi hành án đang do
người thứ ba quản lý (có thể là Cơ quan Nhà nước, có thể là các tổ chức xã hội
hoặc chủ sử dụng lao động). Vì vậy, Chấp hành viên không nhất thiết phải xây
dựng kế hoạch cưỡng chế theo quy định tại Điều 72 Luật Thi hành án.
Việc thực hiện Quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi
hành án chính là việc tổ chức giao quyết định cưỡng chế cho cơ quan, tổ chức,
cá nhân đang quản lý thu nhập của người phải thi hành án và yêu cầu cơ quan,
tổ chức, cá nhân đó thực hiện quyết định khấu trừ tiền của người phải thi hành
án để thi hành. Việc giao Quyết định thường được tiến hành tại trụ sở của cơ
quan, tổ chức, cá nhân quản lý thu nhập của người phải thi hành án. Ngoài ra,
Quyết định này còn được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, người được
thi hành án, người phải thi hành án theo quy định tại Điều 38 và Điều 39 Luật
Thi hành án dân sự năm 2008.
Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội nơi
người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp
và các thu nhập hợp pháp khác khi nhận được Quyết định cưỡng chế trừ vào thu
nhập của Chấp hành viên phải có trách nhiệm thực hiện quyết định đó theo đúng
các nội dung của quyết định đó.
Tại khoản 4 Điều 78 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 không quy định
cụ thể mà chỉ quy định:
“Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người
phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các
thu nhập khác có trách nhiệm thực hiện các quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều
78 Luật Thi hành án dân sự”.
Tuy không quy định cụ thể về thời gian thực hiện quyết định, nhưng theo
quy định của Luật Thi hành án dân sự thì đã quy định trách nhiệm của các cơ
quan, tổ chức, người sử dụng lao động thực hiện đúng các nội dung trong quyết

Việc ban hành Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã tạo ra nhiều thuận
lợi trong áp dụng pháp luật và nâng cao vai trò của Chấp hành viên. Sau chặng
đường dài hình thành và phát triển ngành thi hành án cho đến khi có Luật Thi
hành án năm 2008 thì giải quyết việc thi hành án gặp không ít khó khăn, do
vướng mắc về thủ tục, do không có một văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao
là Luật. Luật thi hành án năm 2008 là công cụ đắc lực được Nhà nước trang bị
cho Cơ quan Thi hành án để chuyển hóa ý chí của Nhà nước cho việc đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ về dân sự. Và sau hơn 2
năm thực hiện Luật đã và đang được chuyển hóa vào cuộc sống, lần đầu chúng
ta có một văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất, điều chỉnh một lĩnh vực bức xúc
hiện nay, nhiều những quy định mới thay thế các quy định thiếu tính khả thi
trước đây, khắc phục được các tư duy lối mòn đặc biệt là thiếu chế tài đủ mạnh
để thi hành cho nên gây ra tình trạng tồn đọng án ngày càng tăng.
Mặc dù có nhiều thuận lợi nhưng quá trình thực hiện nhiệm vụ, Cơ quan
Thi hành án cũng gặp không ít khó khăn nhất là trong công tác phối hợp với các
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp

21

Học viên: Giáp Văn Thịnh


Học viện Tư Ph¸p
2012

Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m

cơ quan hữu quan. Sau đây là một số tình huống cụ thể về việc cưỡng chế thi
hành án khấu trừ vào thu nhập của người phải thi hành án trong thực tế.
Tình huống 1:


Học viên: Giáp Văn Thịnh


Học viện Tư Ph¸p
2012

Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m

Ngày 22/5/2010 Chấp hành viên ra Quyết định cưỡng chế " Khấu trừ thu
nhập của người phải thi hành án” số: 04/QĐ - CCTHA. Chấp hành viên đã
thông báo hợp lệ cho bà Hiệp và Bưu điện huyện Yên Thế để thực hiện việc
khấu trừ tiền lương của bà Hiệp số tiền 540.000 đồng/tháng kể từ ngày
01/6/2010.
Để đảm bảo thuận lợi cho việc phối hợp thi hành án, Chấp hành viên đề
nghị Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án ra Công văn đề nghị phối hợp thi hành án
gửi Bảo hiểm xã hội huyện Yên Thế. Ngày 27/5/2010 Chi cục trưởng Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Yên Thế có Công văn số: 101/CV- THA về việc phối
hợp thi hành án theo quy định của pháp luật. Sau khi Bảo hiểm xã hội huyện
Yên Thế làm việc với bà Hiệp và bà Hiệp đồng ý việc khấu trừ thu nhập của
mình để thi hành án và việc khấu trừ theo Quyết định được tiến hành thuận lợi
cho đến hôm nay.
Tình huống 2:
Theo bản án số hình sự sơ thẩm số: 75/2009/HSST ngày 12 tháng 5 năm
2009 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế thì ông Nguyễn Văn Vũ, trú tại bản
Trại Lốt, xã Tam Tiến, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang phải bồi thường cho chị
Trần Thị Dung, trú tại Đền Cô, xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
số tiền 11.200.000đồng.
Ngày 17/6/2009 bà Dung có đơn yêu cầu thi hành án gửi đên Chi cục thi
hành án Yên Thế, căn cứ vào đơn yêu cầu của bà Dung ngày 20/6/2009 Chi cục

nhưng không thực hiện việc khấu trừ tiền lương hưu hàng tháng của ông Vũ với
lý do phải chờ xin ý kiến chỉ đạo của Bảo hiểm xã hội tỉnh vì chưa có hướng
dẫn thống nhất của Bảo hiểm xã hội Việt Nam về vấn đề này.
Căn cứ vào các quy định tại Điều 11 và 177 Luật Thi hành án năm 2008
về việc phối hợp giữa Cơ quan hữu quan với Cơ quan Thi hành án, Chấp hành
viên trong công tác phối hợp thi hành án. Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Yên Thế đã ban hành công văn số: 42/CCTHA ngày 30/7/2009
gửi Bảo hiểm xã hội huyện Yên Thế. Đến ngày 30 tháng 12 năm 2010 Bảo
hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành Công văn số: 5847/BHXH-BC hướng dẫn
việc khấu trừ tiền lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng của người
hưởng để thi hành án dân sự. Căn cứ vào công văn trên Bảo hiểm xã hội huyện
Yên Thế đã thực hiện trừ vào thu nhập của ông Vũ theo quyết định của Cơ quan
Thi hành án để đảm bảo thi hành án.
Như vậy là hơn một năm sau việc khấu trừ mới được thực hiện vì lý do
trong việc phối hợp giữa các cơ quan còn gặp vướng mắc.
2. Thuận lợi và khó khăn của biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập
của người phải thi hành án trước khi có Luật Thi hành án năm 2008
Thực tiễn thi hành án dân sự thời gian qua cho thấy cơ quan thi hành án
dân sự gặp khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ
vào thu nhập của người phải thi hành án theo quy định của các văn bản pháp
luật về Thi hành án.
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp

24

Học viên: Giáp Văn Thịnh


Học viện Tư Ph¸p
2012

nhập của người phải thi hành án mà không thực hiện việc khấu trừ thu nhập
theo yêu cầu của Chấp hành viên.
Quy định mới của Luật Thi hành án dân sự về trách nhiệm của Bảo hiểm
xã hội trong thi hành án dân sự. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã dành hẳn
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp

25

Học viên: Giáp Văn Thịnh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status