MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NƯỚC MY
1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
2. Đặc điểm hệ thống chính tri
CHƯƠNG 2: VÀI NÉT VỀ ĐẢNG DÂN CHỦ MY
1. Khái quát về đảng dân chủ My
2. Quá trình hình thành và phát triển của Đảng Dân chủ My
3. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Đảng Dân chủ My
4. Nền tảng ý thức hệ và ý thức hệ của Đảng Dân chủ My
5. Biểu tượng của Đảng Dân chủ My
6. Danh sách các Tổng thống đắc cử của Đảng Dân chủ My
CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA ĐẢNG DÂN CHỦ MY
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nước My từ lâu đã hình thành cái gọi là chế độ đa đảng: Đảng Dân chủ và
Đảng Cộng hòa, đại biểu cho quyền lợi cuả những tư bản lũng đoạn lớn, thay
phiên nhau nắm chính quyền và là hai đảng đối lập hợp pháp. Đảng Dân chủ là
một trong hai đảng chính tri có ảnh hưởng nhất ở My, ra đời năm 1791. Mặc dù
trong thực tế, việc nghiên cứu về Đảng Dân chủ của My không phải là một vấn
đề mới, thậm chí là đã có rất nhiều người đã chọn đảng này để làm tiều luận hay
các công trình nghiên cứu. Tuy nhiên việc em chọn Đảng Dân chủ để làm bài
tiểu luận tìm hiểu về một đảng chính tri lớn và lâu đời trên thế giới trong khuôn
khổ môn Quyền lực chính tri và cầm quyền bởi vì:
Thứ nhất, hiện nay đảng này đang là đảng cầm quyền;
Thứ hai, là đảng chính thức trong hệ thống chính tri của một nước lớn trên
thế giới;
Thứ ba, Đảng Dân chủ là đảng được người dân My và nhân dân thế giới ủng
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NƯỚC MY
1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ (hay thường bi gọi với tên không chính xác là Hợp
chủng quốc Hoa kỳ) là tên đầy đủ của Hoa Kỳ hay còn gọi là nước My, được
thành lập khi 13 thuộc đia cũ của Anh tại Bắc My tuyên bố vào năm 1776 rằng
họ là những bang tự do và độc lập. Hoa Kỳ có 50 bang gồm 3 bộ phận lãnh thổ
cách biệt nhau. Bộ phận thứ nhất gồm 48 bang, nằm giữa lục đia Bắc My, giáp
Canađa, Mêhicô, Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Bộ phận thứ hai là bang
Alaxka nằm ở Tây Bắc lục đia Bắc My, giáp Canađa, biển Bôxpho và biển
Bêrinh. Bộ phận thứ ba là đảo Hawai nằm giữa Thái Bình Dương, cách thành
phố Sanphranxico khoảng 3.900 km đường biển.
Thủ đô Hoa Kỳ hiện nay là Washington D.C có diện tích 176 km² và
khoảng gần 600 nghìn dân. Hoa Kỳ là một nước Cộng hòa Liên bang với diện
tích 9.373.000 km², dân số 313.847.465 người (năm 2012).
Các nhóm dân tộc : người da trắng 80%, da đen 11%, người Hispaníc 6%,
người Châu Á 2%, người da đỏ và các nhóm người khác 1%.
Ngôn ngữ chính : tiếng Anh, một bộ phận nói tiếng Tây Ban Nha.
Tôn giáo : Đạo Tin lành 49%, Đạo Thiên chúa 30%, Đạo Cơ đốc 4%, Đạo
Do thái 3%, Anh quốc giáo 2%, Đạo Hồi 2%...
Kinh tế -xã hội : My là một trong những nước có nền kinh tế phát triển nhất
thế giới. GDP năm 2012 là 15.643 tỷ USD, đạt 2,2%, cao hơn mức tăng
trưởng 1,8% trong năm 2011.
Văn hóa-giáo dục: số học sinh trên giáo viên : bậc tiểu học 20, trung học 15,
bậc trên trung học 10. Tỷ lệ GNP giành cho giáo dục 6,7%. Tỷ lệ người biết
chữ 97%. Số dân trên bác sĩ 413. Tuổi thọ trung bình : nam 72, nữ 79 tuổi.
4
2. Đặc điểm hệ thống chính tri
Chính thể My là Cộng hòa Tổng thống. Hệ thống chính tri My được hình
nổi trội ở My:
Thuyết nhi nguyên mang tính lich sử về xung đột chính tri ở My. Sự chia re
chính tri lớn đầu tiên diễn ra là sự chia re giữa những người theo chủ nghĩa liên
bang và những người chống chủ nghĩa liên bang. Cuộc đấu tranh này tạo nên
truyền thống chi phối nền chính tri 2 đảng ở quốc gia này.
Những quan điểm trung hòa của cử tri My. Khác với các nền dân chủ châu
Âu, ở My không tồn tại chế độ phong kiến hay quý tộc, nên không có tầng lớp
nào để hình thành một đảng chính tri lớn theo khuynh hướng cực hữu; dân
nghèo thì không thể hình thành một đảng chính tri lớn cực tả; nền dân chủ My
thiên về trung dung. Cử tri My không muốn lựa chọn chính tri cực đoan. Các
đảng phái theo hướng cực tả hoặc cực hữu đều không có chỗ đứng trong nền
chính tri My.
Cấu trúc của hệ thống bầu cử khuyến khích sự chi phối của hệ thống hai
đảng. Chế độ bầu cử theo phương thức đa số tương đối. Ứng cử viên thắng cử
là người giành nhiều phiếu bầu nhất trong số những người cạnh tranh. Trong
bầu cử Tổng thống, đảng nào giành nhiều phiếu nhất tại một bang thì đảng đó
giành được tất cả các phiếu đại cử tri của bang đó.
Các Đảng Dân chủ và Cộng hòa đủ sức chi phối nền chính tri My bởi nó
thích nghi được với những biến cố xã hội; linh hoạt chấp nhận các quan điểm
khác để mở rộng liên minh (thu hút bất cứ đảng thứ ba nào nổi lên). Cương
lĩnh của hai đảng này cũng đã bao quát hầu như tất cả các vấn đề của đời sống
kinh tế – chính tri – xã hội My, học đã đóng được vai trò đại diện các tầng lớp
dân cư.
6
Nhà nước là trung tâm của hệ thống chính tri My. Việc phân quyền còn
được tổ chức theo chiều dọc: phân quyền giữa chính quyền liên bang – chính
quyền bang – chính quyền đia phương. Bầu cử giữ vai trò đặc biệt quan trọng
trong hoạt động chính tri My – lựa chọn những người vào cương vi lãnh đạo
sách của đại tư sản. Đến năm 1860, Đảng Dân chủ phân hóa nặng nề: bộ phận
những người dân chủ miền Bắc gồm đại tư sản và chủ nô muốn củng có nền
kinh tế và đia vi của mình, phản đối việc duy trì chế độ nô lệ ở miền Bắc và
miền Tây; bộ phận những người dân chủ miền Nam đại diện cho lực lượng
chủ đồn điền bảo thủ, phản động, chủ trương duy trì chế độ nô lệ, phân biệt
chủng tộc. Trong hàng ngũ chủ nô, còn có một bộ phận ôn hòa, đại diện cho
các chủ nô vùng biên giới và một số bang miền Nam.
Trong lich sử chính tri nước My, Đảng Dân chủ là một trong những chính
đảng lớn nhất, ra đời sớm và tồn tại lâu đời nhất. Đảng Dân chủ từ khi thành
lập đến nay luôn là một nhân tố quan trọng hàng đầu cấu thành hệ thống và thể
chế chính tri My. Sau khi Đảng Cộng hòa ra đời năm 1854, Đảng Dân chủ
cùng với đảng này trở thành hai chính đảng tư sản thay nhau nắm quyền trong
suốt 155 năm qua. Với thắng lợi trong cuộc bầu cử cuối năm 2008, Đảng Dân
chủ với ứng cử viên tổng thống B. Ôbama đã giành lại quyền kiểm soát Nhà
trắng sau 8 năm rơi vào tay Đảng Cộng hòa, đồng thời giành quyền kiểm soát
cơ quan lập pháp ở cả Thượng viện và Hạ viện.
Các đảng phái chính tri ở My bắt đầu hình thành từ đầu thập niên 90 thế kỷ
XVIII. Dưới thời Tổng thống đầu tiên G. Oasinhtơn, chính quyền My bi chia re
thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất theo tư tưởng liên bang đứng đầu là Bộ trưởng
Tài chính A. Hamiltơn chủ trương hình thành một chính phủ quốc gia mạnh,
tăng cường quyền lực trung ương, nâng đỡ giới công nghiệp-tài chính miền
8
Đông Bắc. Nhóm thứ hai đứng đầu là Bộ trưởng Ngoại giao T. Jefferson chủ
trương phân quyền cho các bang, nâng đỡ giới đia chủ, nông dân, tiểu thủ công
ở miền Nam. Sau khi Hiến pháp liên bang được phê chuẩn (1789), nhóm thứ
nhất trở nên mạnh hơn và hoạt động như một đảng chính tri. Thomas Jefferson
không được Tổng thống Oasinhtơn ủng hộ, nên từ chức và năm 1791 lập ra
một đảng đối lập với tên gọi Đảng Dân chủ-Cộng hòa, được coi là tiền thân của
Từ năm 1824 do những mâu thuẫn nội bộ nên Đảng Dân chủ-Cộng hoà bi
phân liệt thành nhiều phe phái khác nhau. Kết quả là, vào năm 1828 Đảng này
bi chia re thành hai đảng mới: Đảng Dân chủ và Đảng Whig. Thời kỳ từ năm
1828 đến trước cuộc nội chiến ở My (1861-1865), Đảng Dân chủ và Đảng
Whig thay nhau cầm quyền.
Trong nhiệm kỳ của Tổng thống Andrew Jackson (3/1829-3/1837) sự chia
re đã xuất hiện trong nội bộ Đảng. Những người ủng hộ Jackson thành lập
Đảng Cộng hòa – Dân chủ, những người chống đối Tổng thống thì tập hợp lại
dưới cái tên Đảng Quốc gia Cộng hòa, dưới sự lãnh đạo của John Quincy
Adams. Đảng Cộng hòa – Dân chủ đã nhanh chóng đổi tên thành Đảng Dân
chủ.
Từ năm 1833-1856, Đảng dân chủ đối lập với Đảng Whig, là một đảng có
xu hướng tự do và liên bang, gần gũi với giới doanh nhân và đặc biệt đây là
một đảng của phía Bắc.
Năm 1854, một liên minh của Đảng Whig với những người thuộc Đảng Dân
chủ có xu hướng chống chế độ nô lệ đã thành lập Đảng Cộng hoà, đại diện cho
quyền lợi của tư bản công-thương nghiệp miền Bắc và miền Tây, Đảng Dân
chủ đại diện cho chế độ nô lệ ở miền Nam. Đây là nguyên nhân dẫn đến cuộc
10
nội chiến kéo dài từ 1861 đến 1865 với thắng lợi của tư bản miền Bắc.
Từ năm 1856, đối thủ chính của Đảng Dân chủ là Đảng Cộng hòa, Đảng đã
thay thế Đảng Whig vốn đã trở nên yếu kém bởi vấn đề nô lệ.
Đảng Dân chủ trước hết là một đảng ủng hộ quyền lợi của các bang chống
lại sự lấn quyền của Nhà nước Liên bang. Một cách gián tiếp, Đảng này ủng hộ
việc duy trì chế độ nô lệ, chính điều này đã khiến cho Đảng Dân chủ được lòng
dân trong các cuộc bầu cử ở miền Nam.
Trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1860, Đảng Dân chủ bi phân chia nội
bộ giữa những người dân chủ phía Bắc (ôn hòa) và những người dân chủ phía
trong các bang miền Tây là những người nhập cư đến từ các nước châu Âu,
những người này thường phải đương đầu với chính quyền cộng hòa về các vấn
đề thuế hải quan.
Tóm lại, Đảng Dân chủ thường giành được lá phiếu của những người da
trắng miền Nam, những người Do Thái và Công giáo, các tầng lớp bình dân và
những người vừa mới nhập cư ở miền Đông-Bắc.
Thời kỳ từ năm 1865-1932, sự thống tri của Đảng Cộng hòa là rõ ràng,
nhưng không hoàn toàn là tất cả bởi cũng có những Tổng thống là người của
Đảng Dân chủ được bầu trong thời kỳ này như: Grover Cleveland (1884-1888;
1892-1896) hay Woodrow Wilson (1912-1916).
Thời kỳ 1933-1945 là thời kỳ của Tổng thổng Franklin Delano Roosevelt.
Cuộc bầu cử năm 1932 mang đến cho Đảng Dân chủ đa số ghế trong cả hai
viện cũng như các ghế thống đốc tiểu bang. Những chương trình ban hành năm
1933 được các sử gia gọi là “New Deal thứ nhất”. Các đảng viên Đảng Dân
12
chủ bảo thủ nổi giận, dưới sựu lãnh đạo của Al Smith đã thành lập Liên minh
Tự do My năm 1934 và tổ chức phản công, những những nỗ lực ấy không hiệu
quả. “New Deal thứ hai” là một chương trình về lập pháp đầy tham vọng.
Ông xây dựng một Liên minh New Deal gồm các nghiệp đoàn lao động thành
phần thiểu sô quan trọng đó là người Công giáo, người Do Thái và lần đầu tiên
người da đen tham gia. Liên minh này chiến thắng hầu hết các cuộc bầu cử
Tổng thống và tan rã vào năm 1968.
Ngay từ thời kỳ cuối những năm 40 của thế kỷ XX, những người dân chủ ở
phía Bắc dưới tác động của Tổng thống Harry Truman và của Thượng nghi sĩ
Hubert Humphrey, tuyên bố ủng hộ việc chấm dứt việc phân biệt đối xử giữa
người da trắng và người da đen, trước hết là trong quân đội, sau đó là trong xã
hội dân sự.
Tại miền nam phân biệt chủng tộc đó là một tin tức làm rụng rời những
Làn sóng bảo thủ của năm 1980 (đã đưa Reagan lên nắm quyền ở Nhà
Trắng và cho phép Đảng Cộng hòa, lần đầu tiên sau 30 năm dạt được đa số ghế
ở Thượng viện) là một lời cảnh báo nghiêm khắc đối với Đảng Dân chủ. Nếu
như đầu những năm 70 của thế kỷ XX, Đảng Dân chủ chủ trương cải cách
thành đảng thiên về chủ nghĩa tự do, ví dụ như giới thiệu Walter Mondale ra
ứng cử Tổng thống năm 1984 thì phong trào những người dân chủ mới lại
hướng đảng về phía trung lập, và điều đó đã dẫn tới thắng lợi của Bill Clinton
trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1992.
Trong cuộc bầu cử năm 1980 và 1984, Đảng Dân chủ chỉ có 41% cử tri ủng
hộ. Năm 1980, lần đầu tiên sau nhiều năm cầm quyền, Đảng Dân chủ bi mất đa
số tín nhiệm, qua đấy cũng bộc lộ rõ chỗ yếu về quan điểm truyền thống trước
14
đây của Đảng đối với các nhóm bầu cử là lao động chân tay, thành viên công
đoàn và một số nhóm dân tộc ít người. Ảnh hưởng của Đảng yếu đi nghiêm
trọng trong thanh niên, sinh viên. Mặc dù giới lãnh đạo của liên minh công
đoàn lớn nhất AFT-KPP lãnh đạo liền trong ba cuộc bầu tranh cử Tổng thống
luôn luôn ủng hộ nhất quán cho Đảng Dân chủ nhưng điều đó không có ý nghĩa
quyết đinh tìm ra lối thoát cho việc bầu cử Tổng thống.
Sau thất bại trong cuộc bầu cử năm 1980, nội bộ Đảng Dân chủ phát sinh
mâu thuẫn, chia re, lại đưa Đảng Dân chủ tới thất bại liên tiếp trong cuộc bầu
cử Tổng thống năm 1984 và 1988. Nhưng trong quá trình nhận thức lại kết quả
tranh cử Tổng thống 1984, một cuộc đấu tranh chính tri, tư tưởng xung quanh
vấn đề nội bộ và chính sách đối ngoại đã được triển khai trong Đảng. Kết cục
là Đảng Dân chủ đã có đinh hướng chiến lược cho ứng cử viên tranh chức
Tổng thống năm 1992, với một chương trình cụ thể là:
- Tập trung phát triển kinh tế
- Cắt giảm ngân sách quốc phòng
- Tăng đánh thuế người giàu chuyển sang phúc lợi xã hội
sinh sống tại đó (những người này thường chọn sống ở các thành phố để chạy
trốn sự cô lập).
Cựu thống đốc Vermont Howard Dean đã trở thành Chủ tich mới của Ủy
ban quốc gia dân chủ, Đảng dân chủ cũng đang tìm kiếm một chiến lược mới
nhưng đang bi giằng co giữa:
- Cánh tả cải cách đại diện bởi Nancy Pelosi và Edward Kennedy
- Cánh hữu bảo thủ hơn đại diện bởi Bill Clinton, Bill Richardson, Joe Biden
hay Joseph I. Lieberman. Những người này đặc biệt mong muốn cạnh tranh với
16
những người cộng hòa trên mọi tri và hướng quan điểm, lập trường của Đảng
vào các vấn đề nạo thai, phi tôn giáo...để giành thắng lợi ở miền nam và miền
tây trước những người bảo thủ.
Những đại diện chính của Đảng cho rằng, kể từ năm 1964, chỉ những ứng
cử viên dân chủ xuất thân từ miền nam đất nước (Texas với Lyndon Johnson,
Georgia với Jimmy Carter và Arkansas với Bill clinton) mới có thể chiến thắng
trong các cuộc bầu cử tổng thống; điều này đặc trưng cho sức mạnh của miền
nam trong bất kỳ chiến lược mới nào của Đảng Dân chủ. Quả vậy, chưa từng
có một ứng cử viên dân chủ nào giành đa số tuyệt đối phổ thông đầu phiếu kể
từ thời Jimmy Carter năm 1976.
Đến kỳ bầu cử Tổng thống 2008-2012 Đảng lại thắng cử. Barack Obama
thủ lĩnh của Đảng trúng cử Tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ.
Sau nội chiến đến đầu thế kỷ XX, Đảng Cộng hoà 6 lần thắng cử tổng
thống, nắm chính quyền 24 năm, Đảng Dân chủ 3 lần thắng, nắm chính quyền
12 năm. Tính đến năm 2010 Đảng Dân chủ đã 21 lần giành thắng lợi trong bầu
cử tổng thống với 81 năm cầm quyền, so với con số tương ứng của Đảng Cộng
hòa là 22 lần.
3. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Đảng Dân chủ My
Xét về mô hình cơ cấu tổ chức và hoạt động, Đảng Dân chủ cũng như Đảng
đối vai trò phân phối lại phúc lợi xã hội. Đảng này được nhiều người da trắng,
tầng lớp trung lưu theo đạo Tin lành và giới kinh doanh giàu có ủng hộ. Tuy
nhiên, để giành thắng lợi trong bầu cử, hai đảng đều có đinh hướng một cách
thực dụng, luôn đưa ra những quan điểm sao cho được đông đảo người My ủng
hộ.
18
Về hệ thống tổ chức, Đảng Dân chủ có 3 cấp: Uỷ ban toàn quốc, bang-quận,
cơ sở đia phương, nhưng các cấp hoạt động tương đối độc lập với nhau, quan
hệ trên dưới không chặt che. Trong hệ thống quyền lực ở nước My có sự phân
quyền cho chính quyền bang và chính quyền các đia phương khá mạnh, tổ chức
và hoạt động của chính quyền mỗi bang có nhiều nét đặc thù, cho nên tổ chức
và hoạt động của Đảng ở mỗi bang cũng không giống nhau. Do đó nhiều người
cho rằng, trên thực tế, không phải chỉ có một Đảng Dân chủ trên toàn nước
My, mà có tới 50 đảng dân chủ khác nhau ở 50 bang. Đảng Dân chủ ở My thực
chất chỉ là những liên minh 50 đảng dân chủ mỗi khi đến kỳ bầu cử.
Trong mối quan hệ tổ chức, Đảng Dân chủ là liên đoàn tổ chức đảng ở các
bang. Ở mỗi bang có một tổ chức đảng gọi là chi bộ đảm trách việc tổ chức vận
động quần chúng trong tất cả các vòng bầu cử và các khu vực bầu cử. Đứng
đầu Liên bang là Ủy ban dân tộc của Đảng Dân chủ, có nhiệm vụ phối hợp
hành động giữa ban chấp hành đảng các bang, đảm bảo mối liên hệ lãnh đạo
toàn quốc và đảng đoàn trong Nghi viện, xác đinh thủ tục bầu cử đại biểu đi dự
đại hội đảng, tổ chức các nguồn thu cho quy đảng, tổ chức thực hiện vận động
bầu cử và nhiều chức năng nhiệm vụ khác. Ủy ban toàn quốc của Đảng Dân
chủ lựa chọn ra Ban Tư vấn, cứ 4 năm một lần (vào năm nhuận) tiến hành đại
hội đảng để bầu các ứng cử viên vào Phó Tổng thống và Tổng thống. Nhìn
chung , sinh hoạt nội bộ Đảng Dân chủ được điều hành bằng điều lệ đã được
thông qua năm 1974. Lãnh đạo chính thức của Đảng là Tổng thống hay Phó
Tổng thống (trong thời kỳ cầm quyền) hoặc là các ứng cử viên được đại hội
bang là đề cử ứng cử viên cho các cơ quan chính quyền bang, đồng thời tiến
hành vận động tranh cử cho các ứng cử viên của Đảng. Uỷ ban có nhiệm vụ
quảng bá, giới thiệu các hoạt động của Đảng, quyên tiền, xây dựng đường lối
20
chung của Đảng, đồng thời thi hành các quyết đinh được thông qua tại Đại hội
Đảng cấp bang. Chủ tich Đảng cấp bang là người hưởng lương và làm việc
thường trực, chỉ đạo trực tiếp việc hoạch đinh chính sách và các hoạt động của
Đảng như: tăng nguồn quy, xây dựng tổ chức đảng, xây dựng chiến lược cho
chiến dich vận động tranh cử.
Tổ chức đảng cấp quốc gia là Uỷ ban toàn quốc của Đảng, bao gồm những
đại biểu được lựa chọn từ tổ chức đảng cấp bang và các nhóm khác nhau của
Đảng. Lãnh đạo uỷ ban là một Chủ tich thường do ứng cử viên tổng thống của
Đảng lựa chọn với nhiệm kỳ 4 năm. Dưới cơ quan quyền lực này là đội ngũ
nhân viên chuyên nghiệp của Đảng. Đây là những chuyên gia nắm vững và
hiểu biết công nghệ vận động tranh cử hiện đại và các đạo luật phức tạp điều
chỉnh việc quyên góp và chi tiêu tài chính.
Hội nghi toàn quốc của Đảng thường được tổ chức vào mùa hè trước khi
diễn ra cuộc bầu cử tổng thống. Các đại biểu được lựa chọn bằng nhiều cách
khác nhau từ các tổ chức đảng ở cấp bang. Các đại biểu dự Hội nghi thông qua
cương lĩnh của Đảng, bầu ra ứng cử viên tổng thống của Đảng. Hội nghi đóng
vai trò là cơ quan lãnh đạo tối cao của Đảng trên phạm vi toàn quốc.
Tổ chức đảng ở cấp bang, hạt và thành phố không chiu sự chỉ dẫn, hoặc
kiểm soát của Uỷ ban toàn quốc hoặc Chủ tich Đảng cấp toàn quốc. ủy ban
đảng ở mỗi cấp có một chương trình hoạt động riêng, một chương trình gây
quy và gây dựng cơ sở của riêng mình. Về nguyên tắc, các uỷ ban đảng của các
đia phương không phải là cấp dưới của uỷ ban đảng ở cấp bang và toàn quốc
không nhất thiết phải nghe theo mệnh lệnh của ủy ban đảng cấp trên. Trong
công việc hàng ngày, các đơn vi đảng ở các cấp này là những đơn vi tự quản và
“người thắng được tất cả”, các ứng cử viên của đảng nào thu được đa số tương
22
đối phiếu bầu ở một bang se giành được toàn bộ số phiếu đại cử tri của bang
đó. Cơ chế đó ngăn cản các đảng nhỏ và người nghèo tham gia vào hệ thống
quyền lực, đồng thời loại bỏ được các đối thủ chính tri của cả Đảng Dân chủ và
Đảng Cộng hòa.
4. Nền tảng ý thức hệ và ý thức hệ của Đảng Dân chủ My
Lập trường chủ đạo của Đảng Dân chủ kể từ thập niên 30 của thế kỷ XX vẫn
được xem là có khuynh hướng tự do. Trên trường quốc tế, quan điểm của Đảng
Dân chủ thường được xem là dân chủ xã hội vì chủ nghĩa tự do ở My có ý nghĩa
khác với ở nước ngoài. Quan điểm chính tri của Đảng Dân chủ bắt nguồn từ
phong trào tiến bộ ở My và từ hệ tư tưởng của những nhà trí thức như John
Dewey.
Đảng Dân chủ ủng hộ quyền tự do dân sự, tự do xã hội, bình đẳng, cơ hội
đồng đều, và hệ thống doanh nghiệp tự do được điều tiết bởi sự can thiệp của
chính quyền. Đảng Dân chủ tin rằng chính quyền nên thủ giữ một vai trò trong
nỗ lực giảm nghèo và xoá bỏ những bất công xã hội, ngay cả khi điều này có
nghĩa là phải dành cho chính quyền nhiều quyền lực hơn cũng như phải tăng
thuế để chi trả cho các dich vụ xã hội.
Không dễ dàng gì để đinh nghĩa những nguyên tắc và giá tri của bất cứ đảng
phái chính tri nào, và cũng không cần phải áp dụng chúng cho tất cả thành viên
của đảng. Một số thành viên có thể bất đồng với một vài điều khoản hoặc nhiều
hơn nữa trong cương lĩnh của đảng. Cương lĩnh đảng thường chỉ thể hiện quan
điểm của đa số đại biểu đến dự đại hội cấp quốc gia và thường chiu ảnh hưởng
sâu đậm bởi ứng viên tổng thống được đảng đề cử vào lúc ấy.
Với 72 triệu thành viên đăng ký, Đảng Dân chủ là một cấu trúc đa dạng về ý
thức hệ, trong đó thành phần cấp tiến chiếm đa số, cũng là nhóm đảng viên có
23
12.Grover Cleveland (04/03/1885 – 04/03/1889)
13.Grover Cleveland (tái nhiệm) (04/03/1893 – 04/03/1897)
14. Woodrow Wilson (04/03/1913 – 04/03/1921)
15.Franklin D. Roosevelt (04/03/1933 – 12/04/1945)
16.Harry S. Truman (12/04/1945 – 20/01/1953)
17.John F. Kennedy (20/01/1961 – 22/11/1963)
18.Lyndon B. Johnson (22/11/1963 – 20/01/1969)
19.Jimmy Carter (20/01/1977 – 20/01/1981)
20.Bill Cinton (20/01/1993 – 20/01/2001)
21.Barack Obama (20/01/2009 – đương nhiệm)
25