ĐỔI mới nội DUNG và PHƯƠNG PHÁP GIẢNG dạy TRIẾT học ở VIỆT NAM HIỆN NAY cơ sở lý LUẬN và THỰC TIỄN - Pdf 38

ĐỔI MỚI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
TRIẾT HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Đặng Hữu Tồn(*)

Trong bối cảnh của cơng cuộc đổi mới đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, sự nghiệp đổi mới và chấn hưng nền giáo
dục nước nhà đang đứng trước những nhiệm vụ hết sức bức thiết.
Trong bối cảnh đó, cũng như bất cứ ngành khoa học nào khác, triết
học với tư cách một khoa học cũng cần phải có sự đổi mới. Sự đổi
mới này, trước hết phải được thể hiện trong giảng dạy cho mọi đối
tượng, trước hết cho một đối tượng hết sức đặc thù là học viên cao
học và nghiên cứu sinh triết học - những người có nhiệm vụ truyền
thụ tri thức triết học cho các đối tượng khác. Bởi lẽ, như các nhà
sáng lập chủ nghĩa Mác đã từng nhấn mạnh, để phát triển sự nghiệp
giáo dục thì bản thân những người làm cơng tác giáo dục cũng phải
được giáo dục. Để có được sự đổi mới này, chúng ta cần phải có sự
đổi mới từ những khâu được coi là then chốt nhất - nội dung và
phương pháp giảng dạy. Song, triết học là một mơn khoa học đặc
thù và do vậy, đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy khơng
thể khơng tính đến tính đặc thù của nó để trên cơ sở đó, làm rõ cơ sở
lý luận và thực tiễn cho việc đổi mới này.
1. Đặc thù của tri thức triết học là ở chỗ, tri thức triết học
mang tính khái qt hóa, trừu tượng hóa cao trong sự phản ánh hiện
thực khách quan, được biểu đạt bằng hệ thống các khái niệm, phạm
trù, ngun lý, quy luật. Hơn nữa, triết học là một khoa học lý luận,
chứ khơng phải một khoa học thực nghiệm. Với tư cách này, triết
(*)

Phó giáo sư, tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.


loại bước sang một giai đoạn phát triển mới, mỗi khi đời sống xã
hội có sự thay đổi mang tính bước ngoặt, chẳng hạn như trong giai
đoạn tồn cầu hóa hiện nay hay trong cơng cuộc đổi mới ở nước ta
hiện nay, triết học ln nhìn nhận lại bản thân mình, đánh giá lại vị
trí và vai trò của mình để khơng chỉ có sự thay đổi và phát triển cho
phù hợp với sự thay đổi và phát triển của thời đại, của đời sống xã
hội, mà còn có thể đưa ra những tiên đốn, dự báo về xu hướng vận
động, biến đổi và phát triển tiếp theo của thời đại, của đời sống xã
hội.
Do vậy, khi đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy triết
học, chúng ta cũng phải tính đến sự biến đổi này. Bởi lẽ, trong kỷ
ngun tồn cầu này, triết học khơng thể đứng ngồi các vấn đề của

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA 2015

57


tồn cầu hóa, đặc biệt là các vấn đề về bản chất, nội dung, đặc điểm,
ngun nhân của tồn cầu hóa; tác động của tồn cầu hóa, cả theo
hướng tích cực lẫn tiêu cực, đến cuộc sống con người, trong đó
khơng thể thiếu đời sống tinh thần. Với cơng cuộc đổi mới ở nước ta
hiện nay, triết học khơng thể khơng tham gia vào đời sống chính trị
- xã hội của đất nước, nhất là vấn đề giữ vững sự ổn định về chính
trị - xã hội, bảo vệ độc lập dân tộc trước âm mưu “diễn biến hòa
bình” của các thế lực thù địch; xác định định hướng phát triển cho
đất nước; thực hiện dân chủ hóa và nhân văn hóa đời sống xã hội;
phát triển kinh tế tri thức vì sự phát triển bền vững của đất nước;
phát triển con người Việt Nam tồn diện; bảo vệ và cải thiện mơi
trường sống; thực hiện an sinh xã hội; giữ gìn và phát huy các giá trị



vọng dân chủ, tự do và bình đẳng với tư cách những thuộc tính vốn
có của cả cộng đồng nhân loại và của mỗi con người. Hơn thế nữa,
triết học còn phải trở thành và nhất thiết phải trở thành trung tâm
cho q trình thống hợp văn hóa trên cơ sở thay đổi lối triết lý một
chiều truyền thống của mình.
3. Trên thực tế, trong kỷ ngun tồn cầu này, khi cả cộng
đồng nhân loại, mỗi quốc gia, dân tộc, mỗi con người đều phải đối
diện với những nguy cơ và thách thức của tồn cầu hóa, với tính
chất nan giải của những vấn đề tồn cầu. Thế nhưng, trong nghiên
cứu và giảng dạy triết học đã có khơng ít người cho rằng, triết học
khơng đóng vai trò gì, khơng có tác dụng thiết thực nào đối với việc
giải quyết những vấn đề tồn cầu. Theo họ, do đối tượng của triết
học q chung, q cao siêu và thêm nữa, triết học khơng có
phương pháp và thiết bị nghiên cứu riêng của mình như các khoa
học tự nhiên nên tính chân lý trong các kết quả nghiên cứu triết học
khơng được đảm bảo, sức hấp dẫn, sự lơi cuốn người học trong
giảng dạy triết học khơng cao. Trái ngược với quan điểm này,
khơng ít người lại tuyệt đối hóa hoặc q đề cao vai trò của triết học
trong đời sống khi khẳng định rằng, chỉ cần nắm được triết học thì
sẽ giải quyết được tất cả các vấn đề cụ thể của cuộc sống, kể cả
những vấn đề nan giải nhất. Điều này khiến người học tỏ ra nghi
ngờ và thiếu tin tưởng vào vai trò của triết học trong đời sống và do
vậy, hiệu quả nghiên cứu và giảng dạy triết học khơng cao. Cả hai
thái cực này đều cần phải được tính đến khi đổi mới nội dung và
phương pháp giảng dạy cho học viên cao học và nghiên cứu sinh
chun ngành triết học nhằm giúp cho họ có được nhận thức đúng
đắn rằng, trong kỷ ngun tồn cầu này, để giải quyết một cách có
hiệu quả những vấn đề cụ thể của cuộc sống, cần phải có sự kết hợp

thức đúng đắn rằng, sự phát triển của văn hóa, văn minh khơng phải
và khơng thể trở thành ngun nhân khiến cho mâu thuẫn giữa các
cộng đồng xã hội, giữa các nền văn hóa dân tộc trở nên sâu sắc; trái
lại, đó chính là điều kiện, là cơ hội thuận lợi để các dân tộc xích lại
gần nhau, để các cộng đồng dân tộc giữ gìn và phát huy bản sắc
riêng có của mình và để cho các giá trị văn hóa, văn minh có sự tiếp
biến lẫn nhau. Rằng, việc giải quyết mối quan hệ giữa các nền văn
hóa, văn minh trong kỷ ngun tồn cầu này, trong xu thế khách
quan, tất yếu của tồn cầu hóa, của sự phát triển trong đa dạng ln
cần đến cách tiếp cận triết học. Bởi lẽ, cách tiếp cận triết học cho
chúng ta thấy được cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực của một q
trình- tiếp thu những thành tựu văn hóa, văn minh nhân loại gắn với
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Trong kỷ ngun tồn
cầu này, thế giới đang bộc lộ rõ khuynh hướng đa dạng hóa các nền
văn hóa, văn minh và sự phát triển của mỗi cộng đồng dân tộc
khơng thể khơng gắn với sự gia tăng giao lưu văn hóa, văn minh
tồn cầu. Và, triết học với tư cách hạt nhân lý luận của văn hóa, là
linh hồn sống của văn minh đang trở thành một trong những cơ sở
nền tảng cho sự giao lưu liên văn hóa. Đến lượt mình, giao lưu liên

60

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO


văn hóa với tư cách một lĩnh vực khoa học mới và ngày càng phát
triển chính là lực đẩy có tính chất cốt tử của nền văn minh nhân loại,
trong đó bao hàm cả các truyền thống triết học và do vậy mà cả lịch


KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA 2015

61


lượng cho các chun đề về lịch sử triết học, nhất là các chun đề
về những trường phái, trào lưu, những nền triết học đã để lại những
dấu ấn sâu đậm trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại, mà triết
học Mác - Lênin là đỉnh cao trong số đó.
Thêm vào đó, trong kỷ ngun tồn cầu này, kỷ ngun mà ở
đó, khơng chỉ có sự bùng nổ của khoa học và cơng nghệ hiện đại với
những bước tiến nhảy vọt và những đột phá lớn; vai trò và vị thế
của kinh tế tri thức ngày một gia tăng; tồn cầu hóa, mở cửa và hội
nhập quốc tế đã trở thành xu thế khách quan, tất yếu, mà còn có sự
nảy nở và bùng phát với tốc động ngày càng gia tăng của những trào
lưu và xu hướng tiến bộ, vị thế và vai trò của tri thức triết học, tư
duy triết học ngày càng trở nên hết sức quan trọng. Những giá trị
nhân loại chung, như tự do, dân chủ, nhân quyền, cơng bằng, bình
đẳng, bác ái, tiến bộ xã hội,... thường gắn bó hữu cơ với sự phát
triển của tri thức triết học, tư duy triết học. Những thành tựu văn
hóa, văn minh mang ý nghĩa nhân đạo, nhân văn, những giá trị đạo
đức, thẩm mỹ mang tính vĩnh hằng cũng thường chỉ nảy nở, xuất
hiện, tồn tại và phát triển trong những mơi trường xã hội mà ở đó,
tri thức triết học và bản thân triết học được tơn vinh, được đối xử
một cách nghiêm túc, trọng thị, trở thành cơ sở lý luận nền tảng cho
sự hình thành và phát triển năng lực tư duy lý luận. Một mơi trường
xã hội thiếu tri thức triết học, tư duy triết học thấp kém cũng chính
là một mơi trường xã hội mà ở đó, dẫu có sự hiện diện của những
thành tựu văn hóa, văn minh, của những giá trị đạo đức, thẩm mỹ

đa dạng, phong phú, giàu sức sống và đậm đà bản sắc dân tộc, với
chiều sâu tư tưởng, với bản lĩnh vững vàng trước những thử thách
cam go của lịch sử. Trong suốt chiều dài lịch sử tồn tại và phát triển
của đất nước mình, dân tộc mình, chúng ta đã tạo dựng nên nhiều
truyền thống văn hóa tốt đẹp, nhiều hệ giá trị có sức sống trường
tồn, song chúng ta vẫn phải thẳng thắn thừa nhận rằng, ở một chừng
mực nào đó và do những hồn cảnh lịch sử - cụ thể quy định, người
Việt Nam chúng ta còn thiếu sự độc lập về tư duy triết học, còn yếu
kém trong việc tạo dựng tư tưởng triết học với đúng nghĩa của nó;
dân tộc Việt Nam chúng ta còn thiếu những nhà triết học mang tầm
cỡ nhân loại, thế giới. Có lẽ, chính vì thế mà cho đến nay, chúng ta
vẫn chưa có được một bộ giáo trình mang tầm cỡ nào đó về các nhà
tư tưởng Việt Nam trong lịch sử và đương đại mà ít nhiều, trong tư
tưởng chính trị - xã hội của họ có tư tưởng triết học. (2
Thực tế này là điều mà chúng ta cần phải tính đến, khơng chỉ
đối với việc phát triển nền triết học Việt Nam, phong cách tư duy
triết học Việt Nam, mà còn đối với việc nghiên cứu và giảng dạy tư
tưởng triết học Việt Nam ở nước ta hiện nay và đương nhiên, trong
đó có cả việc đổi mới nội dung các chun đề về lịch sử tư tưởng
triết học Việt Nam cho đối tượng mà chúng ta đang bàn đến ở đây học viên cao học và nghiên cứu sinh triết học.
Từ thực tế nói trên, việc đổi mới nội dung các chun đề về
(2) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.1, tr.157, 156.

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA 2015

63


lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, trước hết chúng ta cần phải làm
rõ trong hệ thống tư tưởng chính trị - xã hội của các nhà tư tưởng

số phận của cá nhân con người và tư tưởng triết học về vận mệnh
của đất nước, của dân tộc Việt Nam và do vậy, là sắc thái đặc thù
của tư duy triết học Việt Nam.

64

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO


Trước đây, tư tưởng triết học Việt Nam ít nhiều đã có sự giao
lưu với các trường phái, các tư tưởng triết học thế giới và khu vực.
Ngày nay, khi mở cửa giao lưu văn hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
vừa là cơ hội, vừa là thách thức mới đối với Việt Nam, bản thân tư
tưởng triết học Việt Nam cũng cần phải tự đổi mới để phát triển, để
có được một diện mạo mới, một sắc thái mới, một vị trí xứng đáng,
một vai trò ngày càng có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống tinh
thần xã hội, trong việc tham gia lựa chọn và thực hiện định hướng
phát triển đất nước, triết lý phát triển Việt Nam. Do vậy, việc nhận
thức lại tư duy triết học truyền thống của người Việt Nam và lựa
chọn, kế thừa những giá trị trong tư duy triết học nhân loại để làm
giàu thêm, phong phú hơn, đa dạng hơn, sâu sắc hơn tư duy triết học
truyền thống đó - đó là điều cần thiết để tư tưởng triết học Việt Nam
tự đổi mới, phát triển và hội nhập tích cực với triết học thế giới.
Theo đó, có thể nói, việc nhận thức lại tư duy triết học truyền thống
của người Việt Nam trong bối cảnh cần có sự giao lưu, tiếp biến với
tư tưởng triết học nhân loại, thế giới cũng là điều cần phải được
qn triệt khi đổi mới nội dung các chun đề về lịch sử tư tưởng
triết học Việt Nam nhằm trang bị cho người học niềm tin khoa học,

Mác - Lênin khơng chỉ là ở bản chất cách mạng triệt để và tính khoa
học thật sự sâu sắc của nó, ở vai trò thế giới quan và phương pháp
luận của nó - kim chỉ nam cho hoạt động nhận thức và cải tạo thế
giới của cả nhân loại tiến bộ, mà còn ở sự thống nhất hữu cơ giữa lý
luận và thực tiễn - cái mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác- Lênin
ln coi là ngun tắc nền tảng khi xây dựng học thuyết của mình.
Triết học Mác - Lênin, khi kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc
phục những thiếu sót trong trong quan điểm về thực tiễn của triết
học trước đó, đã đem lại một quan điểm đúng đắn, khoa học về thực
tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại
và phát triển của xã hội lồi người. Và, khi đưa phạm trù thực tiễn
với tư cách hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã
hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội vào triết học,
vào lý luận, đồng thời coi đó là cơ sở, động lực, mục đích của nhận
thức và là tiêu chuẩn khách quan, tối cao của chân lý, các nhà sáng
lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã thực hiện một bước chuyển biến cách
mạng trong triết học, trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận
thức nói riêng. Với phạm trù thực tiễn và khi coi sự thống nhất hữu
cơ giữa lý luận và thực tiễn là ngun tắc nền tảng trong hệ thống
triết học của mình, các ơng ln nhấn mạnh rằng, triết học, học
thuyết của các ơng khơng phải là giáo điều, mà là kim chỉ nam cho
hành động.
Thực tiễn cho thấy, triết học Mác - Lênin khơng thể trở nên lỗi
thời, lạc hậu với thời đại, nếu nó khơng bị tuyệt đối hóa, nếu nghiên
cứu và vận dụng nó trên cơ sở gắn kết nghiên cứu lý luận với tổng kết
thực tiễn lịch sử nhân loại và thời đại trên tinh thần của ngun tắc
thống nhất hữu cơ giữa lý luận và thực tiễn, trên tinh thần biện chứng
mà quan hệ hữu cơ giữa biện chứng khách quan và biện chứng chủ

66

hóa, thành “triết học thế tục”, còn thế giới thì trở thành “thế giới
triết học”. Rằng, “triết học khơng hứa hẹn gì cả ngồi chân lý”,
khơng đòi hỏi phải tin tưởng vào các kết luận của nó, mà “đòi hỏi
kiểm nghiệm những điều hồi nghi”(3).
Trên thực tế, triết học Mác – Lênin, từ khi ra đời cho đến nay,
ln là một hệ thống lý luận mở. Nó khơng những khơng lảng tránh,
mà còn ln nhìn thẳng vào sự thật, lấy cái bất biến là thế giới quan
duy vật biện chứng và ý nghĩa phương pháp luận để hướng dẫn, giải
quyết những vấn đề cơ bản và bức thiết do thực tiễn, do hiện thực
(3) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.1, tr.157,159.

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA 2015

67


cuộc sống đặt ra; đồng thời nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, khái qt
lý luận và dự báo tương lai. Khơng chỉ thế, triết học Mác - Lênin
còn ln đối xử với các hệ thống, trường phái, trào lưu triết học
khác cũng theo cách đó, theo tinh thần đó để khơng bác bỏ chúng
một cách sạch trơn, mà kế thừa và tiếp thu những hạt nhân hợp lý,
những tinh hoa của chúng. Chính vì thế mà bản thân triết học Mác Lênin ln có khả năng tự đổi mới và phát triển, trở thành kim chỉ
nam cho hành động, mở đường và hướng dẫn cho nhân loại tiến bộ
tiếp tục tìm kiếm và nhận thức chân lý của thời đại.
Trên tinh thần đó, việc đổi mới nội dung các chun đề triết
học rất nên và cũng là cần phải được thực hiện theo hướng mở
nhằm khơi dậy và gợi mở tư duy sáng tạo, khả năng và năng lực vận
dụng với những suy tư độc lập, sáng tạo của người học.
Thêm một điểm nữa cần phải được tính đến và qn triệt khi
đổi mới nội dung các chun đề và phương pháp giảng dạy triết học

sử nhân loại, một số luận điểm, quan điểm nào đó của triết học Mác
- Lênin đã trở nên khơng còn thích hợp với điều kiện lịch sử mới,
song khơng phải vì thế mà nó mất đi ý nghĩa thời đại. Bản chất cách
mạng và tính khoa học của nó vẫn mãi trường tồn trong thời đại
ngày nay, với lịch sử nhân loại trong tương lai. Nó vẫn là cơ sở nền
tảng để chúng ta khẳng định việc kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin.
Với cơng cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, việc kiên trì chủ nghĩa
Mác - Lênin với “linh hồn sống” của nó là triết học vẫn là “vấn đề
có tính ngun tắc số một”.
Theo đó, cả trong đổi mới nội dung lẫn trong đổi mới phương
pháp giảng dạy phải làm sao cố gắng thể hiện được điều này và khi
giảng dạy trên lớp phải luận giải được vì sao có tình trạng đó nhằm
giúp cho người học tự tìm ra và nhận thức đúng những hạn chế cần
phải bổ sung, phát triển, những luận điểm, quan điểm đã bị thực tiễn
vượt qua và cần phải được làm phong phú thêm bởi thực tiễn mới
của thời đại cho triết học Mác - Lênin và qua đó, giúp họ khơng chỉ
phát huy năng lực sáng tạo, độc lập suy nghĩ để bổ sung, phát triển
triết học Mác - Lênin, mà còn giành thắng lợi trong đấu tranh chống
lại những điều xun tạc, sai trái nhằm phủ định sạch trơn hệ thống
triết học vĩ đại này.
8. Luận bàn thêm về đổi mới phương pháp giảng dạy triết học,
trước hết cần phải thấy rằng, trong giảng dạy có thể sử dụng nhiều
phương pháp, cả những phương pháp truyền thống lẫn những
phương pháp hiện đại. Một chủ đề, chun đề, bài giảng, chúng ta
đều có thể sử dụng một phương pháp nào đó và cũng có thể sử dụng
nhiều phương pháp theo lối lồng ghép, kết hợp một cách hợp lý các
phương pháp dó. Song, việc lựa chọn phương pháp nào, các phương
pháp nào để kết hợp thì lại tùy thuộc khơng chỉ vào nội dung chun
đề cần giảng dạy, mà còn vào đối tượng nghe giảng.
Triết học là mơn khoa học đặc thù, mang tầm khái qt và tính

tượng ở mức độ cao. Hơn nữa, rất nhiều vấn đề triết học khơng thể
cụ thể hóa, đơn giản hóa một cách tầm thường và do vậy, phương
pháp thuyết trình, có thể nói, vẫn là phương pháp ưu trội trong việc
giảng dạy triết học, vẫn là phương pháp khơng thể thay thế trong
việc truyền đạt đến người học những vấn đề triết học trừu tượng,
mang tầm khái qt cao một cách sống động và có sức thuyết phục.
Trong điều kiện dạy và học ở nước ta hiện nay, việc tìm kiếm một
phương pháp nào đó khả dĩ có thể thay thế được phương pháp
thuyết trình trong giảng dạy triết học, có lẽ là điều khơng thể.
Thêm nữa, với phương pháp thuyết trình, người giảng có thể
truyền đạt cho người học một lượng kiến thức lớn với tính lơgíc và
tính hệ thống cao. Với phương pháp này, người giảng được hồn
tồn chủ động về thời gian và do vậy, có thể truyền đạt tới người
học những vấn đề, nội dung trọng tâm của chun đề cần giảng. Với
việc giảng dạy triết học, những ưu thế này của phương pháp thuyết
trình lại càng rõ, càng nổi bật và do vậy, khơng một phương pháp

70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO


nào có thể thay thế nó trong giảng dạy triết học. Thế nhưng, với
phương pháp thuyết trình, việc giảng dạy và học tập triết học theo
cách nói - nghe mà người giảng khơng hay, nội dung giảng nghèo
nàn, thiếu sức hấp dẫn; còn người học thì khơng nghe được hay
khơng muốn nghe, nghe mà khơng lĩnh hội được nội dung cần lĩnh
hội một cách đầy đủ, có hệ thống từ những điều giảng giải của

71




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status