ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN QUANG THUẬN
PHÁT TRIỂN TƢ DUY PHÊ PHÁN CHO HỌC SINH THÔNG QUA
DẠY HỌC TỔ HỢP-XÁC SUẤT Ở LỚP 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM TOÁN
HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN QUANG THUẬN
PHÁT TRIỂN TƢ DUY PHÊ PHÁN CHO HỌC SINH THÔNG QUA
DẠY HỌC TỔ HỢP-XÁC SUẤT Ở LỚP 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM TOÁN
Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 60.14.01.11
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS. Bùi Văn Nghị
HÀ NỘI – 2015
MỞ ĐẦU
những chính sách phù hợp, những phương pháp dạy học đổi mới tích cực nhằm
phát triển được những kĩ năng học tập mang tính phê phán và sáng tạo. Điều đó
hoàn toàn phù hợp với mục tiêu giáo dục trung học phổ thông (THPT) mà Luật
giáo dục 2005 đã nhấn mạnh: “Giúp học sinh có điều kiện phát huy năng lực cá
nhân để lựa chọn hướng phát triển”. Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy tại các
trường phổ thông nước ta hiện nay, việc rèn luyện TDPP còn chưa được chú
trọng và gặp rất nhiều hạn chế, khiến cho chất lượng giáo dục còn chưa cao, học
sinh vẫn còn thụ động trong việc lĩnh hội tri thức. Vì vậy, TDPP cần được
nghiên cứu sâu sắc và quan tâm một cách đầy đủ cả về lí luận và thực tiễn, cũng
như việc rèn luyện TDPP cho học sinh cần được chú ý đúng mức hơn.
Nhiệm vụ của môn Toán không chỉ là trang bị tri thức, trang bị những con
số và phép toán để các em áp dụng trong cuộc sống thường nhật, mà quan trọng
hơn, môn Toán còn có vai trò đặc biệt là giúp phát triển tư duy cho học sinh. Nó
có thể coi là môn học có nhiều điều kiện thuận lợi để giúp chúng ta phát triển tư
duy nói chung và TDPP nói riêng. Các nội dung toán học đều chứa đựng những
vấn đề mà thông qua quá trình tiếp cận và giải quyết, người làm toán được phát
triển tư duy một cách toàn diện.
Các kiến thức về tổ hợp – xác suất đang ngày càng trở nên quan trọng đối
với mỗi con người trong xã hội hiện đại. Vì vậy, ở nhiều quốc gia, tổ hợp – xác
suất được đưa vào trong giảng dạy từ lâu với nhiều mức độ khác nhau. Trong
chương trình toán phổ thông ở nước ta, tổ hợp – xác suất là một trong những nội
dung quan trọng luôn xuất hiện trong những đề thi quốc gia như đề thi Tốt
nghiệp THPT, đề thi Đại học và sắp tới là đề thi THPT Quốc gia. Tổ hợp luôn
được đánh giá là một nội dung khó, các bài tập thường đòi hỏi học sinh phải hiểu
chính xác mối quan hệ giữa các đối tượng được xét mà đôi khi bằng ngôn ngữ
4
cũng khó có thể diễn đạt. Do đó, các bài toán về Tổ hợp – xác suất có vai trò
quan trọng trong việc rèn luyện các hoạt động trí tuệ cho học sinh. Chính vì mức
- Đề xuất những biện pháp phát triển TDPP cho học sinh trong dạy học Tổ
hợp – xác suất ở lớp 11.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để bước đầu đánh giá tính khả thi và hiệu
quả của những biện pháp đã đề xuất.
V. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình dạy học và rèn luyện TDPP cho học sinh
trong dạy học môn Toán.
- Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong nội dung chương trình dạy học
Tổ hợp – xác suất ở lớp 11 THPT.
VI. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: nghiên cứu SGK, sách phương pháp dạy
học, sách tham khảo, luận văn, luận án, tạp chí, Internet,.. liên quan đến cơ sở lí
luận về TDPP và rèn luyện TDPP trong qui trình dạy học.
- Phương pháp quan sát – điều tra: quan sát điều tra các hoạt động dạy và
học của giáo viên và học sinh trong một số giờ dạy để có cơ sở thực tiễn về việc
rèn luyện TDPP ở một số trường THPT.
- Phương pháp thực nghiê ̣m sư pha ̣m: Thực nghiệm sư phạm một số giáo án
tại một số trường THPT nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của đề tài.
VII. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về tư duy và TDPP
Chương 2: Biê ̣n pháp phát triể n TDPP cho học sinh thông qua dạy học
Tổ hợp – xác suất ở lớp 11.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TƢ DUY VÀ
TƢ DUY PHÊ PHÁN
tục nhận thức và sáng tạo cái mới.
1.1.2. Đặc điểm của tư duy
Theo Nguyễn Quang Uẩn (2011) [13]: Tư duy thuộc mức độ nhận thức cao
- nhận thức có lý tính, gồm những đặc điểm cơ bản sau:
+ Tính “có vấn đề”:
Tư duy mà con người là chủ thể chỉ nảy sinh khi gặp tình huống có vấn đề.
Đó là những tình huống mà ở đó nảy sinh những mục đích mới mà với vốn hiểu
biết đã có, những phương tiện, phương pháp trước đây không đủ để giải quyết.
Tuy nhiên, con người chỉ thực sự tư duy khi tình huống có vấn đề phải được cá
nhân nhận thức đầy đủ, được chuyển thành nhiệm vụ cá nhân mà người đó có
nhu cầu giải quyết. Muốn thế, chủ thể phải xác định được cái gì đã biết, cái gì
chưa biết, cái gì cần phải tìm và có nhu cầu tìm kiếm.
+ Tính gián tiếp:
Tư duy luôn phản ánh gián tiếp hiện thực thông qua ngôn ngữ và được biểu
hiện bằng ngôn ngữ (định nghĩa, định lý,..). Các quy luật, quy tắc, mối liên hệ
được khái quát và diễn đạt qua ngôn ngữ. Những phát minh hay kinh nghiệm của
loài người, chúng ta đều nhận thức gián tiếp mà không thể tri giác chúng một
cách trực tiếp được.
Nhiệm vụ của tư duy là phát hiện ra những đối tượng, thuộc tính, quan hệ
mới, không được phát hiện một cách trực tiếp trong tri giác. Tư duy cũng bao
8
hàm cả việc biến đổi những dữ liệu đã có mà nhờ sự biến đổi đó con người đạt
được mục đích đề ra.
+ Tính trừu tượng và khái quát hóa:
Tư duy có khả năng trừu xuất khỏi sự vật những dấu hiệu, thuộc tính không
bản chất, chỉ giữ lại những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất nhất của sự vật,
hiện tượng, từ đó khái quát chúng thành các nhóm, các phạm trù khác nhau. Kết
quả của khái quát hóa là cho ra một đặc tính chung của hàng loạt các đối tượng
+ Tư duy logic:
Tư duy logic là một trong những kĩ năng không thể thiếu trong lĩnh vực
nghiên cứu, đặc biệt đối với việc lĩnh hội các môn khoa học tự nhiên. Vì vậy,
việc rèn luyện tư duy logic cho học sinh là một nhiệm vụ quan trọng.
+ Tư duy trừu tượng:
Phát triển tư duy trừu tượng cho học sinh cũng là một vấn đề quan trọng.
Khoa học công nghệ thông tin ngày càng phát triển và có nhiều ứng dụng trong
dạy học, tạo điều kiện cho sự phát triển tư duy trừu tượng trở nên dễ dàng hơn.
Tư duy trừu tượng phải gắn liền với việc làm cho học sinh hiểu đúng nghĩa, đúng
bản chất của sự vật, hiện tượng, quá trình.
+ Tư duy độc lập:
Việc rèn luyện tư duy độc lập cho mỗi cá nhân là điều rất quan trọng và cần
thiết. Tuy nhiên, học sinh chỉ được rèn luyện tư duy độc lập khi thực hiện các
nhiệm vụ vừa sức với mình. Phát triển tốt tư duy độc lập cho học sinh sẽ tạo điều
kiện để các em nắm bắt vấn đề một cách tự nhiên theo đúng quy luật của quá
trình nhận thức.
+ Tư duy biện chứng:
10
Mọi sự vật, hiện tượng đều xảy ra trong một quy luật biện chứng. Do đó,
khi xem xét sự vật, ta phải xem xét một cách đầy đủ trong tất cả các mặt, cần
phải nhìn nhận sự vật trong mối quan hệ biện chứng, tức là phải xem xét toàn
diện mọi khía cạnh liên quan. Từ đó có cái nhìn đúng đắn và tổng quan hơn cho
sự vật, hiện tượng.
+ Tư duy phê phán:
TDPP được hình thành và phát triển qua quá trình rèn luyện trí tuệ về các
khả năng: phân tích thực tiễn, tổng quan và hệ thống tổ chức các ý tưởng, đối
chiếu, so sánh điểm tương đồng và dị biệt, nhận thức và cân nhắc thận trọng một
dạy học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
5. Bùi Hiền (2011), Từ điển Giáo dục học, NXB Giáo dục
6. Nguyễn Bá Kim (2015, tái bản lần thứ 7), Phương pháp dạy học môn toán,
Nxb ĐHSP, Hà Nội
7. Luật giáo dục (2005), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội
8. Trương Thi Tố
̣ Mai (2007), Rèn luyện tư duy phê phán cho học sinh thông qua
dạy toán 4, Luận án Tiến sĩ khoa học Giáo dục
9. Phan Thi Luyế
n (2008); Rèn luyện tư duy phê phán của học sinh trung học
̣
phổ thông qua dạy học chủ đề phương trình và bất phương trình, Luận án Tiến sĩ
khoa học Giáo dục
10. Bùi Văn Nghị (2008), Phương pháp dạy học những nội dung cụ thể môn
toán, Nxb ĐHSP, Hà Nội.
11. Bùi Văn Nghị (2009), Vận dụng lý luận vào thực tiễn dạy học môn toán ở
trường phổ thông. Nxb ĐHSP, Hà Nội.
12
12. Nguyễn Phương Thảo (2014), Phát triển tư duy phê phán cho học sinh thông
qua đố i thoại trong dạy học môn toán ở trường trung học phổ thông
,
Luận án
Tiến sĩ khoa học Giáo dục
13. Nguyễn Quang Uẩn (2011), Tâm lý học đại cương, NXB ĐHQG Hà Nội