Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể ở chi cục thuế huyện thanh thủy, tỉnh phú thọ - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
--------------

TRẦN MINH HẰNG

PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH
DOANH CÁ THỂ Ở CHI CỤC THUẾ HUYỆN THANH
THỦY, TỈNH PHÚ THỌ

Chuyênngành: Quảntrịkinhdoanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN ÁI ĐOÀN

HÀ NỘI - 2013


Trường đại học bách khoa Hà Nội
MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của đề tài
Sự ra đời và phát triển của ngành Thuế luôn gắn liền với sự ra đời, tồn tại
và phát triển của Nhà nước. Để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước cần có
những nguồn tài chính để chi tiêu. Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên,
Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập
của mình cho ngân sách Nhà nước. Hình thức Nhà nước dùng quyền lực chính

định chưa chặt chẽ, tạo kẽ hở cho các tổ chức, cá nhân lợi dụng gian lận thuế,
trốn thuế; Bên cạnh đó, ý thức về trách nhiệm đối với thuế của NNT nói riêng và
người dân nói chung chưa tốt; công tác quản lý thuế còn yếu kém ở một số lĩnh
vực; Chưa đẩy mạnh ứng dụng tin học vào công tác quản lý thuế; một bộ phận
cán bộ thuế yếu cả về trình độ và phẩm chất đạo đức, chưa đáp ứng được yêu
cầu của sự nghiệp đổi mới… từ đó làm giảm hiệu quả quản lý của một số sắc
thuế, ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước.
Công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể còn nhiều điều bất
cập, từ việc đăng ký thuế, xác định doanh thu, tính thuế đến việc thu thuế vẫn là
một dây chuyền công việc khép kín gần như rườm rà, luẩn quẩn, không rõ ràng,
gây ức chế cho NNT đồng thời lại tạo ra rất nhiều khó khăn cho cơ quan quản lý
thuế nói chung và ngành thuế nói riêng. Trong khi hộ kinh doanh cá thể ngày
càng chứng tỏ là một mô hình kinh tế năng động, không thể thiếu trong nền kinh
tế quốc dân và có những đóng góp quan trọng với Ngân sách Nhà nước. Chính vì
vậy việc chọn và nghiên cứu đề tài: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn
thiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể ở Chi cục Thuế huyện Thanh
Thủy, tỉnh Phú Thọ” theo tôi là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Hy
vọng đề tài nghiên cứu vừa có ý nghĩa lý luận, vừa mang tính thực tiễn sẽ góp
phần việc xây dựng các giải pháp khả thi để giải quyết những vấn đề tồn tại đặt
ra đối với việc quản lý hộ kinh doanh cá thể, trong sự tác động đến quá trình xây
dựng và phát triển kinh tế của đất nước, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2020.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích chủ yếu của luận văn là góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và
thực tiễn của quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể, phân tích thực trạng
công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Thanh
Học viên: Trần Minh Hằng - 2010B QTKD Việt Trì

2


Học viên: Trần Minh Hằng - 2010B QTKD Việt Trì

3


Trường đại học bách khoa Hà Nội
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để
nghiên cứu, quan sát, nhìn nhận phân tích sự việc trong sự biến động gắn với
điều kiện lịch sử cụ thể, ngoài ra các phương pháp chuyên ngành cũng được sử
dụng trong quá trình nghiên cứu như thống kê, phân tích, tổng hợp, diễn giải,
tiếp cận hệ thống.
5. Đóng góp của luận văn:
- Luận văn góp phần làm rõ lý luận về công tác quản lý thuế đối với hộ
kinh doanh cá thể.
- Đánh giá đúng thực trạng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại
Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy và đề xuất các giải pháp có tính khả thi để tăng
cường công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế
huyện Thanh Thủy trong thời gian tới.
- Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan hoạch định
chính sách thuế cũng như cơ quan quản lý thuế.
6. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về Quản lý thuế đối với hộ kinh doanh
cá thể.
Chương 2: Phân tích công tác Quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể ở
Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
ở Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

thể rút ra một số đặc trưng chung của thuế như sau:
- Một là: Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan
hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân trong
xã hội.
- Hai là: Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một
cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có
tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước.

Học viên: Trần Minh Hằng - 2010B QTKD Việt Trì

5


Trường đại học bách khoa Hà Nội
- Ba là: Xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà
nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của
thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát
triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng của thuế, qua đó giúp ta phân biệt
giữa thuế với các công cụ tài chính khác như:
 Tính bắt buộc
 Tính không hoàn trả trực tiếp
 Tính pháp lý cao.
Từ nội dung, đặc trưng và bản chất của thuế, ta có thể đưa ra một khái niệm
tổng quát về thuế như sau: “Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và
pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước;
không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và
dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng”.
1.1.2. Chức năng của thuế:
- Là công cụ chủ yếu trong việc tập trung nguồn lực vào ngân sách nhà

với nhau. Ở nước ta, các sắc thuế gián thu như: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế
GTGT, thuế xuất nhập khẩu…
- Phân loại thuế theo cơ sở tính thuế: Đối tượng đánh thuế là gì, thuế đánh
trên cái gì? Dựa vào đó, thuế được chia thành các loại:
 Thuế tài sản là thuế đánh vào bản thân tài sản chứ không đánh vào
phần thu nhập phát sinh từ tài sản đó. Các loại thuế tài sản gồm: thuế nhà đất,
thuế chuyển nhượng tài sản (nhà cửa, ô tô, xe máy...).
 Thuế thu nhập là thuế đánh vào thu nhập kiếm được, như: thuế thu
nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.
 Thuế tiêu dùng là loại thuế đánh vào phần thu nhập của người tiêu
dùng khi mua hàng hoá, dịch vụ, như thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế
xuất nhập khẩu.
1.2.

Quản lý thuế

1.2.1. Một số khái niệm cơ bản về Quản lý thuế
a. Quan niệm về Quản lý thuế
Để đảm bảo mục tiêu thu đúng, đủ thuế nhằm phát huy đầy đủ vai trò của
thuế trong phát triển kinh tế xã hội, Nhà nước phải đề ra các quy định, luật pháp
nhằm tạo một hành lang thống nhất, buộc mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh phải
Học viên: Trần Minh Hằng - 2010B QTKD Việt Trì

7


Trường đại học bách khoa Hà Nội
thực hiện theo.
Để Luật pháp về thuế được đảm bảo thực hiện, Nhà nước phải tổ chức ra bộ
máy để quản lý thu thuế và giám sát thực hiện đối với bộ máy này. Do bản chất


Trường đại học bách khoa Hà Nội
theo quy định của pháp luật về thuế; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp các khoản
thu khác thuộc Ngân sách nhà nước do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định
của pháp luật; tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế, tổ chức, cá nhân làm thủ tục về
thuế thay NNT.
Như vậy, đối tượng quản lý thuế ở đây gồm các tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc những lĩnh vực cho phép trong và
ngoài nước.
d. Vai trò của quản lý thuế
 Quản lý thuế nhằm thực hiện một trong những chức năng quan trọng
của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý tài chính: Đó là điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Đây là một trong những nội dung quan trọng nhất nhằm đảm bảo phát huy tối đa
những chức năng, vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội. Ngoài ra, quản
lý thuế còn thực hiện một mục tiêu quan trọng nữa là huy động số thu cho Ngân
sách Nhà nước, thể hiện quyền lực tối cao và sự độc quyền của Nhà nước trong
việc quản lý và điều hành đất nước.
 Giúp Nhà nước kiểm soát việc nộp thuế của NNT. Dù bất kỳ ở xã hội
nào, lợi ích của người kinh doanh luôn được đặt lên hàng đầu đối với bản thân
mỗi cá nhân nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất. Vì vậy, với vai trò kiểm tra,
giám sát, vai trò của Nhà nước về Quản lý thuế định hướng, sửa chữa những sai
sót trong quá trình thực hiện các Luật thuế dù vô tình hay cố ý sai phạm đều phải
duy trì bình đẳng xã hội trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế.
 Giúp Nhà nước quản lý được bộ máy thu thuế. Một mặt, đảm bảo bộ
máy quản lý thuế vận hành trơn tru, không sai sót; mặt khác, cũng xuất phát từ
lợi ích cá nhân, con người trong bộ máy quản lý thuế của Nhà nước cũng có
những cá nhân hám lợi sẵn sàng bắt tay với NNT nhằm giúp họ trốn thuế và thu
những mối lợi bất chính làm thất thu cho Ngân sách, hoặc cố tình gây khó dễ,
sách nhiễu để vòi vĩnh. Điều đó đòi hỏi Quản lý thuế với chức năng kiểm tra,
giám sát sẽ hạn chế và xử lý các trường hợp này. Vì vậy, việc quản lý bộ máy


CHI CỤC THUẾ CÁC QUẬN, HUYỆN
TRỰC THUỘC CỤC THUẾ

Học viên: Trần Minh Hằng - 2010B QTKD Việt Trì

10


Trường đại học bách khoa Hà Nội
Chi cục Thuế quận huyện tại các tỉnh thành phố (cơ quan thuế địa
phương) thực hiện quản lý nhà nước đối với các khoản thu nội địa với chức
năng, quyền hạn của Chi cục Thuế như sau:
- Tổ chức triển khai thực hiện thống nhất các văn bản qui phạm pháp luật
về thuế; quy trình, biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế trên địa bàn;
- Tổ chức thực hiện dự toán thu thuế hàng năm được giao; tổng hợp, phân
tích, đánh giá công tác quản lý thuế; tham mưu với cấp uỷ, chính quyền địa
phương về công tác lập và chấp hành dự toán thu ngân sách Nhà nước, về công
tác quản lý thuế trên địa bàn; phối hợp chặt chẽ với các ngành, cơ quan, đơn vị
liên quan để thực hiện nhiệm vụ được giao;
- Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích chính
sách thuế của Nhà nước; hỗ trợ NNT trên địa bàn thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
theo đúng quy định của pháp luật.
- Kiến nghị với Cục trưởng Cục Thuế những vấn đề vướng mắc cần sửa
đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về thuế, các quy trình chuyên môn
nghiệp vụ, các quy định quản lý nội bộ và những vấn đề vượt quá thẩm quyền
giải quyết của Chi cục Thuế;
- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế đối với NNT thuộc phạm vi
quản lý của Chi cục Thuế: đăng ký thuế, cấp mã số thuế, xử lý hồ sơ khai thuế,
tính thuế, nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, xoá nợ thuế, tiền phạt, lập

của NNT theo quy định của pháp luật;
- Tổ chức thực hiện thống kê, kế toán thuế, quản lý biên lai, ấn chỉ thuế;
lập báo cáo về tình hình kết quả thu thuế và báo cáo khác phục vụ cho việc chỉ
đạo, điều hành của cơ quan cấp trên, của Uỷ ban nhân dân đồng cấp và các cơ
quan có liên quan; tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả công tác của Chi cục
Thuế;
- Tổ chức thực hiện kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế và khiếu
nại, tố cáo liên quan đến việc thi hành công vụ của công chức, viên chức thuế
thuộc thẩm quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế theo quy định của
pháp luật;
- Xử lý vi phạm hành chính về thuế, lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm
quyền khởi tố các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật thuế theo quy định của
Luật quản lý thuế và pháp luật khác có liên quan;

Học viên: Trần Minh Hằng - 2010B QTKD Việt Trì

12


Trường đại học bách khoa Hà Nội
- Giám định để xác định số thuế phải nộp của NNT theo yêu cầu của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền;
- Thực hiện nhiệm vụ cải cách hệ thống thuế theo mục tiêu nâng cao chất
lượng hoạt động, công khai hoá thủ tục, cải tiến quy trình nghiệp vụ quản lý thuế
và cung cấp thông tin để tạo thuận lợi phục vụ cho NNT thực hiện chính sách,
pháp luật về thuế;
- Tổ chức tiếp nhận và triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ
thông tin và phương pháp quản lý hiện đại vào các hoạt động của Chi cục Thuế;
- Quản lý bộ máy, biên chế, lao động; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
công chức, viên chức của Chi cục Thuế theo quy định của Nhà nước và của

quan thuế hàng năm tiến hành lập các kế hoạch chủ yếu sau:
- Kế hoạch thu ngân sách (dự toán thu Ngân sách nhà nước).
- Kế hoạch công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT.
- Kế hoạch công tác kê khai - kế toán thuế.
- Kế hoạch thanh tra, kiểm tra.
- Kế hoạch nguồn kinh phí hoạt động (dự toán chi tiêu nội bộ); kế hoạch
đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; kế hoạch về trang thiết bị máy móc phục vụ
cho công việc quản lý thuế,…
Trong đó, lập kế hoạch thu thuế (dự toán thu) được xác định là khâu quan
trọng hàng đầu với mỗi cơ quan thuế.
Lập kế hoạch thu thuế là quá trình xây dựng các mục tiêu thu trong năm
và xác định các nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Kế hoạch
thu thuế là quá trình tính toán, tổng hợp những khả năng có được từ các khoản
thu về thuế, các khoản thu mang tính chất thuế và các khoản thu khác trong một
khoảng thời gian xác định, từ đó hình thành nên những khoản thu tập trung phản
ánh trong dự toán ngân sách, đồng thời tổ chức thực hiện, phân tích và đánh giá
kết quả đạt được.
Kế hoạch thu (dự toán thu) được lập cho tất cả các sắc thuế (bao gồm:
thuế GTGT, thuế TNDN, thuế tài nguyên, thuế môn bài, thuế TNCN, tiền thuê
đất, thuế nhà đất/sử dụng đất phi nông nghiệp, tiền sử dụng đất, các khoản phí và
lệ phí trên địa bàn,…) và cho từng đối tượng, từng khu vực kinh tế (doanh
nghiệp, hay hộ kinh doanh).
Xây dựng dự toán thu phải đạt mục tiêu: bao quát toàn bộ nguồn thu trên
địa bàn, đáp ứng đủ nguồn lực tài chính để thực hiện các nhiệm vụ phát triển
Học viên: Trần Minh Hằng - 2010B QTKD Việt Trì

14


Trường đại học bách khoa Hà Nội

Ước thực hiện năm
hiện tại

X

(1+tỉ lệ tăng trưởng bình

Học viên: Trần Minh Hằng - 2010B QTKD Việt Trì

quân %)

15


Trường đại học bách khoa Hà Nội
b) Tổ chức thực hiện
Chức năng quản lý thuế là những công việc cơ bản vốn có, tất yếu phải
thực hiện và trình tự thực hiện các công việc đó để quản lý và thu thuế vào Ngân
sách. Các công việc này không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của NNT ở bất
kỳ chế độ quản lý thuế. Mỗi chức năng, nhiệm vụ này được giao cho một bộ
phận thực hiện.
Song song với việc lập kế hoạch quản lý thuế, hoạt động quản lý thuế
được thực hiện trên tất cả các phương diện: từ đăng ký thuế, đến kê khai, nộp
thuế, ấn định thuế, đến hoàn thuế, miễn giảm thuế, xóa nợ tiền thuế tiền phạt;
quản lý thông tin người nộp thuế; quản lý thông qua hoạt động thanh tra, kiểm
tra, hoạt động cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, xử lý vi phạm
pháp luật về thuế và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế.
 Về đăng ký thuế: Thực hiện quản lý về đối tượng đăng ký thuế; thời
hạn đăng ký thuế; hồ sơ đăng ký thuế; nơi nộp hồ sơ đăng ký thuế; trách nhiệm
của cơ quan thuế, công chức thuế trong việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký thuế; cấp

trách nhiệm trong việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ miễn giảm, xóa nợ.
 Quản lý thông tin về NNT: thông qua việc xây dựng, thu thập, xử lý và
quản lý hệ thống thông tin NNT, trách nhiệm giữa của các bên trong việc cung
cấp thông tin về NNT, và chế độ bảo mật thông tin của NNT, các trường hợp
được công khai thông tin về NNT.
 Về thanh tra, kiểm tra thuế: đưa ra nguyên tắc thanh tra thuế, kiểm tra
thuế; các trường hợp thanh tra, kiểm tra thuế; việc xử lý kết quả thanh tra, kiểm
tra; quy định việc kiểm tra lại trụ sở cơ quan thuế, tại trụ sở NNT; quyền, nghĩa
vụ, nhiệm vụ của các bên trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế.
 Về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế: đưa ra các trường
hợp phải cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; quy định cụ thể các
biện pháp cưỡng chế, trách nhiệm của các bên khi cưỡng chế.
 Về xử lý vi phạm pháp luật về thuế: quy định cụ thể các hành vi vi
phạm pháp luật về thuế; nguyên tắc, thủ tục xử lý vi phạm; thời hiệu và thẩm
quyền xử lý vi phạm; xử lý vi phạm đối với công chức thuế, cơ quan thuế và các
cơ quan có liên quan (ngân hàng, tổ chức tín dụng, các ban ngành có liên quan).
c) Một số chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thuế
 Các chỉ tiêu về kết quả

Học viên: Trần Minh Hằng - 2010B QTKD Việt Trì

17


Trường đại học bách khoa Hà Nội
Kết quả công tác thu thuế là số thuế thu được tính trong một niên độ nhất
định (thường được tổng kết theo năm). Để đánh giá kết quả công tác quản lý thu
thuế thường dựa vào một số chỉ tiêu:
- Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu thuế:
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch = Số thu thực tế/Số thu theo kế hoạch được

- Hiệu quả chính trị: là hiệu quả thực hiện các chủ trương chính sách kinh
tế xã hội của Đảng và Nhà nước.
Một số tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả công tác quản lý thuế:
Có nhiều căn cứ để đánh giá hiệu quả quản lý thuế. Dưới đây là một số
tiêu chuẩn đánh giá phổ biến (định tính, định lượng):
- Tỷ lệ số thu so với nguồn thu = số thuế thực thu/tiềm năng thu thuế.
- Chi phí thu thuế và tỷ lệ chi phí thu thuế so với số thuế thu được:
Chi phí thu thuế “là toàn bộ những chi phí cần cho thi hành nghiệp vụ thuế
(như chi phí nhân sự, chi phí đi lại, chi phí vật dụng….) được hạch toán tất cả
vào ngân sách chi hàng năm theo kế toán thông thường”. Theo Adam Smith, chi
phí phải bỏ ra để thu thuế bao gồm chi lương cho bộ máy thuế, xây dựng nơi làm
việc, đào tạo, ấn loát ấn chỉ thuế, mua sắm trang thiết bị và dụng cụ làm việc.
Chi phí thu thuế trong một niên độ nhất định
Tỷ lệ chi phí thu thuế =
Số thuế thu được trong một niên độ nhất định
Tỷ lệ chi phí thu thuế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, thông thường là từ 3%
trở xuống. Tỷ lệ chi phí thu thuế có xu hướng giảm đi. Bởi vì nền kinh tế tăng
trưởng kéo theo các nguồn thu thuế tăng lên đáng kể, trong khi đó số nhân viên
thi hành thuế tăng chậm.
- Hiệu quả của lập dự toán thu:
Chất lượng của việc đánh giá là lập dự toán thu thể hiện ở độ sai số giữa
số liệu đánh giá, số liệu dự toán với số thực hiện. Theo Tổng cục Thuế, nếu sai
số thực hiện so với dự toán trong phạm vi bằng hoặc dưới 5% thì chất lượng dự
toán đạt cao, từ 5% đến 10% thì chất lượng trung bình và trên 10% thì việc lập
dự toán chưa sát.
Bên cạnh đó, việc xây dựng kế hoạch thu cao hơn nhiều so với nguồn thu,
cơ quan thuế phải tìm mọi cách để hoàn thành sẽ dễ dẫn đến các tác động tiêu
cực đến quá trình “phát triển, nuôi dưỡng” nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
- Đánh giá tập thể, cá nhân theo định kỳ (Quý, năm):
Học viên: Trần Minh Hằng - 2010B QTKD Việt Trì

Tổng điểm tối đa cho 4 tiêu chí là 950 điểm. Có thêm điểm thưởng và
điểm trừ. Điểm thưởng tối đa 50 điểm.
Căn cứ số điểm đạt được để xếp loại thi đua cho tập thể và cá nhân như
sau
Học viên: Trần Minh Hằng - 2010B QTKD Việt Trì

20


Trường đại học bách khoa Hà Nội
Bảng 1.1: Tổng hợp các chỉ tiêu xếp loại CBCC ngành thuế
Đơn vị

Tập thể

Số điểm

Xếp loại

Khen thưởng

>= 901

A1

801 - 900

A

Không được

thêm

Được xét
khen thưởng

Cá nhân

100% hệ số lương tăng
thêm của ngành
75% hệ số lương tăng
thêm của ngành
50% hệ số lương tăng
thêm của ngành
Không được lương
tăng thêm của ngành

1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế
Cũng như nhiều hiện tượng kinh tế - pháp luật khác, việc quản lý thuế
chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó có những yếu tố chủ yếu sau:
a. Hệ thống chính sách thuế và sự hiểu biết về chính sách thuế của NNT
Hệ thống chính sách thuế là tập hợp hệ thống các văn bản quy phạm pháp
luật về thuế được ban hành trong một giai đoạn nhất định để thực hiện đầy đủ
các chức năng của thuế.
Hệ thống chính sách thuế luôn tồn tại và trở thành một yếu tố chủ yếu chi
phối toàn hệ thống thuế. Hệ thống chính sách thuế phán ánh nội dung các cam
kết về thuế; tác động trực tiếp đến mô hình và quy mô của bộ máy tổ chức thu
thuế; giúp phát triển, mở rộng và nâng cao trình độ hiểu biết về thuế của NNT;

Học viên: Trần Minh Hằng - 2010B QTKD Việt Trì


định cơ cấu tổ chức quản lý thuế. Chính vì vậy, khi thiết kế mới hay cải tiến cơ
cấu tổ chức quản lý, cơ quan thuế phải căn cứ vào các đặc điểm của đối tượng
nộp thuế để bố trí các bộ phận quản lý và nhân lực phù hợp.
Học viên: Trần Minh Hằng - 2010B QTKD Việt Trì

22


Trường đại học bách khoa Hà Nội
b. Bộ máy quản lý thuế
Bộ máy quản lý thuế có vai trò quyết định đến sự vận hành toàn bộ hệ
thống thuế. Bộ máy quản lý thuế được tổ chức hợp lý, thực hiện đầy đủ các chức
năng quản lý thuế thì sẽ phát huy được tối đa hiệu lực của toàn bộ hệ thống thuế
và hiệu quả quản lý sẽ cao. Ngược lại, một cơ cấu tổ chức quản lý không phù
hợp sẽ kìm hãm, làm suy yếu tổ chức và hạn chế tác dụng của bộ máy, giảm sút
hiệu quả quản lý thuế.
Bộ máy quản lý thuế đảm bảo cho hệ thống chính sách thuế được thực thi
đầy đủ, nghiêm túc, theo trình tự mà không chồng chéo chức năng nhiệm vụ.
Với một bộ máy phù hợp với tình hình quản lý trong giai đoạn mới sẽ đảm bảo
mục tiêu thu Ngân sách nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho NNT, giảm chi phí
quản lý của cơ quan thuế và chi phí tuân thủ pháp luật của NNT, từ đó nâng cao
hiệu quả quản lý thuế.
Từ 1/7/2007, ngành thuế chuyển sang mô hình quản lý theo chức năng.
Ngành thuế đã kiện toàn và thành lập mới các bộ phận quản lý thuế theo chức
năng gồm bộ phận tuyên tuyền hỗ trợ, bộ phận xử lý kê khai và kế toán thuế, bộ
phận quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, bộ phận thanh tra kiểm tra xử lý các vi
phạm về thuế để thực hiện quản lý thuế theo chức năng trong toàn bộ hệ thống
thuế. Việc thay đổi này đã làm thay đổi cách thức quản lý thuế, từ quản lý theo
đối tượng sang quản lý theo chức năng, thay đổi tư duy của cán bộ thuế và NNT,
mang tính chuyên nghiệp và hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế làm thu nội

kỹ năng thành thạo, thích ứng nhanh với sự thay đổi của môi trường làm việc,
luôn tuân thủ pháp luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp, làm việc có trách
nhiệm, luôn tận tâm và thân thiện với NNT, đổi mới trong tư duy và hành động
sẽ mang lại giá trị tốt nhất cho mọi tổ chức và cá nhân, cũng là yếu tố tác động
trực tiếp đến hiệu quả của công tác quản lý thuế.
Việc đánh giá kết quả thi đua của tập thể đội thuế và cán bộ công chức
thuế hàng quý, hàng năm nhằm tạo động lực để cán bộ công chức phát huy tính
chủ động, sáng tạo, tận tuỵ, trách nhiệm, nỗ lực học tập, thường xuyên tu dưỡng
rèn luyện để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ công chức ngành thuế. Từ đó, sàng lọc những cán bộ công chức không
hoàn thành được nhiệm vụ và không có khả năng đảm đương nhiệm vụ được
giao để thực hiện điều động, luân phiên và có chế độ bồi dưỡng, đạo tạo phù hợp
d. Cơ sở vật chất cho quản lý thuế
Học viên: Trần Minh Hằng - 2010B QTKD Việt Trì

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status