Chính sách kiều hối của một số nước
Châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam
Giai đoạn 2006 - 2008, lượng kiều hối và dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ồ
ạt chảy vào Việt Nam. Khi lượng kiều hối chảy vào làm nội tệ lên giá và lạm phát
tăng, NHNN có thể thực thi giải pháp: (1) cho phép tỷ giá giảm; (2) can thiệp để
ngăn chặn tỷ giá giảm. Thực tế NHNN Việt Nam đã lựa chọn cách thứ hai, can
thiệp để ngăn ngừa tỷ giá giảm, tránh cho tỷ giá biến động nhiều, gây hậu quả xấu
xảy ra với NHTM. Trong trường hợp này, NHNN phải mua ngoại tệ vào và bán
nội tệ ra cùng với nghiệp vụ trung hòa lượng nội tệ tăng lên trong lưu thông. Chi
phí trung hòa là rất lớn. Thông thường, để trung hòa nội tệ trong lưu thông,
NHNN phải phát hành tín phiếu NHNN với lãi suất cao. Mức lãi suất cao nhất là
11,68% ngày 25/3/2010. Trong khi đó, hình thức đầu tư của dự trữ ngoại hối Việt
Nam còn đơn giản, chủ yếu là dưới dạng tiền gửi tại các ngân hàng và các công cụ
tài chính như trái phiếu Chính phủ. Bảng 1 cho ta thấy mức chênh lệch giữa chi
117
phí NHNN bán TSN nội tệ với lợi tức cao để mua TSC ngoại tệ với lợi tức thấp và
làm tăng thêm rủi ro lãi suất. Mức chênh lệch càng lớn càng làm cho chi phí can
thiệp cao lên. Do vậy, can thiệp mua ngoại tệ có thể làm xấu đi nhanh chóng bảng
cân đối tài sản của NHNN, làm xói mòn tính độc lập và niềm tin vào chính sách
tiền tệ.
Bảng 3.1. Chi phí can thiệp của NHNN Việt Nam trên thị trường ngoại hối
Tài sản /Năm (Đơn vị: %) 2007 2008
Lãi suất phát hành tín phiếu NHNN bằng VND 7,50 7,80
Lãi suất tiền gửi JPY 0,80 0,58
Lãi suất trái phiếu Chính Phủ Nhật 1,65 1,44
Lãi suất tiền gửi USD 8,16 7,54
Lãi suất trái phiếu Chính Phủ Mỹ 4,87 3,70
toán có giá trị lớn như mua nhà, mua xe, đầu tư bất động sản. Nếu như tỷ lệ tiền
gửi ngoại tệ trên tổng tiền gửi được coi là một chỉ tiêu để đánh giá hiện tượng đô
la hóa nền kinh tế, thì lượng kiều hối chính thức đã góp phần làm tăng tiền gửi
ngoại tệ. Chúng ta có thể thấy mối quan hệ mật thiết giữa lượng kiều hối chuyển
về và lượng tiền gửi ngoại tệ tăng lên trong hệ thống NHTM qua hình 7.
119
Hình 3.7: Mối quan hệ giữa kiều hối và tiền gửi ngoại tệ của Việt Nam
giai đoạn 1996 - 2009
(Nguồn: Thống kê Tài chính quốc tế IFS)
Song một nghịch lý với Việt Nam là, mặc dù lượng kiều hối chảy vào Việt
Nam rất lớn, nhưng tỷ lệ tiết kiệm của Việt Nam bằng ngoại tệ không tăng lên.
Điều này chứng tỏ một lượng kiều hối được dân chúng chuyển vào lưu thông và
có thể được giao dịch trên thị trường tự do. Ta có thể ước lượng lượng ngoại tệ
trong lưu thông bằng cách: căn cứ vào mục sai số trong cán cân thanh toán quốc
tế. Nếu sai số là âm thể hiện bằng lượng ngoại tệ mà hệ thống ngân hàng không
kiểm soát được và không quay trở lại trong hoạt động ngoại thương hay giao
dịch vốn quốc tế trong bảng cân đối của NHNN. Do vậy, lượng ngoại tệ này là
lượng ngoại tệ chuyển vào trong lưu thông. Ngược lại, nếu mục sai số mang dấu
dương thì nó thể hiện lượng ngoại tệ ra khỏi lưu thông (Nguyễn Thị Hồng 2002).
Quan sát hình 8 ta thấy lượng ngoại tệ chảy vào trong lưu thông mà
NHNN không kiểm soát được rất lớn. Điều này có thể thấy quy mô hoạt động
của thị trường ngoại hối chợ đen là rất lớn. Lượng ngoại tệ biến động mạnh trong
120
hai năm 2008, 2009 ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của thị trường ngoại hối
chính thức.
Hình 3.8: Lượng ngoại tệ trong lưu thông của Việt Nam từ quý I/1996
đến quý IV/2009
(Nguồn: Thống kê Tài chính quốc tế IFS).
tín dụng cũng đạt ít hiệu quả hơn. Do thay đổi lãi suất ở nước ngoài sẽ tác động
trực tiếp đến quyết định phân bổ tài sản của những người nắm giữ USD. Bởi khi
lãi suất USD trên thị trường thế giới tăng hay giảm, người nắm giữ USD quyết
định nên mở rộng hay thu hẹp tiêu dùng và đầu tư. Như vậy, việc điều hành
chính sách lãi suất thấp để kích cầu không chắc đã khuyến khích đầu tư mà có
thể nảy sinh tâm lý chuyển đổi sang USD nhằm bảo tồn giá trị tài sản tài chính.
Đô la hóa cũng làm giảm hiệu lực của chính sách tỷ giá. Do trên thị trường
luôn tồn tại một lượng ngoại tệ lưu thông ngoài hệ thống NHTM, hình thành nên
thị trường ngoại hối tự do. Nhiều khi tỷ giá trên thị trường ngoại hối tự do biến
122
động xa hơn tỷ giá trên thị trường chính thức, gây tâm lý bất ổn trong khu vực
dân cư, ảnh hưởng đến hiệu lực của chính sách tỷ giá. Thị trường ngoại hối chợ
đen gây ra tình trạng đầu cơ ngoại tệ của các nhà kinh doanh, các NHTM, của
dân chúng, của doanh nghiệp tư nhân
Thứ tư là, kiều hối và hoạt động rửa tiền: Việt Nam đang trở thành mục
tiêu của hoạt động rửa tiền vì hệ thống thanh tra, giám sát, hệ thống kế toán và
tìm hiểu khách hàng của hệ thống ngân hàng còn kém phát triển, mức độ sử dụng
tiền mặt và các luồng chuyển tiền không chính thức khá lớn khiến cho việc kiểm
soát các giao dịch, thanh toán trở nên khó khăn. Đặc biệt là trong bối cảnh một
số năm gần đây, lượng kiều hối tăng nhanh chóng như đã phân tích ở phần trên
bởi chính sách nhận kiều hối của nước ta ngày càng thông thoáng và cởi mở.
Năm 2007, Cơ quan bài trừ ma túy Hoa Kỳ, Cảnh sát Hoàng gia Canada và
Interpol Việt Nam đã đồng phối hợp bóc gỡ một đường dây sản xuất, buôn bán
trái phép chất ma túy và rửa tiền xuyên quốc gia liên quan đến 24 Việt kiều
Canada. Kết quả cho thấy từ năm 2000 đến năm 2004, hàng triệu USD đã được
chuyển về Việt Nam qua các tài khoản ngân hàng. Vào thời gian cao điểm, tổ
chức này đã chuyển về 190 nghìn USD/ngày. Theo nhận định của Cơ quan
phòng chống ma túy và tội phạm Liên Hợp Quốc (UNODC), Việt Nam dễ bị tội
tiền kiều hối về nước cải thiện cuộc sống cho người thân nơi quê nhà hoặc đầu tư
phát triển sản xuất góp phần phát triển kinh tế xã hội đất nước. Trong điều kiện cụ
thể nền kinh tế Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đưa ra một số những biện pháp
sau:
Một là, tạo khuôn khổ pháp lý nhằm bảo hộ và tạo điều kiện cho doanh
nhân, trí thức kiều bào về nước làm việc, đầu tư kinh doanh; khuyến khích việc
124
hình thành các hiệp hội chuyên ngành, mở rộng hợp tác trong cộng đồng và với
trong nước theo tinh thần "ích nước lợi nhà". Chính phủ có những biện pháp
đồng bộ và có hiệu quả nhằm giảm sự mất cân đối trong đầu tư ở các làng nghề,
vùng lãnh thổ, gia tăng đầu cơ trên thị trường bất động sản và sự bất ổn trên thị
trường vốn, hạn chế lạm dụng những ưu đãi về thuế, đất đai.
Hai là, tích cực hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ổn định
và phát triển, giữ gìn bản sắc dân tộc thông qua việc mở rộng các hoạt động giao
lưu nhiều mặt giữa cộng đồng người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tiếp tục tổ
chức các trại hè, mở các lớp tiếng Việt cho thanh thiếu niên kiều bào, hỗ trợ xây
dựng trường học, cung cấp sách giáo khoa. Khuyến khích cộng đồng phát huy
vai trò cầu nối hữu nghị và quảng bá hình ảnh Việt Nam với bạn bè quốc tế.
Ba là, đáp ứng những nguyện vọng, lợi ích chính đáng của kiều bào như
xem xét vấn đề thị thực xuất nhập cảnh, mở rộng đối tượng bảo lãnh hồi hương,
rút ngắn thời gian giải quyết thôi quốc tịch và xem xét khả năng cho phép kiều
bào có hai quốc tịch... giải quyết tốt các vấn đề tâm linh, nhân đạo. Chính phủ
cần có chính sách thông thoáng hơn nữa cho Việt Kiều được mua nhà, mua đất,
giới hạn về tỷ lệ góp vốn vào các công ty cổ phần, đa dạng hóa các hình thức đầu
tư và cải cách thủ tục hành chính để thu hút mạnh nguồn kiều hối.
Bốn là, nguồn kiều hối thể hiện tình cảm sâu nặng của bà con Việt kiều
đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài đối với thân nhân và quê hương, đất nước.
Chính vì lẽ đó, chính sách của Đảng và Nhà nước cởi mở thông thoáng, khuyến
thể tạo ra nhiều hàng hóa cho xã hội đồng thời tạo công ăn việc làm cho xã hội.
Với những quỹ này thì nguồn kiều hối sẽ được sử dụng trực tiếp để tạo ra tổng sản
phẩm quốc dân cho đất nước thay vì đầu tư vào vàng, ngoại tệ, hay bất động sản,
những lĩnh vực đầu tư không thúc đẩy phát triển kinh tế. Ngoài ra, những quỹ này
126
hoạt động có hiệu quả sẽ có tác dụng thu hút thêm kiều hối cho đất nước vì những
người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ thấy được đây là một kênh đầu tư hiệu
quả mà còn giupos cho những người xa Tổ quốc thấy tự hào rằng họ đã góp một
phần nhỏ bé vào công cuộc kiến thiết xây dựng đất nước.
Bài học kinh nghiệm thứ ba, về thu hút người tài ở nước ngoài về nước
của chính phủ Trung Quốc. Người định cư ở nước ngoài gửi kiều hối về nước
được chia làm hai nhóm đối tượng: một là những người định cư dài hạn ở nước
ngoài có tiềm lực mạnh về kinh tế, có tri thức, có tài và hai là những người xuất
khẩu lao động thuần túy. Với hai đối tượng này thì tiềm lực kiều hối cho phát triển
kinh tế xã hội của đất nước thực sự phải xuất phát từ nhóm đối tượng thứ nhất. Vì
vậy những chính sách thu hút người tài của Trung Quốc là những bài học đáng
quý cho chính sách kiều hối của Việt Nam. Để thu hút người tài ở nước ngoài đầu
tư về quê hương nhằm cải thiện đời sống quê nhà và phát triển kinh tế xã hội, một
số biện pháp như:
Một là, Nhà nước cần có chính sách thông thoáng và rộng rãi hơn nữa,
mạng lưới thông tin minh bạch rõ ràng hơn để nhiều doanh nhân là kiều bào từ
các nước trên thế giới đầu tư về quê hương. Ngoại trừ các thành phố lớn, hiện tại
không ít các địa phương vẫn còn có quan niệm dự án kiều bào là vốn đầu tư
nước ngoài, thậm chí doanh nhân đứng tên dự án vẫn còn mang quốc tịch Việt
Nam. Điều này hiển nhiên gây khó khăn cho doanh nghiệp về nhiều mặt như thủ
tục, thuế, và các cách đối đãi không công bằng. Hơn nữa hạ tầng cơ sở cho các
hoạt động nghiên cứu sáng tạo trong nước và hạ tầng về chính sách, quy định,
đặc biệt là về các ưu đãi cụ thể dành cho trí thức cần được quan tâm sâu sắc.
không được quá cao, kiểm soát chặt chẽ tránh các hợp đồng giả, điều này được
thực hiện thông qua Ủy ban người Việt Nam ở nước ngoài hoặc Bộ Ngoại giao xử
128
lý những hợp đồng lao động nước ngoài trước khi tiến hành nhập cư lao động.
Thông qua các quốc gia lãnh sự và đại sư quán ở nước ngoài, chính phủ có thể
theo dõi hoạt động của người lao động ở nước ngoài, đồng thời cung cấp các dịch
vụ để giải quyết về hợp đồng sai lầm và tranh chấp lao động, thiết lập một mạng
lưới với luật sự để giúp họ trong bất kỳ những vụ tranh chấp pháp lý xảy ra.
Hai là, bảo vệ công dân di cư thông qua một quỹ phúc lợi nhập cư có thể
cung cấp các dịch vụ bao gồm cả quyền hồi hương khẩn cấp trong trường hợp
khủng hoảng quốc gia, dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, trợ giúp phúc lợi, chuẩn bị tái
hòa hợp và hồi hương của công dân di cư trong trường hợp chết khi đang lao
động ở nước ngoài. Tích cực hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ổn
định và phát triển, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc thông qua việc mở rộng các
hoạt động giao lưu nhiều mặt giữa cộng đồng người lao động Việt Nam ở nước
ngoài, tổ chức các trại hè, mở các lớp tiếng Việt cho các thanh thiếu niên kiều bào,
hỗ trợ xây dựng trường học, khuyến khích cộng đồng phát huy vai trò cầu nối hữu
nghị và quảng bá hình ảnh Việt Nam với bạn bè quốc tế, tạo hình ảnh đẹp cho lao
động Việt Nam làm việc tại nước ngoài.
Ba là, xúc tiến mở các chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài nơi có nhiều
người Việt Nam lao động, học tập và bà con Việt kiều sinh sống làm ăn. Thúc đẩy
cạnh tranh trong ngành dịch vụ chuyển tiền nước ngoài ở các ngân hàng nhằm tạo
ra chi phí chuyển tiền thấp hơn. Các ngân hàng cần minh bạch đăng tải tất cả các
chi phí liên quan đến một giao dịch chuyển kiều hối cụ thể, qua đó bảo vệ quyền
lợi chính đáng của người chuyển tiền và người nhận tiền.
3.4 Một số kiến nghị về chính sách kiều hối của Việt Nam
Từ những phân tích về thực trạng kiều hối của Việt Nam trong những năm
qua cũng như vai trò và ảnh hưởng tiêu cực của kiều hối đến phát triển kinh tế xã
130
Ba là, việc thực hiện chính sách nhà ở tạo điều kiện cho người Việt Nam
định cư ở nước ngoài được quyền mua nhà ở tại Việt Nam mà dù đã được Chính
phủ ban hành Nghị định về việc mua nhà ở tại Việt Nam đối với người Việt Nam
định cư ở nước ngoài những vẫn còn nhiều khó khăn và phức tạp. Vì vậy Nhà
nước cần có nhiều hơn nữa những quy định thông thoáng hơn trong việc mua
nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong việc làm thủ
tục giấy tờ hành chính, bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ khi mua nhà.
Bốn là, việc tính thuế thu nhập đối với người lao động trong nước và
người nước ngoài còn bất hợp lý, doanh nghiệp dù rất muốn sử dụng chuyên gia
trong nước với mức lương cao tương xứng với đóng góp của họ nhưng như thế
thì sẽ phải đóng thuế thu nhập cho họ còn cao hơn khi đi thuê người nước ngoài,
điều này đã hạn chế việc thu hút chất xám đối với kiều bào. Trong số hơn 4 triệu
người dân Việt Nam sinh sống và làm ăn ở nước ngoài có không ít các chuyên
gia làm việc trong các công ty đa quốc gia, việc thu hút họ sẽ đồng nghĩa với
việc thu hút nguồn lực quý giá về cho đất nước, vì vậy Nhà nước cần điều chỉnh
chính sách thuế thu nhập sao cho hợp lý, vừa đảm bảo nguồn thu ngân sách vừa
khuyến khích được người lao động có mức lương cao phải nộp thuế vẫn thấy
thỏa đáng với công sức lao động của họ.
Năm là, Ngân hàng Nhà nước cần có những nghiên cứu chi tiết hơn để có
căn cứ cho việc thực hiện chính sách tỷ giá, lãi suất và các chính sách khuyến
khích đầu tư phù hợp trên cơ sở có thể định hướng cho việc khai thác và sử dụng
kiều hối có hiệu quả hơn. Trong điều hành tỷ giá và quản lý ngoại hối cần tiếp
tục thực hiện theo tín hiệu thị trường, phù hợp với diễn biến lãi suất, cân đối hài
hóa cung cầu ngoại tệ, tăng tính thanh khoản cho thị trường ngoại tệ và thúc đẩy
xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, giảm dần tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế.
Các ngành có liên quan như quản lý thị trường, thanh tra, cơ quan thông tin đại
131
(chuyển tiền kiều hối từ Hàn Quốc về Việt Nam qua điện thoại di động), phối
hợp với Ngân hàng Wells Fargo, một ngân hàng lớn nhất của Mỹ với trên 3000
chi nhánh triển khai dịch vụ chuyển tiền trọn gói ngay trong ngày từ Mỹ về Việt
Nam
Tám là, các giải pháp kiềm chế lạm pháp phải được thực hiện đồng bộ, ổn
định giá trị đồng Việt Nam, tạo lòng tin bền vững của người dân Việt Nam vào
đồng nội tệ.
Chín là, cần tiếp tục có chính sách mở rộng cho vay vốn tạo điều kiện cho
lao động Việt Nam đi xuất khẩu lao động nước ngoài và khuyến khích mọi thành
phần kinh tế mở rộng thị trường xuất khẩu, địa bàn hoạt động kinh doanh ở cả
trong và ngoài nước. Môi trường kinh doanh có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế. Môi trường kinh
doanh thuận lợi sẽ tạo cơ hội gia tăng hiệu quả đầu tư cũng như sức cạnh tranh
của doanh nghiệp.
Mười là, vấn đề về kiều hối và hoạt động rửa tiền ở Việt Nam. Việc
chuyển tiền qua con đường kiều hối về Việt Nam là con đường nhanh và dễ
dàng, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang tăng cường những chính sách
khuyến khích kiều bào gửi kiều hối về xây dựng quê hương. Do người dân Việt
Nam vẫn còn thói quen sử dùng nhiều tiền mặt, cùng với hoạt động đầu tư
thương mại ngày càng gia tăng, trong khi chưa có một cơ chế hiệu quả để phòng
chống rửa tiền qua con đường này, Việt Nam có thể thành mục tiêu của hoạt
động rửa tiền thông qua con đường kiều hối. Vì vậy cần phải có những biện pháp
thiết thực để vừa khuyến khích kiều bào gửi tiền về xây dựng đất nước vừa ngăn
chặn được tội phạm rửa tiền thông qua con đường này. Trước hết phổ biến và
phải nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về Luật phòng, chống rửa tiền; tăng
133
cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có liên quan với các nước và các tổ
chức quốc tế; Ngân hàng Nhà nước cần ưu tiên đầu tư hệ thống công nghệ thông
mục đích cải thiện cuộc sống nơi quê nhà và góp phần xây dựng đất nước, luận
án đã trình bày những nội dung cơ bản của chính sách kiều hối, từ đó phân tích
những chính sách nhằm thu hút, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn kiều hối
của các nước đang phát triển nói chung.
Với những nội dung phân tích ở chương 2 của luận án đã cho chúng ta có
cái nhìn tổng quan về kiều hối và chính sách kiều hối của một số nước Châu Á
với ba quốc gia điển hình về thu hút kiều hối là Ấn Độ, Trung Quốc và
Philippines. Tổng quan về kiều hối của một các nước thuộc khu vực Châu Á cho
thấy, dòng kiều hối là lợi ích lớn nhất mà các nước xuất khẩu lao động nhận
được từ quá trình dịch chuyển lao động toàn cầu. Trong những năm gần đây đã
có sự tăng trưởng nhanh chóng của dòng kiều hối trong mối tương quan với các
dòng tài chính khác. Rõ ràng là trong khi các dòng tài chính khác khá bất ổn và
thậm chí có khuynh hướng giảm từ sau năm 2000 thì kiều hối vẫn tăng một cách
vững chắc. Tác động của kiều hối có thể diễn ra theo chiều hướng tích cực hoặc
tiêu cực. Kiều hối có thể tác động đến những vấn đề như: vấn đề nghèo đói và
135
bất công bằng thu nhập, tiêu dùng, đầu tư và tiết kiệm gia đình, thị trường lao
động, nguồn nhân lực và các biến số kinh tế vĩ mô khác.
Ở Ấn Độ, kiều hối mang lại nhiều lợi ích to lớn đối với phát triển kinh tế
xã hội: nền công nghệ thông tin đã trở thành mũi nhọn kinh tế của Ấn Độ, có khả
năng canh tranh toàn cầu. Cùng trở về với chất xám là nguồn vốn khổng lồ của
các Ấn kiều. Số vốn này, bằng 23% dự trữ ngoại tệ của Ấn Độ, giúp cân bằng
cán cân thương mại và ngăn chặn lạm phát hiệu quả. Bên cạnh đó, kiều hối còn
có vai trò không nhỏ trong việc đóng góp vào GDP của Ấn độ. Năm 2005- 2006,
kiều hối chiếm 3,08% GDP của nước này - một sự tăng mạnh từ 0,7% trong
1990-1991. Ngày nay, những Ấn kiều thành đạt đã trực tiếp thu nhận kinh
nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh, khoa học công nghệ tiên tiến ở bên ngoài
và khi trở về nước, họ trở thành “vũ khí tối thượng” của chính phủ Ấn Độ trong
mời nhập cư vĩnh viễn, xuất nhập cảnh và được tạm trú với hộ chiếu có sẵn mà
không cần visa. Thông qua hình thức này, kêu gọi lòng yêu nước của người di cư
ra nước ngoài có nguyện vọng muốn đầu tư xây dựng đất nước. Chính phủ Trung
Quốc đã thành công trong việc sử dụng có hiệu quả nguồn kiều hối nhằm mục
đích phát triển kinh tễ xã hội của đất nước thông qua biện pháp sử dụng kiều hối
để phát triển sản xuất, hỗ trợ các doanh nghiệp ở quy mô nhỏ không đủ điều kiện
để vay vốn ở các ngân hàng hay các tổ chức tín dụng thông qua các quỹ gọi tắt là
TVEs (township and village enterprises). Mô hình này là bài học kinh nghiệm
mà các quốc gia thu nhận kiều hối nói chung và Việt Nam nói riêng cần tham
khảo và học hỏi.
Một trong nguồn tạo kiều hối quan trọng cho đất nước là những lao động
xuất khẩu ra nước ngoài gửi tiền về cho người thân với mục đích cải thiện cuộc
sống quê nhà và góp phần nhỏ bé vào công cuộc xấy dựng đất nước. Điểm nổi
137
bật về chính sách thu hút kiều hối của Philippines là sự chuyên nghiệp hóa chính
sách xuất khẩu lao động, biến lĩnh vực này trở thành ngành công nghiệp mới, tạo
ra những người lao động chuyên nghiệp, có chuyên môn tốt, trình độ học vấn
cao và lao động chăm chỉ siêng năng. Qua đó thúc đẩy những lao động ở nước
ngoài vừa nâng cao trình độ vừa có điều kiện gửi tiền về nước nhiều hơn.
Từ những bài học kinh nghiệm quý báu đó, Việt Nam đã học hỏi những gì
trong việc hoạch định chính sách kiều hối cho phát triển kinh tế xã hội của đất
nước. Chương 3 của luận án đã phân tích thực trạng dòng kiều hối của Việt
Nam, những tác động tích cực và ảnh hưởng tiều cực của kiều hối đến nền kinh
tế Việt Nam. Trước hết. kiều hối là một trong hai nguồn vốn (cùng với dòng vốn
đầu tư trực tiếp FDI) chiếm tỷ trọng lớn nhất trong số các nguồn vốn từ bên
ngoài vào Việt Nam và có xu hướng tăng lên qua các năm; có vai trò quan trọng
đối với tiết kiệm, đầu tư và tăng trưởng; là dòng tiền vào ổn định tạo nguồn bù
cân bằng cán cân vãng lai; có những đóng góp tích cực đến sự phát triển của thị
the countryside of China, Shehuixue yanjiu (Sociological Research), 6(3):
64-78.
3. Cai, Q. 2003, Migrant remittances and family ties: A case study in China,
International Journal of Population Geography, 9: 471-483.
4. David C. Grace (2005), The international Bank for Reconstruction and
Development/The World bank, “ Rimittances – Devolopment impact and
future prospects”. Chapter 8, p159.
5. De la Torre (2005), China-labor: Urban workers send $30 billion to rural
homes, Global Information Network, 13 December.
6. Dilip Ratha Sanket Mohapatra và Sonia Plaza (Apirl 2008), The World
bank development Prospects group Migration Remittances Team, “New
Sources and Innovative Mechanisms for financing Development in Sub Saharan Africa”
7. Department of Agriculture and Cooperation, Ministry of Agriculture,
Government of India, March, 2011, Annual report 2010-2011, p.3, 4, 5.
8. D. Ratha, S. Mohapatra and A. Silwal (2011), Outlook for Remittance
Flows 2012-14. The World Bank, Migration and Development Brief 17.
140
9. Dilip Ratha, Sanket Mohapatra, Caglar Ozden, Sonia Plaza, William
Shaw, Abede Shimeles (2011), Leveraging Migration for Africa:
Remittances, Skills, and Investments. , The World Bank.
10. D. Ratha, S. Mohapatra and A. Silwal (2010), Outlook for Remittance
Flows 2011-12: Recovery after the crisis, but risks lie ahead., The World
Bank.
11. G. G. Afram (2012), The Remittance Market in India: Opportunities,
Challenges and Policy Options. The World Bank.
12. Hernández Coss (2005), “Canada Vietnam Remittance Corridor”, The
World Bank
13. Hare, D. (1999), Push versus pull factors in migration outflows and
Corridor. The World Bank.
24. Raul Hernandez-Coss, 2005, Chapter 13, p 243, The international Bank
for Reconstruction and Development/The World bank, “ Rimittances –
Devolopment impact and future prospects”.
25. Reena Aggarwal, Asli Demirgüç-Kunt, and Maria Soledad Martinez Peria
(2006), Do Workers’ Remittances Promote Financial Development? The
World Bank.
26. Rachel Murphy (2009), Domestic Migrant Remittances in China:
Distribution, Channels and Livelihoods, University of Bristol.
27. Rechard H. Adams Jr. và John Page, Devesh Kapur, Devesh Kapur
(2005), The international Bank for Reconstruction and Development/The
World bank, “Rimittances – Devolopment impact and future prospects”.
Part V, p275.
142
28. Samuel Munzele Mainmbo and Dilip Ratha (2005), The international
Bank for Reconstruction and Development/The World bank, “ Rimittances
– Devolopment impact and future prospects”.
29. Tasneem Siddiqui, 2008, “Migration and gender in ASIA”, United Nations
Economic and Social Commission for Asia and the Pacific.
30.
d=446
31. Ministry of Finance, Government of India, Economic Survey 2010-2011,
2011 p.2.
32. Ministry of Finance, Government of India, Annual Report 2010-2011,
2011 p.5-6.
33.
f%20PSBs.pdf