ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
TIỂU LUẬN
VAI TRÒ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI
& CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
VÀO CÁC NƯỚC ĐANG VÀ KÉM PHÁT TRIỂN
Lớp: Tài chính tiền tệ. 5
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Lan
Sinh viên thực hiện:
Hoàng Vũ Quỳnh Anh – MSV: 1111120151 - STT: 09
Nguyễn Chí Thanh – MSV: 1117120195 - STT: 109
Nguyễn Minh Phương – MSV: 1113120189 - STT: 100
Hà Nội, tháng 12 năm 2013
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................................................... 1
LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................................................. 1
NỘI DUNG......................................................................................................................................... 3
NỘI DUNG.................................................................................................................................... 3
I. Tổng quan về Công ty đa quốc gia:............................................................................................3
I. Tổng quan về Công ty đa quốc gia:............................................................................................ 3
1. Khái niệm:.............................................................................................................................. 3
1. Khái niệm:.................................................................................................................................... 3
2. Cấu trúc:................................................................................................................................ 3
2. Cấu trúc:....................................................................................................................................... 3
3.Đặc điểm hoạt động:............................................................................................................... 4
3.Đặc điểm hoạt động:.................................................................................................................... 4
III. Chiến lược thâm nhập của các công ty đa quốc gia vào các nước đang và kém phát triển:. .26
III. Chiến lược thâm nhập của các công ty đa quốc gia vào các nước đang và kém phát
triển:................................................................................................................................................ 26
1.Tổng quan tình hình kinh tế của các quốc gia đang và kém phát triển:................................26
1.Tổng quan tình hình kinh tế của các quốc gia đang và kém phát triển:................................26
2.Chiến lược thâm nhập thị trường nước ngoài của các công ty đa quốc gia:........................27
2.Chiến lược thâm nhập thị trường nước ngoài của các công ty đa quốc gia:......................27
3.Chiến lược thâm nhập của các công ty đa quốc gia vào các nước đang và kém phát triển: 27
3.Chiến lược thâm nhập của các công ty đa quốc gia vào các nước đang và kém phát triển:
........................................................................................................................................................ 27
3.1.Thuận lợi và khó khăn của các công ty đa quốc gia trong quá trình thâm nhập vào các
nước đang và kém phát triển: ............................................................................................. 27
3.2.Chiến lược thâm nhập của các công ty đa quốc gia vào Việt Nam:...............................28
3.2.1.Tiền đề cho sự thâm nhập của các công ty đa quốc gia vào Việt Nam:.....................28
3.2.2.Các công ty đa quốc gia hoạt động tại Việt Nam:.......................................................30
3.2.3.Quá trình thâm nhập của các công ty đa quốc gia vào Việt Nam:..............................31
3.2.4.Hình thức thâm nhập thị trường của các công ty đa quốc gia vào Việt Nam:.............31
3.2.5.Tác động của sự thâm nhập của các công ty đa quốc gia vào thị trường Việt Nam:..32
3.2.6.Sự chuyển biến của nền kinh tế để thích ứng sự thâm nhập của các công ty đa quốc
gia:....................................................................................................................................... 33
KẾT LUẬN...................................................................................................................................... 37
KẾT LUẬN................................................................................................................................... 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................................... 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................................... 37
LỜI MỞ ĐẦU
thể tránh khỏi những thiếu sót, bởi vậy chúng em rất mong nhận được sự góp ý,
nhận xét thêm của cô để khắc phục những mặt hạn chế và hoàn thiện bài tiểu luận
của mình.
2
NỘI DUNG
I. Tổng quan về Công ty đa quốc gia:
1. Khái niệm:
“Công ty đa quốc gia”, thường viết tắt là MNC (Multinational corporation)
hoặc MNE (Multinational enterprises), là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay
cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia. Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sách
vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia. Công ty đa quốc gia có thể có ảnh hưởng lớn
đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các quốc gia. Các công ty đa
quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa. Một số người
cho rằng một dạng mới của MNC đang hình thành tương ứng với toàn cầu hóa – đó
là xí nghiệp liên hợp toàn cầu.
Công ty đa quốc gia là công ty hoạt động và có trụ sở ở nhiều nước khác nhau.
Cần phân biệt rõ giữa khái niệm “Công ty đa quốc gia” với “Công ty quốc tế” - vốn
chỉ là tên gọi chung chung của 1 công ty nước ngoài tại 1 quốc gia nào đó.
2. Cấu trúc:
Các công ty đa quốc gia có thể xếp vào ba nhóm lớn theo cấu trúc các phương
tiện sản xuất:
Công ty đa quốc gia “theo chiều ngang” sản xuất các sản phẩm cùng loại
được nguồn nguyên liệu thô, nhân công rẻ, khai thác các tìêm năng tại chỗ.
Thứ hai , đó là nhu cầu sử dụng sức cạnh tranh và những lợi thế so sánh của
nước sở tại, thực hiện việc chuyển giao các ngành công nghệ bậc cao.
Thứ ba, tìm kiếm lợi nhuận cao hơn và phân tán rủi ro. Cũng như tránh những
bất ổn do ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh doanh khi sản xuất ở một quốc gia đơn nhất.
Ngoài ra, bảo vệ tính độc quyền đối với công nghệ hay bí quyết sản xuất ở
một ngành không muốn chuyển giao cũng là lý do phải mở rộng địa phương để sản
xuất. Bên cạnh đó, tối ưu hóa chi phí và mở rộng thị trường cũng là mục đích của
MNC.
Hoạt động MNC, vì được thực hiện trong một môi trường quốc tế, nên những
vấn đề như thị trường đầu vào, đầu ra, vận chuyển và phân phối, điều động vốn,
thanh toán… có những rủi ro nhất định. Rủi ro thường gặp của các MNC rơi vào 2
nhóm sau:
Rủi ro trong mua và bán hàng hóa như: thuế quan, vận chuyển, bảo hiểm, chu
kỳ cung cầu, chính sách vĩ mô khác…
4
Rủi ro trong chuyển dịch tài chính như: rủi ro khi chính sách của chính quyền
địa phương thay đổi, các rủi ro về tỷ giá, lạm phát, chính sách quản lý ngoại hối,
thuế, khủng hoảng nợ.
II. Vai trò của các công ty đa quốc gia đối với nền kinh tế thế giới:
1.Tổng quan về nền kinh tế thế giới:
1.1. Khái niệm “nền kinh tế thế giới”:
Nền kinh tế thế giới là tổng thể các nền kinh tế của các quốc gia trên trái
đất có mối lien hệ hữu cơ và tác động qua lại lẫn nhau thông qua sự phân công
lao động quốc tế cùng với các quan hệ kinh tế quốc tế của chúng.
1.2. Tình hình kinh tế thế giới trong nửa đầu thế kỉ XXI:
Đây là thời kì kinh tế mà các quan hệ quốc tế đã phát triển tới mức
dựa vào những cơ sở vật chất - kỹ thuật truyền thống. Từ thế kỷ XXI,
nền kinh tế trí tuệ đang được hình thành và phát triển. Đó là những người
máy công nghiệp sẽ thay thế những người lao động. Các quá trình lao
động trí óc cũng được người máy thay thế. Các nguồn năng lượng mặt
trời, nhiệt hạch… sẽ phổ biến và thay thế cho các nguồn năng lượng hiện
có. Các chất siêu dẫn, siêu cứng, siêu sạch, siêu bền… sẽ thay thế các vật
liệu truyền thống. Công nghệ vi sinh, công nghệ gen sẽ phát triển….
Không gian của nền kinh tế thế giới sẽ được mở rộng đến đáy Đại
Dương và vươn xa vào vũ trụ. Khi đó nền sản xuất thế giới sẽ đảm bảo
cung cấp hàng hoá dồi dào với chi phí rất thấp, các khu vực sản xuất vật
chất sẽ thu hẹp lại so với các khu vực kinh tế trí tuệ.
Những thay đổi về cơ cấu kinh tế thế giới dẫn tới những thay đổi về
thị trường: thị trường của hàng hoá có hàm lượng kỹ thuật cao và thị
trường dịch vụ sẽ ngày càng mở rộng, còn thị trường hàng hoá truyền
thống sẽ ngày càng thu hẹp và cạnh tranh để tiêu thụ ngày càng gay gắt.
c) Xu hướng cải tổ và đổi mới:
Một trật tự quốc tế mới đang được xác lập trên quy mô toàn cầu với
những đặc trưng chủ yếu là đối thoại và hợp tác xây dựng các khu vực
hoà bình và ổn định, thực hiện các nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi,
không can thiệp vào nội bộ của nhau…
Công cuộc cải tổ và đổi mới đang diễn ra sâu rộng ở tất cả các nước
còn lại trong hệ thống XHCN thế giới với những tên gọi khác nhau (như
Cải cách ở Trung Quốc, Đổi mới ở Việt Nam …) và với các mức độ
khác nhau. Những tư duy cũ, những thể chế cũ với mô hình kinh tế kế
6
hoạch, tập trung và đóng cửa ngày càng cản trở sự phát triển và đặt các
quốc gia này trước nguy cơ to lớn của cuộc khủng hoảng. Công cuộc cải
cách kinh tế có mục tiêu tạo lập nền kinh tế thị trường, để các hoạt động
2.Vai trò của các công ty đa quốc gia đối với nền kinh tế thế giới:
2.1.Vai trò của công ty đa quốc gia trong thương mại quốc tế:
2.1.1.Thúc đẩy hoạt động thương mại thế giới phát triển:
Một trong những vai trò nổi bật của các công ty đa quốc gia là
thúc đẩy hoạt động thương mại thế giới. Trong quá trình hoạt động
của mình, các công ty này đã thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu giữa
các quốc gia và gia công quốc tế. Hay nói cách khác là các công ty đa
quốc gia thúc đẩy thương mại phát triển với ba dòng lưu thông hàng
hoá cơ bản là: hàng hoá xuất nhập khẩu từ công ty mẹ, hàng hoá bán
ra từ các chi nhánh ở nước ngoài và hàng hoá trao đổi giữa các công ty
trong cùng một tập đoàn. Các công ty đa quốc gia chi phối hầu hết chu
chuyển hàng hoá giữa các quốc gia bởi các kênh lưu thông xuyên quốc
gia của mình.
Thật vậy, nếu tổng giá trị xuất khẩu của chi nhánh nước ngoài
năm 1982 là 647 tỷ USD thì đến năm 1990 là 1.366 tỷ USD, năm 2004
là 3.733 tỷ USD. Và đến năm 2005, con số này đã tăng gấp 6,5 lần
năm 1982 và đạt 4,214 tỷ USD.
Hơn nữa, trong tổng giá trị xuất khẩu của các quốc gia thì giá
trị xuất khẩu của các chi nhánh công ty đa quốc gia chiếm một tỷ
trọng tương đối lớn. Chẳng hạn giá trị xuất khẩu của các chi nhánh
này tại nước ngoài trong tổng giá trị xuất khẩu của thế giới trong các
năm 2003 và năm 2004 lần lượt là 54,1% và 55,8%, cụ thể như sau:
Bảng 1: Tỷ trọng xuất khẩu của chi nhánh nước ngoài năm 2001:
Quốc gia
Astralia
Trung Quốc
Pháp
Airland
Nhật Bản
Tây Ban Nha
Thuỵ Sỹ
Mỹ
34.091
6.812
20
107.111
34.138
32
1.032.830
157.459
15
Nguồn: UNCTAD, World Investment Report 2006.
Qua Bảng 1 ta thấy các công ty đa quốc gia chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng giá trị xuất khẩu của các quốc gia: đối với Airland là 66%,
với Trung Quốc là 44%... Một đặc điểm khác cần chú ý là thương mại
nội bộ giữa các công ty trong tập đoàn ngày càng chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng giá trị thương mại thế giới. Nhìn chung trao đổi nội bộ giữa
các chi nhánh của công ty đa quốc gia chiếm khoảng 1/3 tổng giá trị
thương mại thế giới. Giá trị trao đổi nội bộ này ngày càng tăng nhanh
và cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị thương mại của các nước.
Ví dụ, trao đổi trong nội bộ các công ty đa quốc gia trong ngành sản
xuất thiết bị điện, điện tử của Mỹ chiếm 21,5% tổng giá trị xuất khẩu
của các công tu đa quốc gia trong ngành này năm 1983 và tăng lên
30,6% năm 1998. Hoạt động thương mại nội bộ trong các công ty đa
quốc gia thường tạo điều kiện cho các chi nhánh tiếp cận với trình độ
công nghệ và bí quyết kỹ thuật tiên tiến của công ty mẹ và các chi
nhánh khác trong cùng hệ thống.
kim ngạch xuất khẩu của thế giới năm 1983, sản phẩm có hàm
lượng công nghệ cao chỉ chiếm 24% thì đến năm 1998 con số
này đã tăng lên 39,3%. Những sản phẩm quan trọng nhất trong
thương mại thế giới hiện nay chủ yếu thuộc ngành sản xuất
không dựa vào nguyên liệu trong đó các sản phẩm bán dẫn là
một trong những sản phẩm mũi nhọn.
Nguyên nhân của xu hướng này xuất phát từ chiến lược tập
trung phát triển các ngành có trình độ công nghệ cao của các
công ty đa quốc gia nhằm duy trì khả năng cạnh tranh cao và
thu lợi nhuận tối đa. Điều này được thể hiện qua tỉ trọng hàng
xuất khẩu của hàng hoá có hàm lượng công nghệ cao trong nội
bộ các công ty đa quốc gia chiếm tới 43,1% tổng giá trị hàng
hoá xuất khẩu. Như vậy, sự thay đổi trong chiến lược toàn cầu
của các công ty đa quốc gia tác động trực tiếp tới cơ cấu hàng
hoá xuất khẩu của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các
nước hướng về xuất khẩu. Ví dụ tại Mêhico, trong số 10 mặt
10
hàng xuất khẩu chủ yếu thì phần lớn những sản phẩm thuộc
ngành ô tô, điện tử do các chi nhánh của các công ty đa quốc
gia sản xuất.
b) Thay đổi trong cơ cấu đối tác:
Cùng với sự thay đổi trong cơ cấu hàng hoá thì cơ cấu đối
tác trong thương mại thế giới hiện nay cũng đang dần thay đổi.
Tỷ trọng của hàng hoá xuất khẩu của các nước đang phát triển
ngày càng cao, đặc biệt là các nước mới công nghiệp. Sự thay
đổi chiến lược của các công ty đa quốc gia và hệ thống sản
xuất quốc tế của chúng mở ra nhiều cơ hội cho các nước đang
phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi tham gia vào các hoạt
đều có tốc độ tăng trưởng chậm lại. Các công ty đa quốc gia giảm hoạt
động trên hầu hết các lĩnh vực. Động thái đó ảnh hưởng trực tiếp tới
dòng lưu chuyển FDI trên thế giới. Tổng đầu tư vào các nước giảm
51%, từ 1492 tỉ USD xuống còn 735 tỉ USD. Trong xu thế đó thì các
nước phát triển lại bị ảnh hưởng nhiều nhất do hầu hết các hoạt động
sáp nhập và mua lại (M&A) đều diễn ra tại các nước phát triển. Trong
giai đoạn 1982-1994 dòng vốn FDI nước ngoài tăng lên 4 lần và đạt
con số 3,2 nghìn tỉ USD vào năm 1996. Trong thời kỳ những năm
2004-2006 nguồn vốn FDI lại tăng lên. Tổng vốn FDI trên toàn cầu
năm 2005 tăng 29% và đạt 916 tỉ USD. Nguyên nhân chủ yếu là do
các vụ M&A tăng lên cả về số lượng và giá trị, chủ yếu là từ các công
ty đa quốc gia của Mỹ và Tây Âu. Trong thời kỳ này, giá trị của các
vụ M&A tăng đến 16% (năm1996), chiếm 47% dòng vốn FDI toàn
cầu. Dòng vốn FDI tăng lên cả ở các nước phát triển và đang phát
triển. Tuy nhiên. Tốc độ tăng trưởng giảm hơn so với cuối những năm
90.
Hơn nữa, các công ty đa quốc gia làm thay đổi xu hướng đầu
tư giữa các quốc gia. Khác với hai cuộc bùng nổ trước (lần 1: 19791981 đầu tư vào các nước sản xuất dầu mỏ, lần 2: 1987-1990: đầu tư
giữa các nước công nghiệp phát triển) cuộc bùng nổ đầu tư lần 3
(1995-1996) có sự tham gia đáng kể của các nước đang phát triển.
Trong cơ cấu vốn FDI trên thế giới tỷ trọng vốn FDI vào các nước
phát triển chiểm phần lớn. Tuy nhiên tỷ trọng này có xu hướng giảm
dần trong khi các nước đang phát triển lại có tỷ trọng ngày càng cao.
12
Bảng 2: Tỷ trọng vốn FDI tại các khu vực giai đoạn 1978 - 2005
(Đơn vị: %)
Khu vực
1978-1980
đang phát triển.
Nếu trước đây, hầu hết nguồn vốn FDI được thực hiện bởi các
công ty đa quốc gia của các nước phát triển thì ngày nay số lượng các
công ty đa quốc gia của các nước đang phát triển cũng tăng lên và có
ngày càng nhiều vốn FDI đến từ các nước đang phát triển. Theo Hội
nghị về thương mại và phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNCTAD),
lượng FDI mới từ các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế
chuyển đổi như Nga và các nước Xô Viết cũ tăng 5% lên mức 133 tỉ
USD trong năm 2005. Ngày càng có nhiều công ty của các nước đang
phát triển mở rộng hoạt động đầu tư của mình ở các thị trường nước
ngoài. Nếu như năm 1990, các công ty của các nước đang phát triển sở
hữu 148 tỉ USD vốn FDI thì đến năm 2005 con số này lên tới 1.400 tỉ
USD. Tuy nhiên, nguồn vốn này chỉ tập trung vào một số quốc gia
nhất định. Trong các nước đang phát triển thì Trung Quốc là nước đầu
tư ra nước ngoài nhiều nhất (chiếm tới 1/3 tổng lượng vốn nói trên)
sau đó là Singapore, Hàn Quốc, Malaysia. Các công ty đa quốc gia lớn
của các nước này là Hutchison Whampa (67 tỉ USD), Petronas (22tỉ
USD), Singtel (18tỉ), Samsung (14tỉ USD).
13
2.2.2. Làm tăng tích luỹ vốn của nước chủ nhà:
Với thế mạnh về vốn, các công ty đa quốc gia đóng vai trò là
động lực thúc đẩy tích luỹ vốn của nước chủ nhà. Thông qua kênh
công ty đa quốc gia, nước chủ nhà có thể tăng cường thu hút vốn FDI
đầu tư vào nước mình. Vai trò này của các công ty đa quốc gia được
thể hiện qua một số khía cạnh sau:
Thứ nhất: Bản thân các công ty đa quốc gia khi đến hoạt động
ở các quốc gia đều mang đến cho nước này một số lượng vốn nào đó.
Hơn nữa, trong quá trình hoạt động, các công ty đa quốc gia cũng
toàn thế giới. Mặt khác, ở góc độ từng quốc gia riêng thì các công ty
đa quốc gia góp phần làm tăng tích luỹ vốn cho nước chủ nhà.
2.3.Vai trò của các công ty đa quốc gia đối với hoạt động phát triển và
chuyển giao công nghệ:
2.3.1.Chủ thể chính trong phát triển công nghệ thế giới
Trong chiến lược cạnh tranh, các công ty đa quốc gia luôn coi
công nghệ là yếu tố quan trọng, giữ vị trí hàng đầu. Do đo, thúc đẩy
đổi mới công nghệ bằng hoạt động Nghiên cứu và phát triển (R&D) là
nhiệm vụ sống còn của các công ty. Đi đầu trong đổi mới công nghệ
đồng nghĩa với nâng cao năng lực cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường và
giữ vị trí độc quyền.
Ngày nay, nhận thức của các công ty đa quốc gia về khoa học
công nghệ đã chuyển biến. Nếu như trước đây, các công ty đa quốc gia
thường đầu tư lớn cho các phòng thí nghiệm, các viện nghiên cứu để
các cơ sở này tạo ra các phát minh sáng chế thì hiện nay, tại các công
ty đa quốc gia đang diễn ra quá trình quốc tế hoát hoạt động R&D một
cách mạnh mẽ. Công nghệ mới ra đời không chỉ từ các phòng thí
nghiệm, các viện nghiên cứu, các trường đại học mà còn từ chính các
cơ sở sản xuất của công ty đa quốc gia. Thí dụ Motorola đã thiết lập
hệ thống R&D của mình bao gồm 14 cơ quan tại 7 quốc gia, tập đoàn
Bristol Myer Squibb có 12 cơ sở hoạt động R&D tại 6 quốc gia.
Bước chuyển quan trọng trong chính sách hoạt động R&D của
công ty đã có những thay đổi căn bản. Nếu trước đây các công ty đầu
15
tư cao cho công tác R&D tại công ty mẹ thì nay đang thực hiện chính
sách phi tập trung hoá do một số lý do sau:
16
(575USD), Singapore (262 USD). Hàn Quốc là quốc gia theo đuổi
chiến lược công nghệ cao và đặt mục tiêu đến năm 2010 trở thành 1
trong 10 nước đứng đầu về khoa học công nghệ.
Trong các ngành hưởng lợi từ các hoạt động R&D thì ngành
công nghệ thông tin đứng hàng đầu. Mức đầu tư cho công nghệ thông
tin của Mỹ hàng năm là 8% GDP, Nhật Bản là 7%, Hàn Quốc 6% ,
Pháp và Đức là 4%.
Các công ty đa quốc gia không chỉ đầu tư cho hoạt động R&D
bằng chính sức lực của mình mà chúng còn nhận được sự hỗ trợ về
nhiều mặt từ chính phủ của các nước tư bản. Ví dụ chính phủ Nhật
Bản giúp 6 công ty lớn là Fujisu, Hitachi, Mitshubishi, Kinzonku,
Nihondenki và Toshiba cùng nghiên cứu kỹ thuật siêu mạch. Trong
khuôn khổ chiến lược phát triển công nghệ, công ty đa quốc gia cũng
thiết lập các mối liên kết với các trung tâm nghiên cứu và viện nghiên
cứu.
2.3.2.Các công ty đa quốc gia với hoạt động chuyển giao công nghệ
Ngày nay, công nghệ đóng vai trò quyết định đối với sự sống
còn của các công ty. Các công ty nói chung, đặc biệt là các công ty đa
quốc gia luôn coi công nghệ là yếu tố giữ vị trí hàng đầu. Công nghệ
là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường và giứ
thế độc quyền. Do đó, trong quá trình thực hiện đầu tư ra nước ngoài
các công ty đa quốc gia thường có những phương thức và những kênh
riêng để thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ của mình.
a) Phương thức chuyển giao
Không chỉ nắm giữ trong tay phần lớn công nghệ tiên tiến
của thế giới, các công ty đa quốc gia còn biết cách sử dụng và
khai thác các công nghệ đó một cách có hiệu quả nhất nhằm
đưa sản phẩm vào thị trường cụ thể. Nếu chi nhánh thực hiện
hoạt động R&D với tư cách là một bộ phận cấu thành của
mạng lưới R&D toàn cầu của các công ty đa quốc gia thì công
nghệ được chuyển giao là những công nghệ thiết yếu với đặc
trưng của hoạt động chuyển giao là sự trao đổi thông tin hai
chiều.
Thứ hai: Công nghệ hạng hai:
18
Những công nghệ hạng hai không còn mới, không còn đem
lại lợi thế cạnh tranh cho các công ty đa quốc gia thường được
chuyển giao cho các công ty liên doanh hoặc các công ty nằm
ngoài hệ thống các công ty đa quốc gia tại các nước đang phát
triển. Lý do mà các công ty đa quốc gia chuyển giao công
nghệ hạng hai này cho các nước đang phát triển không chỉ bắt
nguồn từ chiến lược của các công ty đa quốc gia trong việc
khai thác lợi ích của công nghệ mà còn vì các công nghệ đó
phù hợp với khả năng tài chính và trình độ của các nước này.
Ngay cả khi các công ty đa quốc gia có công nghệ hiện đại để
chuyển giao thì nhiều nước đang phát triển này cũng không có
khả năng khai thác hiệu quả công nghệ đó. Hơn nữa, do mặt
bằng công nghệ của các đối thủ cạnh tranh tại các quốc gia
này chưa cao nên cũng không đòi hỏi công nghệ hàng đầu.
Trong chính sách này, ngay cả khi công nghệ đã hao mòn
vô hình, không còn mới nữa thì các công ty đa quốc gia vẫn
duy trì chính sách chuyển giao cầm chừng nhằm duy trì sự phụ
thuộc của đối tác và giữ quyền kiểm soát đối với công nghệ.
Với chính sách đó, các công ty đa quốc gia chỉ chuyển giao
những năm 80 trở lại đây, khi các nước này thực hiện tự do
hoá thương mại và đầu tư.
Liên minh liên kết: Ngày nay, do chi phí và lợi ích từ việc
trao đổi song phương giữa các công ty đa quốc gia nên các
công ty đa quốc gia thường liên kết với nhau trong hoạt động
nghiên cứu và phát triển công nghệ. Trong các ngành công
nghiệp mới như: công nghệ sinh học, điện tử, hàng không, vũ
trụ… mức độ rủi ro cao, chi phí cho hoạt động R&D lớn khiến
các công ty đa quốc gia đơn lẻ khó có thể thực hiện được. Do
đó, chúng đã thiết lập quan hệ hợp tác với các công ty nằm
ngoài hệ thống sản xuất của mình để nghiên cứu, triển khai và
chuyển giao công nghệ. Có thể lấy liên minh IBM với các
công ty đa quốc gia khác trong việc phát triển máy tính cá
nhân: trong liên minh đó, công ty Lotus Corporation cung cấp
phần mềm ứng dụng, Microsoft thiết kế hệ thống điều hành
cho bộ vi xử lý còn Intel thực hiện hoạt động sản
20