Hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam - Pdf 38

Hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Viê tê Nam

giá trị pháp lý, một bản hợp đồng được soạn thảo đảm bảo hiệu lực, tư vấn pháp luật
chính xác, đầy đủ và hiểu được,); iv) nội dung thực sự của HĐDVPL (giải thích
HĐDVPL), làm cho bên sử dụng DVPL hiểu được đúng và đầy đủ về nội dung của hợp
đồng đặc biệt là quyền và nghĩa vụ của các bên và vấn đề giải quyết tranh chấp nếu có
tranh chấp xảy ra (cơ quan giải quyết, trình tự thủ tục giải quyết về những nội dung cơ
bản nhất, án phí); điều kiện thương mại chung (nếu có);
Bên cạnh đó, pháp luật cần bổ sung quy định về thời điểm cung cấp thông tin; yêu cầu
đối với thông tin được cung cấp (chính xác, đầy đủ và trung thực); bổ sung quy định về
điều kiện có hiệu lực của HĐDVPL (sẽ rơi vào trường hợp vô hiệu do vi phạm nghĩa vụ
cung cấp thông tin).
Thứ ba: Hoàn thiện các quy định về chất lượng dịch vụ pháp lý
Do đặc tính vô hình và khó xác định chất lượng của DVPL nên việc quy định tiêu chuẩn
chất lượng cho các loại hình DVPL hầu như không thể thực hiện được. Tuy nhiên, để
nâng cao chất lượng DVPL, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bên sử dụng DVPL,
nhà nước cần tăng cường quản lý đối với chất lượng DVPL thông qua việc đề ra những
yêu cầu đối với việc thực hiện tùy vào từng loại DVPL cụ thể. Như: i) ban hành yêu cầu
đối với việc thực hiện công việc. Ví dụ: Yêu cầu đối với thực hiện dịch vụ tư vấn gồm
chính xác, đầy đủ và hiểu được; yêu cầu đối với dịch vụ bào chữa gồm đúng pháp luật,
đầy đủ và nhiệt tình, trung thực vì lợi ích của khách hàng; yêu cầu đối với dịch vụ soạn
thảo Điều lệ, hợp đồng và văn bản khác phải đúng về hình thức, thể thức và đáp ứng mục
đích sử dụng đối với mỗi loại văn bản; ii) ban hành quy trình, trình tự, thủ tục thực hiện
kèm theo những yêu cầu cụ thể bên cung cấp DVPL phải tuân thủ (dịch vụ công chứng là
một điển hình); iii) quy định kết quả công việc cụ thể. Ví dụ: Dịch vụ lập vi bằng yêu cầu


phải lập được vi bằng (văn bản, ảnh chụp về tình trạng cần lập vi bằng chẳng hạn ảnh
chụp tình trạng đang trả tiền thuê nhà nhưng chủ có nhà cho thuê không nhận nhằm lấy
lại nhà đang cho thuê để cho người khác thuê với giá cao hơn; một thông điệp dữ liệu
phản ánh sự kiện, hiện tượng...); dịch vụ thi hành án phải thu hồi được tài sản, hiện vật;



Thực tế cho thấy, đối với những vụ án thuộc những trường hợp trên, việc giải quyết của
các cơ quan tố tụng được tiến hành rất thận trọng, bên cạnh đó còn có sự tham gia của
người bào chữa nên mức độ oan sai rất nhỏ. Phần lớn những vụ án có sự oan sai lại nằm
ở những nhóm tội danh có khung hình phạt từ 5 năm tù trở lên và là các vụ án kinh tế và
chức vụ. Những vụ án này ranh giới giữa có tội và không có tội rất mong manh. Quan
điểm của cơ quan tiến hành tố tụng của các địa phương về loại án này rất khác nhau, có
khi tại địa phương này thì xác định là tội phạm và khởi tố VAHS, ở địa phương khác lại
xác định chỉ là vi phạm hành chính trong hoạt động kinh tế. Do đó, để tránh oan sai, tạo
điều kiện cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa (tham gia
HĐDVPL với tư cách là bên sử dụng DVPL) và tạo điều kiện cho tổ chức hành nghề luật
sư có điều kiện trở thành bên cung ứng DVPL và tham gia vào quá trình tố tụng để thực
hiện DVPL, cần sửa đổi khoản 2 Điều 57 BLTTHS theo hướng đối với những tội theo
khung hình phạt có mức án 5 năm tù trở lên bắt buộc phải có người bào chữa.
- Quy định quyền được hỏi bị can và quyền đưa ra ý kiến đối với việc hỏi cung bị can của
điều tra viên của luật sư
Điểm a và điểm b khoản 1 Điều 58 BLTTHS quy định một số quyền của người bào chữa
như quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ và nếu ĐTV đồng ý thì được hỏi
người bị tạm giữ; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các
quyết định tố tụng có liên quan đến người mà mình bào chữa; đề nghị cơ quan điều tra
báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can.
Thực tế, quy định này dẫn đến việc luật sư chỉ được hỏi khi ĐTV “cho phép” và gián tiếp
phủ nhận quyền được hỏi bị can của luật sư. Việc quy định người bào chữa chỉ được xem
các văn bản “có sự tham gia của mình” và “liên quan đến người mà mình bào chữa” đặt
vị thế của người bào chữa vào câu chuyện “Thầy bói xem voi”, biến việc đọc thành vô
nghĩa vì trong một vụ án những tài liệu này không cho phép luật sư có thể nắm được đầy
đủ thông tin cần thiết để thực hiện hoạt động bào chữa. Quy định việc báo trước thời gian
và địa điểm hỏi cung của ĐTV cho luật sư từ trước đến nay chỉ là hình thức vì báo hay
không dường như là đặc quyền của ĐTV và nếu ĐTV không thực hiện việc báo thì luật

đủ; (ii) việc sao chụp tài liệu phải được ĐTV trực tiếp thực hiện bằng máy photocopy nên
không phải tài liệu cần thiết nào cũng được sao chép và quyền được chụp ảnh tài liệu
không được thực hiện; (iii) việc đọc, ghi chép và sao chụp tài liệu chỉ có thể được phép
sau khi kết thúc điều tra. Quy định này đã vô hiệu hóa quyền đọc hồ sơ của người bào
chữa vì khi đã kết thúc giai đoạn điều tra thì hồ sơ vụ án phải được chuyển sang VKS
cùng cấp, ĐTV chỉ còn giữ hồ sơ lưu, mà đến thời điểm này, ĐTV không bao giờ để luật
sư được thực hiện quyền này, với lí do “hồ sơ đã được chuyển cho VKS”. Trong khi hồ
sơ vụ án là căn cứ quan trọng nhất để luật sư kịp thời bảo vệ quyền lợi cho khách hàng.
Như vậy, do luật sư không được tiếp cận hồ sơ vụ án kịp thời nên người bị tình nghi
phạm tội đương nhiên không thể biết được đầy đủ các tình tiết, tài liệu, chứng cứ chống
lại mình có trong hồ sơ vụ án mà những tình tiết đó có thể sẽ là căn cứ quyết định hành vi
của bị can có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không.
Vì vậy, cần sửa đổi điểm g khoản 2 Điều 58 BLTTHS, quy định theo xu hướng luật sư có
quyền xem xét tất cả các tài liệu quan trọng liên quan đến quá trình tố tụng tại giai đoạn
ĐTVAHS để chuyển cho khách hàng để khách hàng có thể chuẩn bị đầy đủ và biết mình
bị buộc tội gì.
- Bổ sung quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp
chứng cứ cho luật sư.


Điểm d khoản 2 Điều 58 BLTTHS quy định quyền của người bào chữa được thu thập tài
liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa. Quy định này không có tính khả thi
trong trường hợp những tài liệu, chứng cứ đang được các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền quản lý. Bởi lẽ, pháp luật chưa quy định nghĩa vụ của các đối tượng
trên trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ cho luật sư để luật sư có thể thực hiện có chất
lượng DVPL. Vì vậy, pháp luật cần bổ sung quy định nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá
nhân trong việc cung cấp chứng cứ cho luật sư.
- Sửa đổi, bổ sung quy định về quyền được nhận các văn bản tố tụng của luật sư
Khoản 4 Điều 162 BLTTHS quy định trong thời hạn hai ngày, kể từ ngày ra bản kết luận
điều tra, CQĐT phải gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản kết luận điều tra

Ngoài ra, tại giai đoạn truy tố luật sư tham gia tố tụng còn gặp một số khó khăn, vướng
mắc khác như: Đối với các vụ án bắt buộc phải có người bào chữa tham gia tố tụng, VKS
tiến hành việc phúc cung đối với bị can nhưng không thông báo cho luật sư biết nên luật
sư đã không thể có mặt để bảo vệ quyền lợi cho bị can. Cá biệt có trường hợp sau đó
VKS đề nghị luật sư ký nhận vào biên bản phúc cung mà luật sư không tham gia và vì
luật sư từ chối ký nhận nên biên bản đã không được đưa vào hồ sơ vụ án. Như vậy, có thể
coi đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng của VKS.
Để khắc phục những bất cập nêu trên liên quan đến HĐDVPL tại giai đoạn truy tố, theo
chúng tôi cần sửa đổi, bổ sung BLTTHS theo hướng bổ sung điều luật quy định một cách
cụ thể về quyền của luật sư trong giai đoạn truy tố. Đặc biệt là quyền có mặt tại các buổi
phúc cung của KSV, nếu KSV không thực hiện quyền này của luật sư thì biên bản phúc
cung phải bị coi là không có giá trị pháp lý và hoạt động phúc cung phải xác định thuộc
trường hợp vi phạm thủ tục tố tụng; bổ sung thêm quy định về trách nhiệm của VKS
trong việc thông báo cho luật sư tham gia vào giai đoạn truy tố, tạo điều kiện cho luật sư
chủ động tham gia vào hoạt động tố tụng; sửa đổi khoản 1 Điều 166 BLTTHS theo
hướng việc giao cáo trạng cho bị can bắt buộc phải có người bào chữa, bởi sự có mặt của
người bào chữa sẽ làm cho việc tống đạt cáo trạng khách quan, nhanh chóng và đạt hiệu
quả cao hơn vì bị can thường có tâm lý tin tưởng vào người bào chữa của mình. Hơn nữa,
người bào chữa sẽ giải thích, hướng dẫn cho bị can, giúp bị can ghi lại những ý kiến thắc
mắc của mình về nội dung bản cáo trạng một cách ngắn gọn, súc tích hơn.
- Sửa đổi, bổ sung quy định về cấp GCNNBC và hiệu lực của GCNNBC qua các giai
đoạn tố tụng hình sự
+ Về thời hạn cấp giấy chứng nhận người bào chữa
Mặc dù Điều 27 LLS quy định trong thời hạn 3 ngày và với hồ sơ gồm 3 loại giấy tờ
(giấy giới thiệu của tổ chức hành nghề luật sư; chứng chỉ hành nghề luật sư; đơn đề nghị
cấp GCNNBC), CQĐT phải xem xét, cấp GCNNBC để luật sư tham gia tố tụng. Thực tế,
phần lớn thời hạn cấp GCNNBC không được đảm bảo trong vòng 3 ngày, thông thường
là từ 7 đến 10 ngày, thậm chí có trường hợp không cấp và cũng không trả lời lí do.
Nguyên nhân là do pháp luật chưa quy định thủ tục việc gửi và nhận hồ sơ xin cấp
GCNNBC. CQĐT các cấp, các địa phương thực hiện thủ tục này mỗi nơi một khác. Có

- Sửa đổi, bổ sung quy định về số lượng người bào chữa cho một người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo trong cùng một vụ án
Khoản 3 Điều 56 BLTTHS về số lượng người bào chữa cho một người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo trong cùng một vụ án, quy định một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích của họ không
đối lập nhau. Tuy nhiên, cho đến nay thì pháp luật chưa đưa ra khái niệm “không đối lập
nhau” vì vậy, cả Tòa án, luật sư và người được bào chữa đều gặp nhiều khó khăn, vướng
mắc trong việc xác định số lượng người bào chữa cho một người.
- Sửa đổi, bổ sung quy định về việc vắng mặt của người bào chữa tại phiên toà
Điều 190 BLTTHS quy định người bào chữa tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan
tố tụng vắng mặt thì tòa án hoãn phiên tòa, các trường hợp còn lại tòa án vẫn mở phiên
tòa, là tạo ra sự bất bình đẳng trên thực tế giữa việc bào chữa án chỉ định và án mời. Thực


tế, người bào chữa có thể gặp những tình huống bất khả kháng dẫn đến việc vắng mặt tại
phiên tòa. Vì thế, cần sửa đổi, bổ sung Điều 190 theo hướng tại phiên tòa, nếu người bào
chữa (bất kể luật sư chỉ định hoặc mời) vắng mặt lần thứ nhất mà có lý do chính đáng thì
Tòa án phải hoãn phiên tòa để đảm bảo quyền có người bào chữa của bị cáo hoặc đương
sự.
- Sửa đổi, bổ sung quy định về hoạt động tranh tụng và thời gian tranh luận của luật sư tại
phiên toà
+ Về việc tranh luận của kiểm sát viên với luật sư tại phiên tòa
Mặc dù pháp luật đã quy định chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị KSV phải đáp lại
những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố
tụng khác mà những ý kiến đó chưa được KSV tranh luận. Nhưng đã là “quyền” thì chủ
tọa có quyền không thực hiện, cho nên, khi KSV không đủ căn cứ và lí lẽ để tranh luận
với luật sư thì KSV chỉ việc tuyên bố "đại diện VKS giữ nguyên quan điểm". Vì vậy, cần
sửa đổi "quyền" này thành "nghĩa vụ" của chủ toạ phiên toà. Đồng thời cần quy định
nghĩa vụ tranh luận của KSV trong trường hợp này.
+ Về thời gian tranh luận của luật sư tại phiên toà

chỉ một mình người chồng có tư cách chủ thể để tham gia giao dịch. Trong khi đó
LHN&GĐ quy định tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ
chồng, việc sử dụng, định đoạt phải được sự đồng ý của cả hai vợ chồng.
Từ những quy định “vênh” nhau như trên dẫn đến thực tế là đối với những cặp vợ chồng
mà người vợ chưa đủ 18 tuổi khi muốn thực hiện việc phân chia tài sản hoặc chuyển dịch
quyền sử dụng đất sẽ không thực hiện được. Vì thế, dẫn đến việc khi công chứng các tài
sản có liên quan đến độ tuổi tham gia giao dịch và chế độ tài sản chung của vợ chồng, các
CCV khi xác nhận hợp đồng đã gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Để vợ chồng thực
hiện được quyền của chủ sở hữu đối với tài sản chung trong đó có quyền sử dụng đất,
theo chúng tôi phải sửa đổi quy định về độ tuổi được tham gia quan hệ pháp luật đất đai
quy định tại LĐĐ 2003 bằng cách quy định lại độ tuổi được tham gia giao dịch chuyển
dịch quyền sử dụng đất thuộc tài sản chung của vợ chồng, theo đó độ tuổi tham gia giao
dịch chuyển dịch quyền sử dụng đất của người vợ là 17 tuổi một ngày (bước sang 18
tuổi).
Thứ năm: Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng dịch vụ pháp lý
Như Mục 3.2.5. Chương 3 đã trình bày, hiện có hai hệ thống chế tài (quy định tại BLDS
và LTM) có thể áp dụng đối với HĐDVPL. Tuy nhiên, theo nguyên tắc áp dụng luật
chung và luật riêng, các chủ thể phải áp dụng hệ thống chế tài quy định tại LTM. Nhằm
đảm bảo quyền tự định đoạt trong việc lựa chọn chế tài và làm cho các biện pháp chế tài
đủ sức răn đe, phòng ngừa vi phạm HĐDVPL, cần nhanh chóng hoàn thiện bộ phận pháp
luật này về những vấn đề sau: i) Quy định cho phép chủ thể có quyền thỏa thuận bất kỳ
biện pháp chế tài nào trong hai hệ thống chế tài nói trên (hiện nay chưa có quy định về
quyền lựa chọn áp dụng và được áp dụng riêng rẽ cho HĐDS theo nghĩa hẹp và HĐTM);
ii) Quy định tăng mức phạt hợp đồng (hiện nay quy định không quá 8% giá trị phần hợp
đồng bị vi phạm là quá thấp, trong khi từ năm 1989 pháp lệnh HĐKT đã quy định ở mức
12% giá trị phần hợp đồng kinh tế bị vi phạm); iii) Sửa đổi, bổ sung quy định về cách
thức áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại theo cách thức “bên vi phạm phải bồi thường
toàn bộ thiệt hại theo sự mong đợi hợp lý của bên bị vi phạm” (theo cách thức bồi thường
thiệt hại của Luật thương mại Hoa kỳ - từ cuốn “Mọi điều bạn cần biết của pháp luật Hoa
Kỳ” của tác giả JAY. M. FEINMAN - Tr 340). Hiện nay LTM quy định “bên vi phạm

của người đại diện ký kết HĐDVPL, ủy quyền và ủy quyền lại ký kết HĐDVPL; Nội
dung HĐDVPL về các vấn đề như: Đối tượng HĐDVPL, Chất lượng DVPL, Phí DVPL,
Nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên cung ứng DVPL và Trách nhiệm do vi phạm
HĐDVPL, nhằm tạo lập đồng bộ và thống nhất cao trong hệ thống pháp luật HĐDVPL ở
Việt Nam.


KẾT LUẬN
Sau khi nghiên cứu vấn đề hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, Luận án rút ra những
kết luận quan trọng sau đây:
1. HĐDVPL là hình thức pháp lý của quan hệ DVPL, có vai trò hết sức quan trọng đối
với hoạt động của các tổ chức, cá nhân. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và
HNKTQT, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật HĐDVPL là yêu cầu tất yếu khách quan và
cấp bách cả về lý luận và thực tiễn.
2. Xuất phát từ việc DVPL là loại dịch vụ gắn liền với pháp luật, kết quả hoạt động
DVPL có tác động quan trọng đến tình trạng kinh tế và pháp lý của khách hàng. Vì thế,
không phải bất kỳ chủ thể nào cũng có thể được tham gia vào quan hệ HĐDVPL với tư
cách là bên cung ứng DVPL. Chỉ những chủ thể nào đáp ứng đầy đủ các điều kiện rất
chặt chẽ do pháp luật quy định mới được hành nghề cung ứng DVPL.
3. Pháp luật về HĐDVPL ở Việt Nam mới hình thành và được quy định rải rác tại nhiều
văn bản pháp luật có giá trị pháp lý khác nhau. Đó là, các văn bản pháp luật về hợp đồng
mà tập trung nhất là trong BLDS 2005 và một số quy định trong LTM 2005; các văn bản
tố tụng (cả hình sự, dân sự, hành chính); các văn bản pháp luật chuyên ngành về DVPL
và nhiều văn bản có liên quan đến HĐDVPL khác (LDN, LĐT, LTHA...). Việc điều
chỉnh của hệ thống các văn bản pháp luật này đối với HĐDVPL tuân theo nguyên tắc
thống nhất về mối quan hệ và nguyên tắc áp dụng luật chung và luật riêng.
4. Trước đòi hỏi của thực tiễn hoạt động DVPL và yêu cầu của xu thế tự do hóa thương
mại và HNKTQT, pháp luật hiện hành về HĐDVPL ở Việt Nam đang bộc lộ nhiều hạn
chế, cần được nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện. Cụ thể: i) Khuôn khổ pháp lý về
HĐDVPL mới hình thành, nằm rải rác tại nhiều văn bản pháp luật, chưa đồng bộ và hoàn

số quy định cụ thể liên quan đến HĐDVPL trong BLDS 2005 để có thể bao quát được
các vấn đề về mọi loại hợp đồng; Sửa đổi, bổ sung một số quy định cụ thể của LTM 2005
về DVTM và HĐDV, nhằm cụ thể hoá và tạo sự thống nhất trong mối quan hệ giữa
BLDS và LTM trong việc điều chỉnh HĐDVPL; Sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các
văn bản pháp luật khác có liên quan đến HĐDVPL, nhằm tạo sự đồng bộ, thống nhất của
hệ thống pháp luật HĐDVPL.
- Tăng cường hiệu lực QLNN trong lĩnh vực HĐDVPL, bảo đảm pháp chế và giữ định
hướng XHCN, đảm bảo chất lượng DVPL và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên sử
dụng DVPL.
Khi hoàn thiện các quy định trên, cần xuất phát từ những quy định mang tính nguyên tắc
chung của pháp luật dân sự, mà nền tảng là các quy định của BLDS về các vấn đề liên
quan. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về HĐDVPL theo tư tưởng chỉ đạo này có ý nghĩa
quyết định trong việc đảm bảo tính thống nhất của pháp luật HĐDVPL, đồng thời tạo ra
sự tương thích với các chuẩn mực pháp luật quốc tế về HĐDVPL, đáp ứng nhu cầu điều
chỉnh có hiệu quả hoạt động DVPL trong điều kiện HNKTQT hiện tại và tương lai.


DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN TÀI LUẬN ÁN
1. Hoàng Thị Vịnh (2007), “Ủy quyền tham gia tố tụng trong vụ án kinh doanh thương
mại – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8 năm
2007.
2. Hoàng Thị Vịnh (2009), “Một số vấn đề lý luận về thương mại dịch vụ pháp luật quốc
tế”, Tạp chí Luật học, số 5 năm 2009.
3. Hoàng Thị Vịnh (2012), “Về khái niệm dịch vụ pháp lý”, Tạp chí Nhà nước và Pháp
luật, số 12 năm 2012.
4. Hoàng Thị Vịnh (2013), “Phương thức thực hiện dịch vụ pháp lý của luật sư tại giai
đoạn điều tra vụ án hình sự”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3 năm 2013.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học. Trường Đại học Luật
Hà Nội.
Phạm Hoàng Giang (2006), Sự phát triển của pháp luật hợp đồng: Từ nguyên tắc tự do
giao kết hợp đồng đến nguyên tắc công bằng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 8.
Gérard Kaeufling (2006), Nguyên tắc và mục tiêu của Công chứng, Tài liệu hội thảo
công chứng, Nhà pháp luật Việt - Pháp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Một số hợp đồng đặc thù trong hoạt động
thương mại và kỹ năng đàm phán, soạn thảo, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
Trường Đào tạo các chức danh tư pháp (2001), Giáo trình Kỹ năng giải quyết các vụ án
kinh tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
Học viện Tư pháp (2010) Giáo trình Kỹ năng giải quyết vụ án hình sự, Nxb. Công an
nhân dân, Hà Nội.
Đinh Bích Hà, Lê Khắc Hải, Hoàng Thế Liên, (1995), Công chứng, Thông tin Khoa học
Pháp lý Bộ Tư pháp.
Lê Hồng Hạnh (2006), Gia nhập WTO – Thách thức về mặt pháp luật và những điều cần
quan tâm, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 11.
Phạm Hồng Hải (1999), Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội.
Dương Văn Hậu (2011), Hành nghề luật sư tại Cộng hoà Liên bang Đức, Tạp chí Dân
chủ và Pháp luật số Chuyên đề pháp luật về luật sư.
Phan Chí Hiếu (2005), Hoàn thiện chế định hợp đồng, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 4


Phan Trung Hoài (2007),Từng bước xây dựng quan niệm về dịch vụ pháp lý phù hợp tiến
trình hội nhập quốc tế, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2.
Nguyễn Vũ Hoàng (2012), Đại diện trong Bộ luật Dân sự và đề xuất sửa đổi, bổ sung,
Bài tham luận tại Hội thảo sửa đổi Bộ luật Dân sự 2005, Hà Nội.
Vũ Đình Hòe, Nguyễn Trần An, Phùng Trọng Mưu (1964), Hợp đồng kinh tế, Nxb Khoa
học, Hà Nội.
Đặng Vũ Huân (2009), đề tài khoa học cấp Bộ "Dịch vụ pháp lý tại Việt Nam - Thực



Nguyễn Văn Tuấn (2011), Khái niệm, phạm vi dịch vụ pháp lý và hành nghề luật sư, Tạp
chí Dân chủ và Pháp luật số Chuyên đề về luật sư.
Nguyễn Viết Tý năm 2002, Phương hướng hoàn thiện pháp luật kinh tế trong điều kiện
có bộ luật dân sự, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Nguyễn Trọng Ty. (2011), Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội 5 năm nhìn lại, Tạp chí Dân
chủ và Pháp luật số Chuyên đề pháp luật về luật sư.
Bộ Tư pháp - Chương trình đối tác tư pháp (2013), Tài liệu Hội thảo về Dự thảo Nghị
định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Luật sư và Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư.
Bộ Tư pháp và Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Tài liệu tập huấn Hiệp định
thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và Trọng tài thương mại, Hà Nội 2003.
Liên đoàn Luật sư Việt Nam - Chương trình đối tác tư pháp (2011), Tài liệu khoá bồi
dưỡng Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, Trọng tài thương mại
và kỹ năng tham gia vụ án hình sự.
Bộ Bộ Tư pháp và Văn phòng Viện KAS tại Việt Nam, Tài liệu Hội thảo “Các quy định
về chủ thể, giao dịch và đại diện trong BLDS – định hướng sửa đổi, bổ sung”, Hà Nội
năm 2012.
Liên đoàn Luật sư Việt Nam - Chương trình đối tác tư pháp (2011), Tài liệu khoá bồi
dưỡng Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, Trọng tài thương mại
và kỹ năng tham gia vụ án hình sự.
Bộ Tư pháp - Chương trình đối tác tư pháp (2013), Tài liệu Hội thảo Chia sẻ kinh nghiệm
và Bồi dưỡng kỹ năng quản lý và quy chế xử lý kỷ luật luật sư cho Ban Chủ nhiệm và
Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của các Đoàn luật sư địa phương.
Viện Kiểm Sát nhân dân Tối cao (2012), Tài liệu Hội nghị khảo sát thực hiện thi hành Bộ
luật Tố tụng Hình sự năm 2003, Nam Định.
Ủy ban quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế và Tổ chức ADETEF (2005), Tổng quan các
vấn đề Tự do hóa thương mại dịch vụ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Từ điển Luật học (2006), Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020".
Chỉ thị số 33- CT/TW ngày 30/3/2009 của Chấp hành TW Khóa 11 về “Tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động luật sư”.
Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 14/6/2005, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.


Bộ Luật Tố tụng Dân sự ngày 15/6/2004, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội
Bộ luật Tố Tụng Hình sự ngày 01/7/2004, Nxb Thống kê, Hà Nội.
Luật Cán bộ, Công chức ngày 13/11/2008, Nxb Lao động, Hà Nội.
Luật Công chứng ngày 29/6/2006, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
Luật Đầu tư ngày 29/11/2005, , Nxb Tư pháp, Hà Nội.
Luật Doanh nghiệp ngày 29/11/2005, Nxb Tài chính, Hà Nội.
Luật Giao dịch điện tử ngày 29/11/2005, Nxb Chính trị quốc gia –Sự thật, Hà nội.
Luật Luật sư ngày 29/6/2006 (sửa đổi,bổ sung 2012) Nxb Tư pháp, Hà Nội.
Luật Thi hành án dân sư ngày 14/11/2008, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
Luật Thương mại ngày 14/6/2005, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
Luật Tố tụng hành chính ngày 24/11/2010, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội.
Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 15/4/2010 về Đăng ký doanh nghiệp
Nghị định số 77/NĐ-CP ngày 16/7/2007 về Tư vấn pháp luật.
Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2013 của Quốc hội về việc tiếp tục thực hiện
thí điểm chế định thừa phát lại.
Nghị định 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009, về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại
thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ chí Minh.
Quyết định số 224.QĐ-TTg ngày 19/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án:
“Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại thành phố Hồ chí Minh”.
Quyết định số 510/QĐ-TTg ngày 25/3/2013 phê duyệt Đề án "Tiếp tục thực hiện thí điểm

c. Dịch vụ R & D đối với nhiều ngành học thuật

853

841


D. Dịch vụ Bất động sản
a. Liên quan đến sở hữu hoặc cho thuê bất động sản
b Dịch vụ dựa trên phí hoặc hợp đồng

821

822

E. Dịch vụ cho thuê không cần người điều khiển
a. Liên quan đến tàubiển

83.103

b. Liên quan đến máy bay 83104
c. Liên quan đến thiết bị vận tải khác

83.101+83.102 + 83105

d. Liên quan đến máy móc thiết bị khác 83.106-83.109
e. Khác

832


873

m. Dịch vụ tư vấn liên quan tới khoa học và kỹ thuật
8676 881 882
+ 5115
+ 885 (trừ 88442) 887
872

8675

881


8675
633 + 8861'- 8866
874
n. Bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị (không bao gồm tàu biển, máy bay hoặc các thiết bị
vận tải khác)
0. Dịch vụ dọn dẹp xây dựng
p. Dịch vụ nhiếp ảnh
q. Dịch vụ đóng gói
r. In ấn, xuất bản
s. Dịch vụ hội nghị
t. Các loại khác
2. DỊCH VỤ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
A. Dịch vụ bưu điện
7511
B. Dịch vụ báo chí
7512
C. Dịch vụ viễn thông

0. Các loại khác
D. Dịch vụ nghe nhìn
a. Dịch vụ phân phối và sản xuất băng hình và phim điện ảnh
9611
b. Dịch vụ chiếu phim
9612
c. Dịch vụ máy phát thanh và truyền hình
9613
d. Dịch vụ phát thanh và truyền hình


7524
e. Ghi âm
không có
f. Các loại khác




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status