A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Chúng ta đã chứng kiến sự sụp đổ của Đế chế Nga và LB Xô viết.
Nhưng nước Nga vẫn vững vàng – vừa là một quốc gia hùng mạnh, vừa là
một cộng đồng nhiều dân tộc, vừa là một nền văn hoá vĩ đại, vừa là tâm điểm
thu hút đối với nhiều nước châu Âu và châu Á. Người Nga đi qua thế kỷ XX
với bao nỗi đắng cay, tự hào và hy vọng . Nhiều nước trên thế giới đã nếm
trải những chấn động nặng nề, cách mạng và chiến tranh. Nhưng không một
nước lớn nào trong vòng 100 năm gần đây lại phải chịu những bước ngoặt
liên tiếp, đột ngột và đau thương như nước Nga. Trong hoàn cảnh ấy, nước
Nga, dân tộc Nga luôn cần những con người tài trí, vững vàng, chèo lái “con
thuyền Nga” vượt qua chông gai, thử thách, sóng to gió lớn của vận mệnh dân
tộc. Vladimir Putin là một con người như vậy.
Nếu như vẻ bề ngoài của Putin tạo cho ta cảm giác về một sự điềm tĩnh
nhã nhặn, hơi chút lãnh đạm thì đó hoàn toàn chỉ là cái vỏ. “Bên trong nó là
khí chất của một con người đam mê, mẫn cảm với những khó khăn và thất
bại, quen giữ cho mình một kỷ luật thép. Sự điều chỉnh nội tâm đã tạo cho
Putin thanh danh một nhà lãnh đạo thông minh, biết nhìn xa trông rộng” .
Ông là một chính trị gia có tầm nhìn chiến lược, tư duy khoa học nhạy
bén, có bản lĩnh kiên định, một nhà tổ chức và chỉ đạo thực tiễn lỗi lạc sâu
sắc, một nhà chỉ đạo quân sự tài tình, giải quyết cảm xúc mau lẹ những vấn đề
chính trị cực kỳ phức tạp. “Ông không chỉ tự tin và đĩnh đạc đại diện cho
nước Nga trên diễn đàn thế giới mà còn trong một thời gian ngắn, về căn bản
đã nâng tầm nhìn cho chúng ta, những người có kỳ vọng đảm nhiệm vai trò
của những nhà chính trị tầm cỡ toàn dân tộc”. V.Putin chính là sự lựa chọn
của một nước Nga muốn sống hài hoà với lịch sử của mình, một nước Nga
muốn bước tới tương lai với sự tôn trọng và bất chấp quá khứ, bất chấp mọi
sự “vật đổi sao dời” diễn ra trên chính trường trong nước và Quốc tế.
1
khả năng từng bước ổn định tình hình kinh tế – xã hội ở nước Nga và xác lập
vị thế của nước Nga trên trường Quốc tế của ông.
3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng. Ngoài
ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp logic – lịch
sử, phương pháp so sánh, phương pháp liên hệ, phương pháp thống kê… để
nghiên cứu đề tài này.
Mỗi sự kiện và từng vấn đề người viết đều cố gắng trình bày ngắn gọn,
cụ thể về hoạt động và tư tưởng chính của nhân vật, nhiều ý gần như được lặp
lại có hệ thống nhằm nêu lên những vấn đề mà nhà tư tưởng đó quan tâm.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Trình bày và làm sáng tỏ những nét tiêu biểu về thân thế, sự nghiệp và
những tư tưởng chính trị quan trọng của Tổng thống V.Putin.
- Mang những đánh giá khách quan về vai trò, vị trí và những tác động
của tư tưởng chính trị Putin đối với nước Nga.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu thân thế, sự nghiệp và những tư tưởng chính trị tiêu biểu
của V.Putin.
- Nghiên cứu tác động của tư tưởng chính trị Putin đối với nước Nga.
3
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I
CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA VLADIMIR PUTIN
1.1 Thời kỳ trước khi làm tổng thống
ý nghĩa “chi phối thế giới”. Đó là cậu con một trong gia đình nên được cha
mẹ và mọi người trong họ rất yêu quý. Nhưng cha của Putin thấy ngay rằng
nếu quá chiều chuộng sẽ rất có hại cho con trai mình nên khi Putin có chút
hiểu biết người cha đã bắt đầu bồi dưỡng và yêu cầu nghiêm khắc đối với cậu
con trai mà cả nhà đặt rất nhiều hy vọng.
Ông nội của Putin là một đầu bếp nổi tiếng có kỹ thuật nấu ăn rất cao,
hơn nữa ông có sự từng trải khác thường. Sau đại chiến thế giới lần thứ nhất,
ông nhận lời mời tới làm việc tại thị trấn ở ngoại ô Gorki của Matxcova, nấu
nướng cho Vladimir Ilich Lenin và người nhà của ông sống ở đó. Sau khi
Lenin từ trần, ông lại được điều đến biệt thự của Yosif Stalin làm việc ở đó
trong một thời gian dài. Sau khi nghỉ hưu, ông lại làm đầu bếp nhiều năm ở
nhà điều dưỡng Ilinscov của thành uỷ Matxcova.
Vladimir Spiridonovich Putin - cha của Putin là công nhân của một nhà
máy quốc doanh ( có thông tin nói rằng ông là thành viên của Uỷ ban an ninh
quốc gia (tức KGB)), là một con người thành thật, thẳng thắn, chất phác mà
kiên định nên được mọi người kính nể. Ông đã từng làm lính hải quân. Cha
Putin rất nghiêm khắc trong việc dạy con, đặc biệt chú ý rèn luyện cho con về
phẩm chất, ý chí và giáo dục lòng yêu nước. Ông thường khuyên con phải
tích cực vươn lên, phải biết dựa vào sức lực của bản thân mình để kiếm sống,
để tự vệ, để tìm cơ hội phát triển; giáo dục con phải cần cù học tập, có lý
tưởng phục vụ Tổ quốc cố gắng trở thành người tài có ích cho nước nhà. Sự
dạy dỗ của cha đã đặt nền tảng vững chắc cho sự trưởng thành của Putin sau
này.
5
Mẹ của Putin là một người phụ nữ đôn hậu. Bà đã từng làm y tá cho một
bệnh viện. Sau khi đại chiến thế giới thứ hai kết thúc, bà về làm việc trong
nhà máy của chồng.
mình có quyền cảm thấy mình là người chiến thắng”…
Putin tốt nghiệp Ban quốc tế, khoa Luật đại học Leningrat năm 1975 và
được tuyển dụng vào KGB. Từ đây, Putin đã bắt đầu cuộc đời tình báo của
mình.
Năm 1977, sau khi tôt nghiệp trường tình báo “Prakhovca” Putin được
phong quân hàm trung uý lục quân và được phân về làm công tác điệp báo tại
trạm công tác Leningrat thuộc Tổng cục 1 KGB cho đến năm 1984 thì ông
được phái sang CHDC Đức làm cố vấn quân sự “Xtaxi”- một cơ quan tình
báo Đông Đức đặt tại Dresden. Nhiệm vụ của Putin là làm địch vận trong
nhân viên tình báo Đông Đức, cài cắm “chân rết” KGB trong nội bộ, mở rộng
hàng ngũ KGB. Ở đây, Putin phụ trách một tổ tình báo có tám nhân viên
KGB, tổ này đặt dưới sự chỉ huy của tướng Vladimir Xerokhup.
Putin kết hôn vào năm 1983 với Ludmila. Ludmila Alexandropna là
người Kaliningrat, nhỏ hơn Putin 7 tuổi và hai người đã quen nhau qua một
người bạn. Cô là một nữ tiếp viên hàng không xinh đẹp. Sau khi cưới, họ đã
có hai cô con gái là Masha (1985) và Katia (1986).
Tháng 4 – 1985, Liên Xô bắt đầu thực hiện công cuộc cải tổ đất nước do
Ban chấp hành trung ương ĐCS Liên Xô phát động. Kết quả là nó không
những không giúp khắc phục những khó khăn, những căn bệnh quái ác của xã
hội mà cuối cùng lại đi vào chỗ hữu khuynh, để cho các kẻ thù giai cấp và tư
tưởng lợi dụng, vượt ra ngoài tầm kiểm soát của những người cộng sản. Kết
cục là chế độ xã hội chủ nghĩa đã bị thủ tiêu ở Liên Xô, bản thân LB Xô viết
với vai trò một siêu cường thống nhất cũng biến mất và dẫn theo phản ứng
dây chuyền là sự thay đổi cơ chế ở hàng loạt các nước Đông Âu vốn thuộc hệ
thống xã hội chủ nghĩa thế giới.
Năm 1989, Putin làm trung tá KGB, cũng như bao người Liên Xô và
Đông Âu khác đã tận mắt nhìn thấy bức tường Berlin sụp đổ, hai nước Đức
thống nhất, khối hiệp ước Vacsava giải thể, KGB suy yếu. Putin đã nhận thức
7
8
phe Edinstvo (thống nhất) mới thành lập và hiện chiếm đa số trong cuộc bầu
cử Duma tháng 12 – 1999. Putin được tái chỉ định làm Thủ tướng Chính phủ
và dường như đang ở vị trí thuận lợi nhất cho cuộc bầu cử Tổng thống trong
mùa hè năm sau đó. Quá trình thăng tiến của ông tới chức vụ cao nhất nước
Nga thậm chí còn nhanh chóng hơn: ngày 31/ 12/ 1999, Yeltsin bất ngờ từ
chức và theo Hiến pháp, Putin được chỉ định làm Tổng thống (tạm quyền) trở
thành vị Tổng thống thứ hai của nhà nước LB Nga.
Trong cuộc bầu cử Tổng thống ở Nga được tổ chức ngày 26/03/2000,
Putin thắng cử ngay từ vòng đầu tiên và chính thức trở thành Tổng thống LB
Nga.
1.2 Thời kỳ làm Tổng thống.
Trong những năm tháng đầu làm Tổng thống, V.Putin chưa phải là tổng
thống thực quyền. Những năm tháng ấy chính trường Nga rối như mớ bòng
bong, kinh tế suy thoái nghiêm trọng, tài sản quốc gia bị đục khoét mục
ruỗng, các băng đảng mafia nổi lên như nấm. Nước Nga không có một trung
tâm quyền lực tuyệt đối và dĩ nhiên, cuộc đấu tranh giành quyền lực vô cùng
khốc liệt. V.Putin trở thành tổng thống trước muôn vàn thách thức mà thách
thức quan trọng nhất chính là lập lại trật tự xã hội. Hàng loạt vấn đề nan giải
như lương hưu, lương công nhân, lạm phát, sự hoành hành của tội phạm, nạn
tham nhũng hay khả năng thao túng chính quyền của các nhà tài phiệt và quan
trọng hơn cả là chủ nghĩa ly khai với đầu tàu Chechnya đang chờ đợi con
người có vóc dáng nhỏ bé ấy.
Cuộc khủng hoảng lớn nhất mà Putin phải đối mặt trên cương vị tổng
thống trong nhiệm kỳ thứ nhất xảy ra tháng 8/ 2000, khi chiếc tàu ngầm
nguyên tử Nga Kurst đắm ngoài khơi bán đảo Kola, làm thiệt mạng 118
thuỷ thủ trên tàu. Tuy Putin bị chỉ trích trên các phương tiện thông tin đại
chúng Nga vì sự bất lực của mình trong những giai đoạn đầu cuộc khủng
nước cộng hoà đó.
7 năm trôi qua, dưới sự lãnh đạo của V.Putin nước Nga có diện mạo
hoàn toàn khác. Có thể khẳng định rằng, V.Putin đã giữ được sự cân bằng cho
10
một nước Nga hiện tại và mô hình cho một nước Nga phát triển ở tương lai
phía trước, giữa một nước Nga truyền thống và một nước Nga hiện đại.
Mấy năm gần đây nền kinh tế Nga phát triển với chỉ số tăng trưởng
khoáng 7%. Chưa bao giờ nước Nga có khoản dự trữ tài chính lớn như hiện
nay. Putin đã xây dựng được “đế chế” đủ mạnh và quan trọng hơn, nó thực
sự là của ông trong hai nhiệm kỳ tổng thống. Để đến bây giờ, nếu có giã từ
chính trường thị hệ thống lãnh đạo mới chắc chắn sẽ đi theo đường lối của
ông. V.Putin tăng cường khả năng kiểm tra và giám sát của nhà nước trước
những ngành kinh tế mũi nhọn. Putin luôn ý thức được rằng, một nước
mạnh trước hết phải là một nước có nền kinh tế hùng mạnh. Chính vì vậy,
chiến lược chính trị đối ngoại của ông bao giờ cũng được xây trên những
hoạt động kinh tế đối ngoại.
11
CHƯƠNG II
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TIÊU BIỂU CỦA PUTIN
2. 1 Tư tưởng về cải cách kinh tế Nga của V.Putin
Chính trị thực chất là quan hệ về lợi ích trước hết và cơ bản là lợi ích
kinh tế. Giải quyết những quan hệ này trực tiếp quyết định tới động lực của
sự phát triển xã hội, phát triển kinh tế. Hơn nữa, nó còn có quan hệ tới việc
định hướng cho sự phát triển, bởi giải quyết quan hệ này trên quan điểm lý
nói lên rằng, mô hình kinh tế của thời đại Putin sẽ là một mô hình kinh tế kết
hợp giữa kinh tế thị trường với sự can thiệp của Nhà nước và các đặc điểm
vốn có của Nga.
Thứ nhất, tăng cường sự can thiệp của Nhà nước đối với đời sống
kinh tế, đặc biệt là tăng cường điều phối và khống chế tầm vĩ mô đối với lĩnh
vực tài chính và tiền tệ.
Thứ hai, điều chỉnh phương thức của chính sách vĩ mô, biến trọng
điểm của chính sách từ ưu tiên ổn định tài chính chuyển thành ưu tiên phát
triển sản xuất.
Thứ ba, khắc phục tính mù quáng và phiến diện trong chính sách kinh
tế đối ngoại, thông qua sự phát triển kinh tế dân tộc để đảm bảo ổn định kinh
tế.
Thứ tư, điều chỉnh cơ cấu kinh tế một cách sâu sắc, bảo đảm tăng
trưởng kinh tế ổn định. “Cũng như các nước công nghiệp phát triển khác,
trong kinh tế Nga vừa phải có vị trí của công ty tập đoàn tài chính công
nghiệp lại vừa phải có chỗ đứng cho các xí nghiệp vừa và nhỏ. Bất kỳ một
hạn chế nào hoặc sự phát triển bột phát một hình thức kinh tế nào đó đều chỉ
gây trở ngại đối với việc chấn hưng kinh tế của Nga. Chính sách của Chính
phủ cũng chỉ nhằm xây dựng một kết cấu. Loại kết cấu này cần phải đảm bảo
duy trì quan hệ tỷ lệ hợp lý giữa các hình thức kinh tế. Về điểm này còn đang
tồn tại một phương tiện rất quan trọng, chính là khả năng tự điều tiết một cách
hợp lý các hoạt động của các ngành. Đây là vấn đề then chốt, bởi vì chính các
ngành này quyết định trên một mức độ rất lớn cơ cấu của cả nền sản xuất và
13
giá cả tiêu dùng. Nói như vậy có nghĩa là nó vừa có thể gây ảnh hưởng đối
với lĩnh vực kinh tế và tiền tệ, lại vừa có thể ảnh hưởng tới sự thay đổi mức
thu nhập của dân cư”.
Bên cạnh những quan điểm trên, Putin còn nêu lên tầm quan trọng của
được việc này chính là nhận thức một cách chính xác những thành tựu và
những sai lầm trong thời kỳ LB Nga cũng như của cuộc cải cách trong 8 năm
của nước Nga.
Sau khi Liên Xô giải thể đã nổ ra một cuộc tranh luận gay gắt kéo dài 8
năm xoay quanh vấn đề những thành tựu; sai lầm và việc cải cách ra sao, sự
thành bại của công việc cải cách nước Nga trong thời kỳ Liên Xô, cho đến tận
bây giờ vẫn chưa có được nhận thức thống nhất, dẫn tới cục diện chính trị rối
ren, đời sống chính trị, kinh tế chệch quỹ đạo. Đứng trước tình hình trên,
Putin đã đưa ra kết luận cho chính bản thân về hai vấn đề này. Ông cho rằng,
phủ nhận những thành tựu rõ ràng của thời kỳ đó (thời kỳ Liên Xô là sai lầm).
Nhưng không nhận thức được cái giá quá lớn mà xã hội và nhân dân phải trả
giá trong cuộc thử nghiệm xã hội này thì sai lầm càng lớn hơn.
Về công cuộc cải cách trong 8 năm qua của nước Nga, Putin cho rằng:
“Tất cả những năm gần đây, chúng ta cố tiến lên một cách bừa bãi, không có
được sự nhận thức rõ ràng về mục tiêu mang tính toàn quốc”. “Sự rối ren
trong chính trị và kinh tế xã hội, những thay đổi liên tục và cuộc cải cách cấp
tiến đã làm cho nước Nga sức cùng lực kiệt”. Đồng thời, Putin cho rằng, để
thay đổi tình trạng này, tuyệt đối không gây đột biến theo kiểu cách mạng
được, mà phải lấy tất cả những gì tốt đẹp nhất trong cải cách thị trường và cải
cách dân chủ những năm gần đây làm chỗ dựa để áp dụng biện pháp tiến dần
từng bước và thận trọng. Điều này nói lên rằng, Putin phản đối việc phủ định
toàn bộ những thành tựu và sai lầm trong thời kỳ Liên Xô trước đây, ông cũng
phản đối việc phủ định toàn bộ những thành tựu và sai lầm của nước Nga
trong 8 năm cải cách để hướng sự chú ý của toàn xã hội vào việc đánh giá
khách quan hai thời kỳ này, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm nhằm xây dựng
đất nước thuận lợi hơn.
15
Nước Nga suy tàn ngày nay nếu đem so sánh với một quá trình lịch sử
huy hoang và lâu dài trước kia, thì đây cũng là một thời gian rất ngắn ngủi.
Nước Nga vẫn sẽ trở thành một cường quốc của thế giới.
Thứ ba là tác dụng của Nhà nước.
Nước Nga có đặc điểm lịch sử và con đường phát triển của riêng
mình, chỉ cần dựa vào những điều này, trước mắt cũng có thể làm mạnh mẽ
cơ chế quốc gia. Nước Nga chỉ có chịu sự điều tiết của cơ chế nhà nước
mới có thể duy trì sự thống nhất, duy trì sự phát triển vững mạnh. Do vậy,
Putin chỉ ra rằng: cho dù nước Nga có trở thành phiên bản của nước Mỹ
hoặc nước Anh, cũng không dễ gì lập tức làm ngay được điều này. Giá trị
của chủ nghĩa tự do trong hai nước có truyền thống lịch sử sâu sắc. Còn ở
Nga, nhà nước cùng với thể chế và cơ cấu của nó có một tác dụng cực kỳ
quan trọng trong đời sống nhân dân.
Đối với người Nga mà nói, một quốc gia có quyền lực mạnh mẽ không
phải là một việc gì không bình thường, cũng không phải là một việc gì phản
đối, mà ngược lại, nó là nguồn động lực thúc đẩy chủ yếu của những người
khởi xướng bất kỳ cải cách nào. Xã hội đương đại Nga liệu có hoà trộn lẫn
lộn giữa một quốc gia theo chủ nghĩa cực quyền làm một hay không? Chúng
ta cũng đã học được bài học là cần coi trọng dân chủ, pháp chế, tự do chính trị
và tự do cá nhân. Đồng thời, người ta cho rằng quyền lực quốc gia đang suy
yếu rõ ràng. Xã hội căn cứ vào truyền thống và hiện trạng xã hội để phục hồi
sự chỉ đạo và tác dụng điều tiết cần thiết của nó.
Thứ tư là đoàn kết xã hội Nga.
Ở Nga, trong tương lai sẽ chú trọng hoạt động cá nhân hơn hoạt động tập
thể, đó là sự thực, mà tác phong kiểu gia trưởng cũng đã ăn sâu vào xã hội
Nga, đây cũng là sự thực. Phần lớn người Nga không quen thông qua sự nỗ
lực và phấn đấu của các cá nhân để cải thiện tình trạng của chính mình, mà
chỉ quen với việc trông cậy vào sự giúp đỡ của nhà nước, xã hội và sự ủng hộ
giao “chim ưng hai đầu” của Boris Yeltsin.
Thời kỳ đầu độc lập nước Nga, từng có một thời gian thực hiện chính
sách đối ngoại “Nhất biên đảo”, về ngoại giao hoàn toàn nghiêng về phương
18
Tây, ảo tưởng có thể dùng thoả hiệp và nhượng bộ để đổi lấy sự tiếp nhận của
phương Tây. Thế nhưng tâm nguyện của nước Nga đã khiến cho mình phải
trả giá một cách nặng nề. Chiến tranh lạnh tuy đã kết thúc, nhưng sự cảnh
giác của phương Tây đối với Nga vẫn chưa bị loại bỏ, mưu đồ làm suy yếu
nước Nga vẫn không hề thay đổi. Nga hoà nhập phương Tây không thành,
ngược lại mất đi ảnh hưởng truyền thống ở phương Đông, lợi ích của bản thân
và hình tượng của đất nước bị tổn hại nghiêm trọng.
Học thuyết “Ngoại giao hai cánh” của Putin có tính đến nhu cầu hiện
thực và lợi ích lâu dài của nước Nga. Nước Nga nằm vắt ngang lục địa Âu Á, do đó nó cần phải đồng thời xây dựng và duy trì môi trường xung quanh
tốt đẹp với cả Âu và Á, nhằm có lợi cho sự phục hưng của nước Nga. Đặc
biệt, trước việc NATO tiếp tục mở rộng sang phía Đông và Mỹ phát triển
NMD, đứng trước sự chèn ép toàn diện, Nga cần phải xuất phát từ tính toán
chiến lược sâu xa về an ninh quân sự, tích cực phát triển sự hợp tác với Tây
Âu, đồng thời tranh thủ phát triển quan hệ với phương Đông nhằm xây dựng
một hậu phương lớn, chiến lược ổn định đồng thời cố gắng thúc đẩy hợp tác
thị trường tiềm năng to lớn. Chính trong bối cảnh đó, tư tưởng ngoại giao của
Putin là lấy củng cố các nước SNG làm điểm tựa thúc đẩy thực hiện “ngoại
giao hai cánh” cân bằng phương Đông phương Tây.
Về mặt sách lược ngoại giao cụ thể, “ngoại giao hai cánh” nhấn mạnh
mấy vấn đề sau:
- Thứ nhất, nguyện hợp tác hơn nữa với Mỹ về mặt hạ thấp vai trò của
nhân tố vũ lực trong quan hệ quốc tế.
- Thứ hai, coi liên minh châu Âu là đối tác chính trị kinh tế cực kỳ quan
trọng, quan hệ với các nước châu Âu là mặt ưu tiên truyền thống của chính
Nga trên thế giới được xác định không chỉ là một quốc gia châu Âu, mà là
một cường quốc Âu - Á vĩ đại, chịu trách nhiệm duy trì an ninh trên thế giới
cả ở quy mô toàn cầu và quy mô khu vực. Học thuyết chỉ rõ: “là thành viên
thường trực của HĐBALHQ, có một tiềm lực và nguồn tài nguyên đáng kể
trong tất cả các lĩnh vực, duy trì mối quan hệ tích cực với các quốc gia hàng
20
đầu thế giới, nước Nga có một ảnh hưởng trọng yếu đối với việc xây dựng trật
tự thế giới mới”.
Tư tưởng thế giới đa cực không phải là khẩu hiệu hình thái ý thức mà là
triết học của cuộc sống quốc tế. Nó lấy hiện thực của thời đại toàn cầu làm cơ
sở. Chỉ có lấy việc dựa vào nhau và bình đẳng chủ quyền của các thành viên
LHQ, làm cơ sở cho thể chế của thế giới mới, có thể tập trung mọi lực lượng
của các khu vực và các quốc gia để chống lại các cuộc chiến trước mắt, xây
dựng một cơ chế hữu hiệu, nhịp nhàng của các lực lượng quốc gia và quốc tế.
Chỉ có trên cơ sở đó chúng ta mới có thể trong khuôn khổ tiến trình quốc tế
thống nhất mà suy nghĩ với chừng mực lớn nhất đến lợi ích và đặc điểm của
một số quốc gia, làm cho họ có mức độ an ninh như nhau và chiếm một vị trí
vốn có trong xã hội quốc tế. Như vậy mới có lợi cho việc giữ gìn và gia tăng
thành quả thực tế của hoà bình và an ninh cho sự đối kháng của các tập đoàn
mang lại – xã hội mở cửa, không gian thông tin - văn hoá thống nhất và hiệp
nghị quan trọng về cắt giảm vũ khí, đảm bảo bình ổn chiến lược.
Từ khi lên cầm quyền, Putin đã thực hiện chính sách ngoại giao rất chủ
động và linh hoạt. Tất cả đều với mục đích khôi phục lại địa vị cường quốc
của nước Nga cũng như là bảo vệ lợi ích của quốc gia mình. Đó là xuất phát
từ lòng yêu nước và quyết tâm vực đất nước Nga ra khỏi những tháng ngày
đen tối để trở lại với vị trí trước kia.
Âu cáo buộc là “dùng năng lượng để gia tăng áp lực chính trị”.
22
Cần phải nói rằng, tăng trưởng kinh tế của Nga hiện nay, đối với một
nước thức tỉnh này mà nói mới chỉ là sự khởi đầu. Nhưng sự mở đầu này đã
cho thấy, chính sách cải cách kinh tế của Putin đã giành được kết quả khả
quan và ông đã đi đúng hướng. Dự kiến tương lai nền kinh tế của Nga vẫn sẽ
giữ được tỷ lệ tăng trưởng tương đối cao trong một thời gian dài. Từ đó có thể
thấy, nền kinh tế Nga sẽ trở thành một bộ phận cấu thành hết sức quan trọng
trong nền kinh tế thế giới là điều không thể tránh khỏi. Và cuối cùng, điều
quan trọng nhất là Nga đã vực dậy được phần nào vị trí của mình trong nền
kinh tế toàn cầu.
3.2. Ảnh hưởng của “tư tưởng Nga” đối với xã hội Nga
Dưới sự cố gắng của người đứng đầu Nhà nước Liên bang Nga, kết quả đạt
được đã không phụ công sức của ông. Sau 7 năm cầm quyền, Putin đã làm cho
người dân Nga có một niềm tin mãnh liệt vào vị Tổng thống của mình. Ông
cùng với những người cộng sự của mình đã chèo lái “con thuyền Nga” một cách
tài tình đưa nước Nga vượt ra khỏi những gì mà họ cho là đen tối nhất.
Nhà nước và Chính phủ đã đặc biệt quan tâm, chăm lo cho đời sống của
nhân dân. Phúc lợi xã hội được ổn định và đảm bảo. Hệ thống y tế và trường học
được ưu tiên đầu tư xây dựng…
Kể từ sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ, chưa bao giờ người dân Nga lại
đoàn kết như lúc này. Chính điều đó đã tạo nên sức mạnh để đưa nước Nga
phát triển như bây giờ. Ý thức dân tộc, ý thức cường quốc đã thức tỉnh trong
từng con người Nga. Giờ đây, họ đã có được cuộc sống đúng với ý nghĩa của
một người con nước Nga đó là: thân thiện, đoàn kết, yêu nước, yêu hoà bình,
sẵn sàng đấu tranh vì sự tiến bộ của loài người…
Mặc dù vậy, vẫn có một bộ phận người Nga phản đối những chính sách
mà Putin đã đề ra, nhưng đó chỉ là một bộ phận rất nhỏ mà đại bộ phận người
Đã diễn ra các cuộc gặp gỡ thân thiết giữa Tổng thống của hai nước. Việc Tổng
thống Mỹ Bush mời Tổng thống Nga Putin và phu nhân đến trang trại của gia
đình mình ở Texaz đã chứng minh cho thấy sự thân thiết này. Mặc dù không
đồng tình với việc Mỹ đơn phương rút khỏi Hiệp ước về hệ thống phòng thủ
chống tên lửa đạn đạo (ABM), việc quân Mỹ có tại Grudia, việc Mỹ gọi các
24
nước Irak, Iran, CHDCND Triều tiên là “trục ma quỷ”… nhưng Nga phản ứng
khá thận trọng, có chừng mực và cố tạo được bầu không khí bớt căng thẳng
hơn với Mỹ để có được môi trường quốc tế thuận lợi cho mục tiêu phát triển
kinh tế của đất nước.
Ở hướng Đông, đối tác quan trọng nhất của Nga là Trung Quốc. Phát
triển mối quan hệ “đối tác chiến lược hướng tới thế kỷ XXI” được xác lập từ
năm 1997. Ngày 16/ 07/ 2001, Nga và Trung Quốc đã ký một văn kiện lịch sử
có tên “Hiệp ước láng giềng thân thiện, hữu nghị và hợp tác Nga – Trung”.
Hiệp ước này là sự kế tiếp Hiệp ước Xô - Trung (1950), song có những điều
chỉnh cho phù hợp với tình hình mới và đặt nền tảng cho sự phát triển mối
quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước này trong thế kỷ XXI. Sự
kiên 11/ 09/ 2001 và ý đồ của Mỹ càng làm cho Nga và Trung Quốc xích lại
gần nhau hơn cả trong quan hệ song phương lẫn thông qua các diễn đàn đa
phương khác.
Bước sang thế kỷ XXI, cả Nga và Nhật đều có sự thay đổi lãnh đạo cấp
cao: ở Nhật ông Z. Koizumi lên làm Thủ tướng, ở Nga ông V.Putin trở thành
Tổng thống. Mọi mục tiêu và đường hướng đối ngoại của cả Nga và Nhật
đều có sự thay đổi, điều chỉnh. Xem xét diễn biến của quan hệ giữa hai nước
này những năm qua có thể thấy được một số chuyển biến theo hướng hợp tác
tích cực hơn trên các lĩnh vực. Về chính trị – quân sự các cuộc viếng thăm
dân sự và quân sự đi liền với các thoả thuận hợp tác ngày càng nhiều đã giúp
cải thiện và nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau giữa Chính phủ và nhân dân hai