Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành luận văn này chúng tôi xin
chân thành cảm ơn:
- Sự giúp đỡ, hướng dẫn, giảng dạy nhiệt tình
của Quý thầy cô giảng viên đã truyền đạt những
kiến thức quý báu, những tiến bộ khoa học Kỹ
thuật trong suốt quá trình học tập.
- Ban Giám hiệu trường Đại học Y Dược Huế
- Phòng Đào tạo Đại học Trường Đại học Y
Dược Huế
- Ban Chủ nhiệm Khoa Y tế cộng đồng trường
Đại học Y Dược Huế.
- Thư viện Trường Đại học Y Dược Huế
- UBND và các cán bộ trạm y tế phường Tây
Lộc, Thuận Hoà, thành phố Huế đã tạo điều kiện
giúp đỡ chúng tôi trong quá trình điều tra.
Chúng tôi đặc biệt biết ơn sâu sắc đến thầy
Thạc sỹ, Bác sỹ chuyên khoa II Đoàn Phước Thuộc
là người trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tận tình
chúng tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu
luận văn này.
Cuối cùng chúng tôi chân thành cảm ơn đến
gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ khuyến
khích trong quá trình học tập và hoàn thiện luận
văn này.
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
XVĐM
:
Lipoprotein tỷ trọng thấp
HDL-c
:
Lipoprotein tỷ trọng cao
TG
:
Triglycerid
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ..............................................................................................1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU........................................................3
1.1. Tình hình rối loạn Lipid máu ở Việt Nam và thế giới............................3
1.2. Lipid máu và rối loạn Lipid máu............................................................4
1.3. Điều trị và dự phòng rối loạn Lipid máu................................................9
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..........13
2.1. Đối tượng nghiên cứu...........................................................................13
2.2. Phương pháp nghiên cứu......................................................................13
2.3. Nội dung nghiên cứu............................................................................14
2.4 Công cụ nghiên cứu..............................................................................16
2.5. Phương pháp thu thập số liệu...............................................................16
máu cơ tim, nhồi máu não ... trước đây ít gặp, hiện nay có xu hướng tăng và
tăng nhanh. Đây là vấn đề đáng lo ngại cho sức khỏe [17].
Bệnh lý về tim mạch có rất nhiều yếu tố nguy cơ gây ra như: Đái tháo
đường, tăng huyết áp, hút nhiều thuốc lá, béo phì, ít vận động, lớn tuổi. Đặc
biệt do rối loạn lipid máu là một trong những vấn đề rất phổ biến nhưng chưa
được truyền thông giáo dục rộng rãi trong nhân dân [9]. Rối loạn lipid máu là
nguy cơ chính của nhiều bệnh nguy hiểm như: xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ
tim, tai biến mạch máu não, tăng huyết áp ... [10].
Rối loạn lipid máu là mối lo ngại của những người có tình trạng thừa
cân cân nặng. Rối loạn lipid máu không phải là nguyên nhân gây ra các bệnh
tim mạch nói trên mà đây cũng là một trong những yếu tố nguy cơ bệnh tim
mạch. Như vậy vấn đề điều trị và phòng ngừa bệnh tim mạch và các bệnh lý
có liên quan bao gồm việc phát hiện và điều chỉnh các yếu tố nguy cơ có thể
2
có trên một bệnh nhân bao gồm RLLM. RLLM do nguyên nhân tự phát (di
truyền) và nguyên nhân thứ phát do thói quen ăn uống, vận động thứ phát sau
một số bệnh lý và sử dụng thuốc… những nguyên nhân thứ phát là trọng tâm
của sức khoẻ cộng đồng, chúng ta có thể điều chỉnh được như thay đổi ché độ
ăn, giảm cân nếu thừa cân, tăng cường tập thể dục, dưỡng sinh, vận động đi
bộ… là vấn đề vô cùng quan trọng ít tốn kém, không gây hại và hiệu quả cao.
Để thực hiện được vấn đề này, kiến thức và hành vi của người dân là vô cùng
quan trọng.
Chính vì vậy nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Khảo sát kiến
thức về rối loạn lipid máu và thói quen ăn uống của người trưởng thành
tại phường Tây Lộc và phường Thuận Hoà - Thành phố Huế".
Nhằm 2 mục tiêu:
1. Mô tả kiến thức về rối loạn lipid máu và thói quen ăn uống của người
1.1.2. Trên thế giới
Rối loạn lipid máu chiếm 3/4 dân số thế giới, được gọi là hiện tượng
thừa mở. Những nghiên cứu liên quan giữa RLLM và bệnh động mạch vành
đã cho thấy rõ rằng tỷ lệ tử vong và thương tật do bệnh động mạch vành gắn
4
liền với tỷ lệ tăng cholesterol máu của cộng đồng. Các nghiên cứu dịch tễ học
quan sát được thực hiện rất sớm. Ngay từ những năm 1960, 1970 đã có những
công trình nghiên cứu lớn được công bố.
+ Năm 1973, Goldstein nghiên cứu về tăng lipid máu ở 500 người nhồi
máu cơ tim (NMCT) cho thấy rằng mức cholesterol máu của họ rất cao so với
những người bình thường.
+ Năm 1974, 1975, 1978 là các công trình nghiên cứu về mối liên quan
giữa cholesterol máu và bệnh động mạch vành ở người Nhật di cư sang ở Hoa
Kỳ. Kết quả của các công trình này cho thấy rằng số người Nhật di cư sang
Hoa Kỳ đã dùng chế độ ăn nhiều lipid và cholesterol có mức cholesterol máu
cao và tỷ lệ tử vong do bệnh động mạch vành cũng cao hơn so với người Nhật
ở chính quốc.
+ Năm 1986 nghiên cứu "Thử nghiệm can thiệp đa yếu tố" (Multiple
Rish Factore Interventional Trial) khảo sát trên 350.000 người nam giới đã
chứng minh rằng có sự liên quan rõ rệt giữa mức cholesterol máu và tỷ lệ tử
vong do bệnh mạch vành.
+ Nghiên cứu quan sát trên từng cá thể của cộng đồng như nghiên cứu
Framingham Massachusette (Hoa Kỳ) bắt đầu năm 1948 và hiện nay vẫn
đang còn tiếp tục theo dõi.
Từ năm 1994 cho đến 2004, đã có ít nhất là 8 công trình nghiên cứu lớn
(4S, WOSCOPS, CARE, Lipid, AFCAPS, PROSPER, HPS, TNT) chứng tỏ
rằng điều trị rối loạn lipid máu (RLLM) sẽ làm giảm tỷ lệ mắc và tử vong do
lượng cao nhất (9Kcal/gam), năng lượng không sẵn có mà được dự trữ dưới
dạng triglycerid dự trữ.
- Vai trò tạo hình: lipid là thành phần của màng tế bào, vai trò tạo hình
là cơ bản và tùy thuộc chủ yếu phosholipid, lecithine, sphingomyelin và một ít
của triglycerid và các cholesterol [11].
1.2.3. Nhu cầu về lipid
Nhu cầu về lượng chưa được xác định rõ ràng chính xác, vào khoảng
1g/1kg thể trọng/ngày.
6
Nhu cầu về chất: cần acid béo chưa bảo hòa, trong đó đủ acid lenileic.
Khuyên nên dùng lượng lipid cung cấp dưới 35% nhu cầu năng lượng cơ thể
với 2/3 dầu thực vật (acid béo chưa no); 1/3 mở động vật với lượng
cholesterol dưới 300mg/ngày.
Hiện nay xu hướng có thói quen dùng nhiều lipid hơn nhu cầu. Lipid
bao gồm nhiều chất: acid béo bảo hòa như acid palintic (C15), acid Sterit
(C17) với công thức chung là C nH2n+1COOH. Cholesterol có nhiều trong lòng
đỏ trứng gà và dầu gan cá, có liên quan đến chứng xơ vữa động mạch. Ăn
nhiều acid bảo hòa làm dễ xơ vữa động mạch.
Mỡ thực vật chứa nhiều acid béo chưa bảo hòa như acid oleic (C18),
acid linoleie (C18) với công thức tổng quát là C nH2n-1COOH khi có một dấu
nối đôi, CnH2n-3COOH khi có hai dấu nối đôi ... ăn nhiều acid béo chưa bảo
hòa làm giảm lượng cholesterol làm hạn chế chứng xơ vữa động mạch [28].
Thay đổi nhu cầu về lượng lipid: tăng nhu cầu khi cần chống lạnh,
giảm nhu cầu khi cần giảm cân như ở người béo phì.
1.2.4. Chuyển hóa lipid
Mỡ ăn vào chủ yếu là triglycerid dưới dạng của acid mật, lipase và
colipase dịch tụy, triglycerid bị phân hủy thành acid béo và monoglycerid. Tại
lipid huyết tương của bệnh nhân. Rối loạn mỡ trong máu là tăng thành phần
mỡ gây tác hại và giảm thành phần mỡ bảo vệ cho cơ thể [10].
Trong huyết tương động vật có xương sống, chất lipid như cholesterol,
triglycerid ... được vận chuyển trong máu dưới dạng các lipoprotein vì thế rối
loạn lipid máu là nguy cơ hàng đầu của bệnh lý mạch máu. Có 99% tăng
lipoprotein máu gây xơ vữa động mạch. Mỡ trong máu tồn tại dưới 2 dạng
chính là cholesterol và triglycerid.
Cholesterol không phải là chất hoàn toàn gây hại cho cơ thể. Chúng ta
không thể sống được nếu không có cholesterol. Chứng tỏ nếu thiếu
cholesterol cũng nguy hiểm và thừa cholesterol cũng nguy hiểm. Cholesterol
là thành phần cấu tạo chủ yếu của màng tế bào, sợi thần kinh và của nhiều nội
8
tiết tốt trong cơ thể. Ngoài ra, gan còn dùng cholesterol để sản xuất ra acid
mật giúp ta tiêu hóa thức ăn [10].
Cholesterol có 2 nguồn gốc
- Từ thức ăn hàng ngày trong thịt, mỡ, trứng ... chiếm 20% nhu cầu
cholesterol trong cơ thể.
- Do gan tạo ra chiếm 80%. Gan có khả năng tổng hợp cholesterol từ
những chất khác như đường, đạm.
Chứng tỏ rằng, có nhiều người không ăn mỡ, trứng như những người ăn
chay trường lâu năm hoặc những người ốm vẫn bị rối loạn mỡ trong máu. Sự
rối loạn mỡ trong máu do việc rối loạn cholesterol ở gan. Cholesterol kết hợp
với LDL (được ký hiệu là LDL - c) là dạng cholesterol gây hại cho cơ thể,
chúng vận chuyển cholesterol vào trong máu thấm vào thành mạch máu,
chúng có vai trò quan trọng trong quá trình hình mãng xơ vữa động mạch.
LDL là chất thường xuyên di chuyển trong máu, khi quá tải thì làm xơ vữa
động mạch. Cholesterol kết hợp với HDL (được ký hiệu là HDL-c) là dạng
190
Rất cao
1.3. ĐIỀU TRỊ VÀ DỰ PHÒNG RỐI LOẠN LIPID MÁU
1.3.1. Điều trị
Những người bị bệnh RLLM cần áp dụng ngay việc điều trị không
dùng thuốc, bao gồm hai điều cơ bản:
- Kiêng cử trong ăn uống: giảm ăn mỡ bảo hòa (mỡ động vật, bơ, dầu
dừa ...) nếu không kiêng được tuyệt đối thì tránh ăn quá 1/3 mỡ bảo hòa trong
nhu cầu chất béo hàng ngày. Giảm ăn các chất có chứa nhiều cholesterol như
phủ tạng động vật (não, bầu dục, tim, gan ...). Riêng với lòng đỏ trứng gà tuy
cũng nhiều cholesterol nhưng đồng thời có nhiều lecithin là một chất điều hòa
chuyển hóa cholesterol trong cơ thể, do đó không nhất thiết kiêng hẳn mà có
< 7% của tổng calo
+ Polyunsaturated fat
:
Tăng đến 10%
+ Monounsaturated fat
:
Tăng đến 20%
+ Tổng chất mỡ
:
25 - 30%
+ Chất xơ
:
20 - 30g/ngày
+ Protein
:
(kcal). Hàm lượng calo trong thức ăn được tính bằng số năng lượng có chứa
trong thức ăn. Để tạo ra năng lượng duy trì các hoạt động của cơ thể, các calo
này cần được đốt cháy. Tất cả các quá trình hóa học xảy ra trong cơ thể được
gọi là sự chuyển hóa quá trình trao đổi chất. Tùy thuộc vào thói quen sống,
tuổi tác và giới tính mức độ chuyển hóa dao động trong khoảng 18003000Kcal đối với nam giới và 1500-2500Kcal đối với nữ giới trong mỗi ngày
mỗi người cần có lượng Kcal như vậy.
Muốn có một chế độ dinh dưỡng hợp lý, phải tuân theo nguyên tắc ăn
đủ các chất và có tỷ lệ cân đối giữa các chất [24].
* Phân loại và nguồn gốc các chất dinh dưỡng
Các chất dinh dưỡng chủ yếu là glucid (chất bột, đường); protid (chất
đạm: thịt, cá, đậu ...), lipid (chất béo: mỡ ...). Ngoài ra còn có nước, các
vitamin và các chất khoáng, nhưng chỉ có glucid, lipid và protid là các chất
cung cấp năng lượng cho cơ thể: 1gam glucid chứa 4kcal; 1gam protid cũng
chứa 4kcal, nhưng 1gam lipid chứa 9kcal. Tức là 1gam mỡ cho kcal nhiều
hơn 2 lần so với 1 gam tinh bột hay 1 gam đạm [24].
Lipid chứa nhiều năng lượng và đem lại cho cơ thể nhiều chất không
thể thay thế được. Chất béo tham gia vào thành phần của các tế bào, các tổ
chức mô, tham gia vào nhiều chức năng sống quan trọng. Trong mỡ còn chứa
12
nhiều vitamin A, E, K, D. Vì vậy, ngay cả khi cơ thể bị thừa cân cũng không
được hoàn toàn không ăn mỡ. Trong 100gam sữa có khoảng 3gam chất béo,
thịt lợn nạc có 10 - 20gam, thịt bò thăn có 10-15gam, bơ có gần 85gam, ngoài
ra còn có nhiều trong đậu lạc vừng ... Nhu cầu về chất béo của cơ thể phụ
thuộc vào tuổi, mức độ hoạt động thể lực. Trong một ngày, trong khẩu phần
ăn của người trung niên không nên quá 50-60gam chất béo, trong đó khoảng
30% có nguồn gốc từ thực vật. Tỷ lệ phần trăm năng lượng do chất béo cung
cấp chiếm khoảng 20 - 25% [24]. Chất béo được chia ra thành mỡ đơn và mỡ
150
85
Sữa bò tươi
18
Sữa chua
Sức đặc có
đường
8
Trứng toàn
phần
Lòng đỏ
trứng
Thịt gà tây
Thịt gà hộp
Thịt lợn nạc
Bồ dục lợn
Chân giò lợn
Dăm bông
lợn
Gan lợn
3
Bơ
Thịt vịt
Sườn lợn
Tim lợn
70
Thịt lợn hộp
66
300
Cá chép
70
Mỡ lợn
95
Tôm đồng
200
Lươn
142
179
2
d2
n: số đối tượng cần nghiên cứu
α: Mức ý nghĩa thống kê
d = 0,05 (độ chính xác mong ước)
Zα/2: giá trị Z thu được từ bảng Z ứng với α được chọn. Ở
đây chọn α = 5%, nên Zα/2 tương ứng là 1,96 (khoảng tin cậy = 95%)
P: tỷ lệ rối loạn lipid máu trong cộng đồng. Hiện nay chưa
tìm thấy có điều tra trước đây về RLLM trong cộng đồng ở Việt Nam.
Do đó chọn p = 0,5
1,96 2 × 0,5 × 0,5
n=
≈ 384
0,0025
Cỡ mẫu là 384 người.
14
2.2.2.2. Cách chọn mẫu
Chọn 2 phường để nghiên cứu là phường Tây Lộc và phường Thuận
Hoà.
Tại mỗi phường chọn ngẫu nhiên từ 180-200 người từ 20 tuổi trở lên để
điều tra.
Phương pháp chọn: Bốc thăm ngẫu nhiên một hộ, tiến hành điều tra các
dọa tính mạng dẫn đến tử vong như: bệnh mạch vành, bệnh tăng huyết áp, béo
phì, đái đường ...
2.3.2.2. Thói quen ăn uống
- Phân bố đối tượng nghiên cứu ăn các nhóm thức ăn có ảnh hưởng
xấu, tốt đến RLLM.
+ Ăn nhiều mở, thịt động vật, chất béo.
+ Ăn nhiều rau, quả, cá.
+ Ăn nhiều tinh bột, đồ ngọt.
+ Khác, không xác định được.
2.3.2.3. Kiến thức điều trị và dự phòng RLLM
- Tỷ lệ người đã có đi xét nghiệm lipid máu: nghiên cứu những người
đã đi xét nghiệm lipid máu từ 5 năm trở lại đây.
- Tỷ lệ người có điều trị bằng phương pháp thay đổi chế độ ăn, tập thể
dục, kết hợp dùng thuốc hoặc dùng thuốc ngay từ đầu.
- Thói quen ăn các nhóm thức ăn trong ngày: Thức ăn nhiều thịt động
vật, rau quả hoặc tinh bột
- Thói quen sử dụng bia rưọu trong ngày.
- Mức độ sử dụng lượng bia rượu/ngày uống.
2.3.2.4. Nghiên cứu mối liên hệ giữa kiến thức và thói quen ăn uống ảnh
hưởng đến RLLM
- Nghiên cứu mối liên hệ giữa tỷ lệ người biết nguyên nhân RLLM với
thói quen ăn hàng ngày.
- Nghiên cứu mối liên hệ giữa tỷ lệ người biết nguyên nhân RLLM với
thói quen uống bia rượu trong ngày.
16
- Nghiên cứu mối liên hệ giữa tỷ lệ người biết nguyên nhân RLLM với
mứa độ sử dụng bia rượu trung bình/ngày.
387
100
Nhận xét: Trong tổng số 387 người điều tra, nữ giới chiếm tỷ lệ 59,2%
cao hơn nam giới.
3.1.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi
Bảng 3.2. Phân bố theo tuổi của đối tượng điều tra
Tuổi
20 - 30
31 - 40
41 - 50
51 - 60
> 60
Tổng cộng
Số lượng
44
73
130
77
63
387
Tỷ lệ %
11,4
18,9
33,6
19,9
16,3
100
8,8
2,6
100
Nông dân, công nhân (lao động chân tay) chiếm 41,6%, cán bộ chiếm
35,1%, Già, hưu trí chiếm 11,9%, buôn bán chiếm 8,8%, sinh viên chiếm
2,6%.
3.2. NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC VÀ THÓI QUEN ĂN UỐNG VỀ RỐI
LOẠN LIPID MÁU
3.2.1. Nghiên cứu kiến thức rối loạn lipid máu
3.2.1.1. Nghe thông tin về rối loạn lipid máu
Bảng 3.4. Nghe thông tin về rối loạn lipid máu
Thông tin về RLLM
Số lượng
Tỷ lệ %
Đã nghe
146
37,7
Chưa nghe
241
62,3
Tổng cộng
387
100
Nhận xét: Số người đa nghe nói về RLLM qua phương tiện thông tin
đại chúng, tư vấn của thầy thuốc… chiếm tỷ lệ thấp 37,7%, những người chưa
nghe chiếm cao hơn 62,3%.
3.2.1.2. Biết được nguy cơ bệnh lý nguy hiểm do RLLM gây ra
Bảng 3.5. Biết nguy cơ do RLLM
Biết bệnh
203
184
387
Tỷ lệ %
52,5
47,5
100
Biểu đồ 3.2. Phân bố đối tượng biết nguyên nhân gây nên RLLM
Nhận xét: Số người biết nguyên nhân gây nên RLLM chiếm cao hơn
52,5% so với người không biết nguyên nhân 47,5%.
20
3.2.1.4. Tình hình đối tượng đã xét nghiệm lipip máu và biết được bệnh lý
do RLLM gây ra hoặc có liên quan với RLLM
Bảng 3.7. Phân bố đối tượng biết ít nhất một bệnh do RLLM gây ra
hoặc có liên quan
Bệnh do RLLM gây ra
Số lượng
Tỷ lệ %
Biết
120
31,0
Không biết
267
69,0
Tổng cộng
86
84,7
Tổng cộng
102
100
Biểu đồ 3.3. Phân bố đối tượng biết có RLLM khi đã xét nghiệm
21
Nhận xét: Trong số 102 người đã xét nghiệm bilan lipid máu số người
biết có RLLM chiếm tỷ lệ thấp 15,3%, số người không có hoặc không biết có
RLLM hay không chiếm tỷ lệ cao 84,7%.
3.2.2. Hành vi dự phòng và điều trị rối loạn lipid máu
3.2.2.1. Hành vi dự phòng về RLLM
Bảng 3.10. Lý do đi xét nghiệm bilan lipid máu
Lý do
Khám sức khỏe
Bác sĩ chỉ định
Bản thân yêu cầu
Trạm y tế mời theo dự án
Tổng cộng
Số lượng
16
18
5
63
102
3.2.2.3. Phân bố các phương pháp điều trị RLLM bước đầu đã áp dụng ở các
đối tượng có điều trị RLLM
Bảng 3.12. Phân bố tỷ lệ các phương pháp điều trị RLLM bước đầu đã áp dụng
Cách điều trị
Uống thuốc
Hoạt động thể lực, đi bộ
Thể dục và uống thuốc
Đi bộ và giảm ăn thịt mỡ
Tổng cộng
Số lượng
4
1
1
4
10
Tỷ lệ %
40
10
10
40
100
22
Biểu đồ 3.4. Phân bố đối tượng có cách điều trị RLLM
Nhận xét: Với 10/16 người có RLLM đã và đang điều trị thì có 50% có
sử dụng thuốc ngay từ khi bắt đầu điều trị, 50% áp dụng chế độ ăn và hoạt