TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
VIỆN MÔI TRƯỜNG
THUYẾT MINH
ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƯỜNG
Đề tài: “ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ TIẾT KIỆM NĂNG
LƯỢNG NHẰM THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG XANH CỦA
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chủ nhiệm đề tài : THS.TRẦN ANH TUẤN
Hải Phòng, tháng 5/2016
1
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỜNG XANH....................................................... 3
1.1.CÁC KHÁI NIỆM VỀ TĂNG TRƯỞNG XANH............................................................. 6
1.2.KINH NGHIỆM TĂNG TRƯỞNG XANH TRÊN THẾ GIỚI....................................... 8
1.3.TĂNG TRƯỞNG XANH TẠI VIỆT NAM ..................................................................... 11
1.3.1. Thực tiễn tăng trưởng xanh ở Việt Nam. ..................................................................... 11
1.3.2. Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam................................................................. 13
CHƯƠNG 2. TĂNG TRƯỞNG XANH TẠI HẢI PHÒNG .................................................... 17
2.1. HIỆN TRẠNG TĂNG TRƯỞNG CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ........................ 17
2.2. NHỮNG CƠ HỘI TĂNG TRƯỞNG XANH CỦA HẢI PHÒNG ............................... 20
2.3. KẾ HOẠCH TĂNG TRƯỞNG XANH CỦA HẢI PHÒNG......................................... 23
CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỜNG
XANH TẠI HẢI PHÒNG ........................................................................................................... 26
3.1. GIẢI PHÁP VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN ............................................................ 26
MỞ ĐẦU
- Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Tăng trưởng xanh đang là xu thế tất yếu của toàn thế giới trong giai đoạn hậu khủng
khoảng kinh tế và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Việt Nam cũng không nằm
ngoài xu thế này, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Chiến lược quốc gia về tăng trưởng
xanh và Kế hoạch hành động Quốc gia về Tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020. Để
triển khai Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, thành phố Hải Phòng cũng đã xây
dựng Chương trình hành động chiến lược tăng trưởng xanh của Thành phố Hải Phòng.
Mục tiêu phát triển của thành phố Hải Phòng là trở thành “Thành phố Cảng xanh” (Green
Port City). Do vậy, các giải pháp cụ thể để thúc đẩy tăng trưởng xanh thành phố Hải
Phòng là rất cần thiết để cụ thể hóa mục tiêu phát triển của thành phố.
- Tổng quan về tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
Các nghiên cứu về tăng trưởng xanh của các quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm
cho Việt Nam đã và đang được triển khai nhiều. Tại Hải Phòng, nhiều hội thảo về tăng
trưởng xanh cho thành phố cũng đã được tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà khoa học,
nhà quản lý kinh tế trong nước và quốc tế. Hải Phòng cũng đang nhận được sự giúp đỡ
của tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế (OECD) để hoạch định chính sách xây dựng mô
hình tăng trưởng xanh cho thành phố. UBND thành phố Hải Phòng cũng đang kết hợp với
chính quyền thành phố Kitakyusyu (Nhật Bản) xây dựng quy hoạch thúc đẩy tăng trưởng
xanh thành phố Hải Phòng.
- Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là đề xuất một số giải pháp về bảo vệ môi trường và sử dụng
năng lượng để góp phần triển khai quy hoạch thúc đẩy tăng trưởng xanh thành phố Hải
Phòng đã được phê duyệt.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi
trường và sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả đã được đề cập trong quy hoạch thúc
đẩy tăng trưởng xanh thành phố Hải Phòng.
4
triển kinh tế xanh (tăng trưởng xanh) bắt đầu được phát triển. Đến năm 2008,
Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã phát động “Sáng kiến kinh tế
xanh” nhằm tăng cường phối hợp và hợp tác quốc tế để ứng phó với khủng hoảng
tài chính và xử lý các vấn đề môi trường toàn cầu nhằm hướng tới phát triển bền
vững của kinh tế thế giới.
Trong nhiều diễn đàn kinh tế (Hội nghị Bác Ngao, Tương lai Châu Á,
WEF...) và khuân khổ hợp tác thế giới (G8, ESCAP...) vấn đề phát triển xanh cũng
được đề cập đến như một phần nội dung chính. Trong hội nghị Thượng đỉnh G8
diễn ra tại Italia từ ngày 8 đến 10/7/2009 cũng đã nhấn mạnh các biện pháp kích
thích tăng trưởng kinh tế của G8 phải ưu tiên khuyến khích tạo việc làm “xanh” và
hướng tới tăng trưởng bền vững, sử dụng hiệu quả năng lượng; cam kết nỗ lực
giảm hoặc dỡ bỏ các rào cản đối với hàng hóa, dịch vụ liên quan trực tiếp đến ứng
phó biến đổi khí hậu, v.v...
Hiện nay trên thế giới có nhiều khái niệm về tăng trưởng xanh, điều này
phản ánh những sự tiếp cận khác nhau trong vấn đề này. Sau đây là một số khái
niệm của các tổ chức và quốc gia trên thế giới về tăng trưởng xanh.
Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP): "Tăng trưởng xanh
là định hướng mới thúc đẩy kinh tế phát triển theo những mô hình tiêu thụ và sản
xuất bền vững, nhằm đảm bảo nguồn vốn tự nhiên tiếp tục cung cấp những nguồn
lực và dịch vụ sinh thái mà đời sống của chúng ta phụ thuộc vào, cho thế hệ này
cũng như cho những thế hệ mai sau” (Chương trình Môi trường của Liên Hiệp
Quốc, 2006).
Còn Ngân hàng Thế giới (World Bank) thì cho rằng “Tăng trưởng xanh là
quá trình tăng trưởng sử dụng tài nguyên hiệu quả, sạch hơn và tăng cường khả
năng chống chịu mà không làm chậm quá trình này.” (World Bank, 2005)
Khái niệm tăng trưởng xanh của Hàn Quốc năm 2008: “Tăng trưởng xanh là
sự tăng trưởng đạt được bằng cách tiết kiệm và sử dụng các nguồn tài nguyên và
năng lượng hiệu quả để giảm thiểu biến đổi khí hậu và thiệt hại tới môi trường, tạo
ra các động lực tăng trưởng mới thông qua nghiên cứu và phát triển công nghệ
6
xanh, phát triển các ngành công nghiệp cao, sử dụng ít tài nguyên, áp dụng các biện
pháp sản xuất sạch;
4. Xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững;
5. Bảo vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên;
7
6. Cải tổ và áp dụng các công cụ kinh tế;
7. Xây dựng và thực hiện các chỉ số sinh thái.
1.1.
KINH NGHIỆM TĂNG TRƯỞNG XANH TRÊN THẾ GIỚI
Phát triển nền kinh tế xanh đang trở thành một trong những ưu tiên của nhiều
nước trên thế giới, bao gồm cả các nước phát triển và đang phát triển để ứng phó
với khủng hoảng kinh tế cũng như trong chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu và
vấn đề ô nhiễm môi trường. Nhiều nước rất chú trọng vấn đề phát triển xanh trong
các gói kích thích kinh tế và trong chiến lược phát triển dài hạn như Mỹ, EU, Trung
Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước đang phát triển ở Châu Á, Mỹ Latinh.
Đầu tư cho phát triển xanh hiện chiếm 14% tổng giá trị các gói kích thích kinh tế
toàn cầu (khoảng 3 nghìn tỷ USD), trong đó tập trung vào:
(1) Xây dựng nhà ở sử dụng hiệu quả năng lượng (Mỹ đầu tư khoảng 100 tỷ
USD trong 4 năm cho phát triển nhà ở sử dụng hiệu quả năng lượng; Pháp đặt mục
tiêu giảm 40% tiêu thụ năng lượng sinh hoạt đến 2020, v.v…);
(2) Năng lượng thay thế và tái tạo (đầu tư vào năng lượng tái tạo ở Trung
Quốc tạo ra 1 triệu việc làm; Ấn Độ đặt mục tiêu đầu tư năng lượng sinh học tạo
900 nghìn việc làm đến năm 2025, v.v…);
(3) Giao thông tiết kiệm năng lượng;
(4) Phát triển nông nghiệp bền vững, sử dụng nước hiệu quả (Mỹ đầu tư 6 tỷ
USD cho hạ tầng nước sạch trong 2 năm 2009-2010, Hàn Quốc đầu tư 12 tỷ USD
lượng, song cũng bộc lộ mâu thuẫn sâu sắc giữa các nhóm lợi ích Mỹ, đặc biệt là
sự phản ứng của nhóm lợi ích trong các ngành vận tải, hàng không, ôtô, dầu mỏ…
cũng như thói quen tiêu dùng nhiều nhiên liệu, năng lượng của người dân Mỹ. [3]
Năm 2008, các nước EU đã thông qua luật bảo vệ môi trường với trọng tâm:
(1) Đặt mục tiêu đến năm 2020 tăng tỷ trọng sử dụng năng lượng tái tạo từ
8,5% hiện nay lên 20% và giảm 20% lượng khí nhà kính;
(2) Đầu tư 0,5% GDP của EU cho việc thực hiện các mục tiêu nói trên;
(3) Áp dụng chế độ cấp hạn ngạch khí thải cho các ngành công nghiệp, theo
đó từ 2013 trở đi EU bán đấu giá 60% giấy phép hạn ngạch khí thải trong lĩnh vực
năng lượng và đến 2020 tất cả các công ty công nghiệp đều phải mua giấy phép hạn
ngạch khí thải (trừ một số ngành như luyện kim, xi măng, hóa chất …). Đáng lưu ý,
EU đi tiên phong khích đầu tư và tiêu dùng trong các ngành kinh tế xanh. Đức hàng
năm dành 1/3 số tiền thu được từ đấu giá hạn ngạch khí thải trong Chương trình
mua bán khí thải Châu Âu để hỗ trợ phát triển và chuyển giao công nghệ sạch. [3]
Hàn Quốc gần đây ưu tiên rất cao cho phát triển xanh không chỉ nhằm giải
quyết thách thức năng lượng, môi trường mà còn tạo động lực tăng trưởng mới để
rút ngắn khoảng cách với nhóm nước phát triển hàng đầu (G7). Tại Lễ kỷ niệm 60
9
năm quốc khánh, Tổng thống Li- Miung-Bắc đưa ra tầm nhìn mới “carbon thấp,
tăng trưởng xanh”, coi đây là nền tảng cho phát triển của Hàn Quốc với mục tiêu
chuyển từ mô hình phát triển phụ thuộc năng lượng hóa thạch, tăng trưởng theo
chiều rộng sang mô hình phát triển dựa vào năng lượng tái tạo, tăng trưởng theo
chiều sâu và bền vững môi trường. Tháng 1/2009, Hàn Quốc thông qua kế hoạch
phát triển xanh (Green New Deal) gồm 36 dự án trị giá 37,8 tỷ USD, tạo 1 triệu
việc làm trong 4 năm 2009-2012 nhằm đổi mới công nghệ, tăng cường năng lực
cạnh tranh và nâng cao chất lượng sống ở Hàn Quốc. Các hạng mục chính của Kế
hoạch này gồm: (i) Tái cơ cấu kinh tế theo hướng sử dụng năng lượng hiệu quả,
trong đó ưu tiên 9 ngành chủ lực là thép, đóng tàu, chế tạo máy, ôtô, hóa dầu, dệt
dần sang mô hình tăng trưởng sử dụng hiệu quả năng lượng. Trung Quốc đang cơ
cấu lại 10 ngành, nghề chủ chốt (thép, ôtô, xi măng, v.v…) nhằm tạo việc làm,
nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời bước đầu hiện đại hóa các ngành này để
tiếp cận công nghệ xanh, nhất là các ngành gây nhiều ô nhiễm. Với ôtô, Trung
Quốc chuyển hướng chiến lược sang sản xuất ôtô tiết kiệm năng lượng và sử dụng
năng lượng mới; với ngành thép, khống chế sản lượng ở mức 300 triệu tấn/năm,
loại bỏ công nghệ lạc hậu. [3]
Tại một số nước ASEAN, Indonesia đang triển khai “Chương trình năng
lượng 2025”, trong đó phấn đấu giảm tỷ lệ sử dụng dầu thô xuống còn 20% tổng
nhu cầu năng lượng; phát huy lợi thế trồng cọ và dầu gai để phát triển nhiên liệu
sinh học. Indonesia chủ động hợp tác với nhiều nước (Ấn Độ, Brazil, Hàn Quốc…),
khuyến khích đầu tư nước ngoài vào sản xuất nhiên liệu sinh học và sinh khối
(biomass). Thái Lan khuyến khích đầu tư và sử dụng nhiên liệu sinh học, nhất là
trong các ngành vận tải (nhiên liệu sinh học hiện chiếm 20% nhu cầu nhiên liệu
trong ngành vận tải ở Thái Lan). Philippines đã ban hành Chương trình phát triển
xanh, tranh thủ hỗ trợ của ADB để phát triển các dự án tái chế và thải ít carbon. [3]
1.2.
TĂNG TRƯỞNG XANH TẠI VIỆT NAM
1.3.1. Thực tiễn tăng trưởng xanh ở Việt Nam.
Phát triển kinh tế ở Việt Nam những năm qua chủ yếu dựa vào khai thác tài
nguyên, xuất khẩu nguyên liệu thô và sơ chế. Phát triển bền vững là chủ trương lớn
nhưng chưa được thực hiện triệt để. Mặc dù Chính phủ Việt Nam đã có chủ trương
hướng tới một nền công nghiệp xanh, ít tiêu hao năng lượng, hạn chế sản xuất gây
ô nhiễm môi trường, tuy nhiên việc thực hiện còn mang tính lẻ tẻ, chưa có tính
đồng bộ do các lĩnh vực này chưa có chiến lược và quy hoạch phát triển rõ ràng
theo hướng xanh. Đây cũng là tình hình chung của các lĩnh vực khác trong nền kinh
tế. Sản xuất nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế trọng tâm trong phát
triển xanh, đồng thời cũng là lợi thế lâu dài của Việt Nam, tuy nhiên sản xuất nông
lượng, đảm bảo phúc lợi và an sinh xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường. Như
vậy, Việt Nam sẽ đẩy mạnh “Tái cơ cấu nền kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng”
trong thời gian sắp tới. Đây là cơ hội để Việt Nam hướng tới “Nền kinh tế xanh” và
“Tăng trưởng xanh”.
12
Với lợi thế nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á, có nguồn
năng lượng mặt trời dồi dào, năng lượng gió phong phú, sinh vật tăng trưởng nhanh
là cơ hội Việt Nam tham các chương trình mục tiêu thiên niên kỉ để hướng tới “Nền
kinh tế xanh”.
Về thách thức:
Trước hết, về nhận thức, hiểu thế nào là một “nền kinh tế xanh” hiện nay ở
Việt Nam vẫn còn hết sức mới mẻ, đòi hỏi phải có những nghiên cứu và phổ biến
rộng rãi kiến thức trong tầng lớp lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách, các
doanh nghiệp và người dân. Nếu không nhận thức được đầy đủ, tính đồng thuận
trong xã hội sẽ không đạt được, do vậy sẽ có thực hiện.
Thứ hai, về cách tiến hành, so với nền kinh tế truyền thống “nền kinh tế
nâu”, xây dựng mô hình mới “nền kinh tế xanh”, thay đổi mô hình tăng trưởng, cơ
cấu lại nền kinh tế có sự khác biệt thế nào và bắt nguồn từ đâu trong bối cảnh phát
triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
Thứ ba, nền kinh tế xanh gắn với sử dụng năng lượng tái tạo, cacbon thấp,
tăng trưởng xanh, đầu tư khôi phục hệ sinh thái, giải quyết sinh kế gắn với phục hồi
môi trường…Thực tế công nghệ sản xuất ở Việt Nam hiện nay so với thế giới phần
lớn là công nghệ cũ, tiêu hao năng lượng lớn, việc thay đổi công nghệ phù hợp với
nền kinh tế xanh là thách thức không nhỏ nếu không có sự hỗ trợ của các nước có
công nghệ cao trên thế giới.
Thứ tư, về việc huy động nguồn vốn cho việc “Xây dựng nền kinh tế xanh”,
mặc dù Việt Nam đã thoát khỏi ngưỡng của nước nghèo nhưng tích lũy của quốc
quyền, các bộ, ngành, địa phương, các doanh nghiệp và tổ chức xã hội.
2/ Mục tiêu của chiến lược.[1]
* Mục tiêu chung.
Tăng trưởng xanh, tiến tới kinh tế cacbon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở
thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững, giảm phát thải và tăng
hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc và quan trọng trong phát triển
kinh tế- xã hội.
* Mục tiêu cụ thể.
- Tái cấu trúc và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng xanh hóa các ngành
hiện có và khuyến khích phát triển các ngành kinh tế sử dụng hiệu quả năng lượng
và tài nguyên với giá trị gia tăng cao.
- Nghiên cứu, ứng dụng ngày càng rộng rãi công nghệ tiên tiến nhằm sử
dụng hiệu quả hơn tài nguyên thiên nhiên, giảm cường độ phát thải khí nhà kính,
góp phần ứng phó với hậu quả biến đổi khí hậu.
14
- Nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng lối sống thân thiện với môi trường
thông qua tạo nhiều việc làm từ các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ xanh,
đầu tư vào vốn tự nhiên, phát triển hạ tầng xanh.
3/ Nhiệm vụ chiến lược.[1]
* Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng
sạch, năng lượng tái tạo theo những chỉ tiêu chủ yếu sau:
Giai đoạn 2011-2020: giảm cường độ phát thải khí nhà kính 8-10% so với
mức 2010, giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP 1-1,5% mỗi năm. Giảm phát
thải khí nhà kính trong các hoạt động năng lượng từ 10% đến 20% so với dự án
phát triển bình thường. Trong đó, mức tự nguyện khoảng 10%, 10% còn lại mức
phấn đấu khi có thêm hỗ trợ quốc tế.
Định hướng đến năm 2030: giảm mức phát thải khí nhà kính mỗi năm ít nhất
khoảng 1,5-2%, giảm lượng phát thải khí nhà kính trong các hoạt động năng lượng
16
CHƯƠNG 2. TĂNG TRƯỞNG XANH TẠI HẢI PHÒNG
2.1. HIỆN TRẠNG TĂNG TRƯỞNG CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG[8]
Hải Phòng là thành phố nằm ở vị trí trung tâm vùng duyên hải Bắc Bộ, là
đầu mối giao thông quan trọng và cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc, giao lưu
thuận lợi với các địa phương trong nước và quốc tế. Trải qua hơn một thế kỷ xây
dựng và phát triển, đến nay Hải Phòng đã trở thành một thành phố công nghiệp, đô
thị loại I của Việt Nam; là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế động lực phía Bắc;
một trọng điểm phát triển kinh tế biển đảo của Việt Nam; có vị trí trọng yếu cả về
kinh tế và quốc phòng, an ninh. Xây dựng và phát triển Hải Phòng về nhiều mặt
còn có ý nghĩa quan trọng đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và cả nước.
Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Đại hội
XIV Đảng bộ thành phố, trong bối cảnh có những thuận lợi, khó khăn, thách thức
đan xen; trong đó có những khó khăn, thách thức gay gắt, vượt xa so với dự báo;
song được sự lãnh đạo, giúp đỡ của Trung ương; Đảng bộ, quân và dân thành phố
đã nêu cao tinh thần đoàn kết, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đạt được
những kết quả quan trọng, cơ bản hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, một số
chỉ tiêu hoàn thành vượt mức và có đột phá.
Thế và lực thành phố được nâng cao, phát huy rõ hơn vai trò là một cực tăng
trưởng của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng
khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, phát huy ngày càng hiệu quả tiềm
năng, lợi thế của thành phố; chủ động hơn trong hội nhập quốc tế, không gian kinh
tế được mở rộng. Thực hiện tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng đạt kết
qủa bước đầu đáng khích lệ. Cơ sở hạ tầng giao thông - đô thị và hạ tầng kinh tế xã hội được tập trung đầu tư, có sự phát triển mạnh, nhất là một số dự án lớn có ý
nghĩa chiến lược đối với thành phố và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc; tạo điều
kiện cho sự phát triển đột phá trong thời gian tới. Môi trường đầu tư được cải thiện;
thu hút nguồn lực đầu tư có sự khởi sắc, bứt phá, nhất là nguồn vốn FDI. Công tác
chung và cơ sở hạ tầng giao thông, đô thị nói riêng chưa theo kịp yêu cầu phát
triển, thiếu đồng bộ, nhất là hệ thống giao thông đường bộ liên quan đến hoạt động
của cảng biển; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội và cơ sở vui chơi, giải trí cho
người dân chưa được quan tâm đúng mức.
Công tác đền bù giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn, làm chậm tiến độ,
giảm hiệu quả đầu tư. Một số công trình hạ tầng giao thông đô thị đã xác định trong
Nghị quyết còn chậm hoặc chưa triển khai (đường 100m, đường vành đai 3, cầu
Bính 2, đường Hồ Sen - Nguyễn Văn Linh...), còn thiếu chủ động trong việc xây
dựng cơ chế, giải pháp tổng thể về bồi thường, tái định cư, hỗ trợ đào tạo, chuyển
nghề và giải quyết việc làm cho những người có đất bị thu hồi phù hợp với đặc
điểm của một thành phố đô thị loại I trực thuộc Trung ương. Công tác đấu giá đất
18
còn nhiều khó khăn, vướng mắc, chưa đáp ứng yêu cầu là một nguồn lực quan
trọng cho đầu tư phát triển.
Xây dựng phát triển và quản lý đô thị nhìn chung chưa thật sự ngang tầm của
đô thị loại I trung tâm cấp quốc gia. Công tác quy hoạch phát triển đô thị còn thiếu
đồng bộ, một số đồ án chất lượng thấp, chưa rõ tính văn minh - hiện đại; tính công
khai còn nhiều hạn chế; công tác quản lý còn bộc lộ nhiều sơ hở, yếu kém, gây khó
khăn trong triển khai thực hiện. Công tác thiết kế đô thị còn chậm. Công tác quản
lý quy hoạch còn tình trạng buông lỏng ở một số nơi. Quản lý trật tự xây dựng chưa
theo kịp yêu cầu, tình trạng xây dựng không phép xảy ra ở nhiều địa phương.
Việc phát triển đô thị còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội và tương xứng với đô thị trung tâm cấp quốc gia; chỉnh trang đô thị
chưa toàn diện, hiện đại, chưa thực sự xanh, sạch, đẹp. Tiến độ thực hiện một số
khu đô thị mới chưa đạt yêu cầu, chưa hình thành được các khu đô thị mới ở Bắc
sông Cấm, Nam Tràng Cát... Một số công trình trọng điểm, tạo điểm nhấn trong
phát triển đô thị chậm được triển khai: Khu trung tâm hành chính- chính trị thành
phố; trung tâm hội nghị quốc tế tại Đồ Sơn; khu đô thị nối đường Lạch Tray và
Hải Phòng có nhiều lợi thế về phát triển kinh tế biển và trên thực tế kinh tế
biển chiếm tỷ trọng rất đáng kể trong cơ cấu kinh tế của thành phố. Chính vì thế,
trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Hải Phòng luôn được xem là thành
phố cảng, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và của miền Bắc, là trung tâm
nghề cá, trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, là cực tăng trưởng
quan trọng trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cũng như đông bắc Việt Nam.
Hải Phòng nằm ở nút giao của hai hành lang và một vành đai kinh tế hợp tác phát
triển giữa Việt Nam và Trung Quốc, nên thuận lợi trong hội nhập và hợp tác kinh tế
thế giới, đặc biệt với các nước khu vực Đông Á. [2]
Yếu tố biển, đảo đã tạo cho Hải Phòng một vị thế địa chính trị-địa kinh tế-địa
quân sự trọng yếu của miền bắc và cả nước. Các mảng không gian như: không gian
ven biển Nam Đồ Sơn và Bắc Đồ Sơn, không gian biển đảo Cát Bà-Long Châu và
không gian biển đảo Bạch Long Vĩ có tiềm năng và lợi thế khác nhau cần phải tính
đến trong hoạch định chiến lược phát triển kinh tế trong dài hạn của thành phố.
Khai thác, sử dụng hợp lý và hiệu quả tiềm năng và lợi thế nói trên sẽ giúp kinh tế
biển Hải Phòng phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững theo hướng tăng trưởng
xanh.
Tăng trưởng xanh và kinh tế biển xanh đang trở thành mối quan tâm toàn cầu
và được xem là động lực để phục hồi, thúc đẩy kinh tế toàn cầu và là công cụ để
PTBV. Các nỗ lực quốc tế đã thể hiện rõ quan điểm và các bài học chia sẻ trong các
Tuyên bố Đại dương Manađô, Tuyên bố Manila về Biến đổi khí hậu và Quản lý
tổng hợp vùng bờ biển (2009), Tuyên bố Đại dương Rio+20, Chương trình Nghị sự
Đại dương đến 2030 (2012), các Hội nghị thượng đỉnh Khu vực và Thế giới về
20
Kinh tế Đại dương và Tăng trưởng xanh vào cuối các năm 2012 và 2013 lần lượt ở
Bali và Washington D.C.
Nắm bắt cơ hội, khắc phục các thách thức và khó khăn, thàng phố Hải Phòng
đang là một trong số ít địa phương trong cả nước đi đầu trong quá trình chuyển đổi
lực và điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của các ngành, địa phương
nhằm tiến tới chấm dứt việc khai thác biển, đảo và vùng ven biển một cách tự phát,
thiếu quy hoạch, góp phần giảm thiểu mâu thuẫn trong sử dụng không gian biển.
Xây dựng và thực hiện quản lý tổng hợp vùng bờ biển, bao gồm thiết chế tổ
chức và cơ chế, chính sách phối hợp liên ngành và phân vùng chức năng vùng bờ
cho phát triển bền vững. Phấn đấu đến năm 2020 toàn bộ dải bờ biển của thành phố
được áp dụng phương thức quản lý tổng hợp ở mức độ khác nhau; Chủ động
nghiên cứu các tác động của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng đến vùng ven
biển, biển và hải đảo Hải Phòng và đề xuất giải pháp thích ứng và giảm thiểu.
Đưa các cân nhắc và các vấn đề môi trường - tài nguyên biển và các rủi ro
vào các dự án đầu tư phát triển, các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
ở vùng ven biển, biển và hải đảo của thành phố; Quản lý và xử lý hiệu quả các chất
thải, chất gây ô nhiễm trước khi đổ ra biển từ nguồn đất liền, từ các hoạt động kinh
tế trên biển, ở các cảng và trên các hải đảo. Tăng cường kiểm soát và sẵn sàng ứng
cứu các sự cố môi trường biển, các vụ tràn dầu không rõ nguồn gốc,...Ngăn ngừa
suy thoái và phục hồi các habitat đã bị mất, các hệ sinh thái quan trọng (rạn san hô,
rừng ngập mặn, thảm cỏ biển) đã bị suy thoái. Xây dựng cảng xanh, các con tàu
xanh.
Quản lý hiệu quả các khu bảo tồn thiên nhiên biển và trên đảo Cát Bà, Long
Châu và Bạch Long Vĩ để phát triển nghề cá và du lịch sinh thái biển bền vững.
Bảo tồn, phục hồi đa dạng sinh học biển và nguồn lợi thuỷ sản, nguồn giống hải sản
tự nhiên,...đang giảm sút. Trước mắt tái cơ cấu kinh tế thủy sản theo hướng ưu tiên
đánh bắt xa bờ, duy trì đánh bắt gần bờ hợp lý.
Trên cơ sở đó tổ chức lại nghề cá xa bờ theo hướng CNH, HĐH và áp dụng
mô hình đồng quản lý nghề cá nhỏ ven bờ; Thường xuyên nâng cao nhận thức cho
các cấp, các ngành và cộng đồng dân cư ven biển và trên các đảo về kinh tế biển
xanh. Cải thiện sinh kế và xoá đói giảm nghèo, trên cơ sở đó giúp họ thay đổi hành
vi cá nhân của cộng đồng trong cách đối xử với môi trường biển; Đẩy mạnh công
Kế hoạch hành động này nhằm quán triệt và triển khai, cụ thể hóa những nội
dung của Quyết định số 1393/QĐ-TTg và số 403/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ, làm cơ sở để các Sở, ngành, địa phương triển khai thực hiện Chiến lược quốc
gia về tăng trưởng xanh theo chức năng, nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng
và phát triển thành phố Hải Phòng, với vai trò là cửa ngõ và trung tâm công nghiệp
trọng điểm của miền Bắc Việt Nam, theo hướng bền vững, trở thành thành phố
Cảng xanh, văn minh, hiện đại.
2. Các nội dung và giải pháp chính.
23
- Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, quán triệt, nâng cao nhận thức về vai trò,
sự cần thiết thực hiện tăng trưởng xanh, về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu
quả trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
- Nghiên cứu, xác định hệ thống các chỉ tiêu, chỉ số đánh giá tăng trưởng
xanh phù hợp với điều kiện của thành phố từng giai đoạn và lồng ghép các chỉ tiêu
này vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, các ngành.
- Nghiên cứu xây dựng các mô hình xanh như: thành phố Cảng xanh, đô thị
xanh, công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh, môi trường xanh,…
- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ thực hiện Kế hoạch hành
động của thành phố thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh.
- Đẩy mạnh triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu, đổi mới mô hình tăng
trưởng và Quyết định số1409/QĐ-UBND ngày 31/8/2012 của Ủy ban nhân dân
thành phố ban hành Kế hoạch triển khai Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày
12/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt
Nam giai đoạn 2011-2020.
- Đổi mới công nghệ, nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi công nghệ tiên tiến,
công nghệ xanh vào sản xuất.
- Sử dụng năng lượng và tài nguyên một cách tiết kiệm, nâng cao hiệu suất
năng lượng trong sản xuất và tiêu dùng góp phần giảm cường độ phát thải khí gây