BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Ngọc Sáng
CÁC XU HƯỚNG TRONG PHONG TRÀO YÊU
NƯỚC Ở NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. VÕ XUÂN ĐÀN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn. Từ khi lập quốc, do không ngừng đấu
tranh với thiên nhiên và giặc ngoại xâm, cộng đồng dân tộc Việt Nam sớm có ý thức đoàn kết bảo vệ
chủ quyền và xây dựng đất nước mình, lòng yêu nước Việt Nam cũng bắt nguồn từ đó. Trải qua hàng
ngàn năm dựng nước và giữ nước, truyền thống ấy không ngừng được hun đúc và ngày càng phát triển.
Các thế hệ dân tộc Việt Nam, nối tiếp nhau không những bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia mà còn
ngày càng xây dựng đất nước phát triển đi lên. Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ấy, lòng
yêu nước thực sự là động lực để nhân dân ta có thể thực hiện được những chiến công hiển hách làm
rạng ngời những trang sử vẻ vang của dân tộc, và bản thân lòng yêu nước, tự nó, cũng trở thành niềm
tự hào không gì so sánh được của tất cả những ai mang trong mình dòng máu Việt Nam.
Tuy vậy, lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam không phải là một khái niệm thuần nhất. Lòng yêu
Nam Bộ.
Nhưng mặc dù có nhiều điểm tương đồng, các xu hướng yêu nước ấy vẫn có những khác biệt rất cơ
bản, và chính vì vậy, giữa các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX luôn có sự đấu tranh với
nhau, khi êm ả, lúc quyết liệt. Trong quá trình ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đứng ở vị trí trung
tâm, đóng vai trò đoàn kết và thống nhất các xu hướng yêu nước khác để hướng tất cả vào sự nghiệp
chung. Và vì vậy những thành quả trong các phong trào đấu tranh cách mạng ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX
không phải là sự thể hiện sức mạnh của bản thân Đảng Cộng sản, mà là sự thể hiện sức mạnh tổng hợp
của tất cả các phong trào yêu nước, được hội tụ vào những mục tiêu cách mạng mà Đảng đề ra. Điều đó
tạo nên sự sinh động và đặc thù của lịch sử Nam Bộ nói riêng.
Nghiên cứu về những lòng yêu nước của một vùng đất xuất hiện nhiều xu hướng yêu nước khác
nhau và lịch sử chứa đầy những biến động thăng trầm như vùng Nam Bộ là một vấn đề khó khăn và
phức tạp. Nhưng tất nhiên những vấn đề khó khăn luôn là một sức cuốn hút mãnh liệt đối với những
người nghiên cứu khoa học. Đó cũng là lý do tôi lựa chọn đề tài CÁC XU HƯỚNG TRONG PHONG
TRÀO YÊU NƯỚC Ở NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX làm đề tài luận văn tốt nghiệp chương trình
cao học niên khóa 2007 - 2010 của mình. Mục đích nghiên cứu của đề tài không gì khác hơn là góp
phần khái quát lại những xu hướng yêu nước xuất hiện ở vùng đất Nam Bộ trong nửa đầu thế kỷ XX,
với những mối liên hệ, hỗ trợ và cả đấu tranh giữa chúng. Để từ đó có thể góp phần vào việc nhận thức
toàn diện hơn về lịch sử vùng đất Nam Bộ nói riêng cũng như toàn bộ lịch sử Việt Nam nói chung.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Lịch sử vùng Nam Bộ Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX là một bức tranh sinh động và rộng lớn với
những vận động và biến đổi trên rất nhiều các phương diện, lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nơi
đây. Ngay bản thân cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp để giành lại độc lập chủ quyền, xây dựng và
bảo vệ đất nước của nhân dân Nam Bộ, vốn chỉ là một bộ phận của lịch sử vùng Nam Bộ, đã là một
một hệ thống phức tạp các mặt trận đối đầu không khoan nhượng. Đề tài không thể và cũng không có ý
định nghiên cứu một cách tường tận tất cả các phương diện trong giai đoạn lịch sử đầy biến động này
của vùng Nam Bộ, mà chỉ tập trung vào một đối tượng nghiên cứu nhỏ, đó là vấn đề xem xét, tìm hiểu
sự xuất hiện và phát triển, sự liên hệ cũng như đấu tranh của các xu hướng yêu nước ở vùng đất Nam
Bộ trong khoảng thời gian đó dưới vai trò lãnh đạo trung tâm của Đảng và những đóng góp của các xu
tài nghiên cứu mới, vấn đề này từ trước tới nay đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến khá nhiều, gồm
các nhà nghiên cứu về lịch sử Việt Nam và các nhà nghiên cứu lịch sử Đảng, cả các nhà nghiên cứu
trong nước và nước ngoài.
Tùy vào mục đích của từng công trình nghiên cứu cụ thể mà các công trình nghiên cứu về các
phong trào yêu nước ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX cũng có những cách tiếp cận vấn đề từ các góc độ khác
nhau, trực tiếp cũng như gián tiếp. Mặc dù vậy, do các yếu tố chủ quan cũng như khách quan, các công
trình nghiên cứu liên quan đến đề tài này vẫn có một số hạn chế. Một công trình chuyên sâu và đầy đủ
về vấn đề này cho đến nay vẫn chưa được xuất bản.
Đối với các công trình trình bày chung về tiến trình lịch sử Việt Nam, như Đại Cương Lịch sử Việt
Nam, tập 2 và 3, Nxb Giáo Dục, Hà Nội của các tác giả Lê Mậu Hãn chủ biên, Trần Bá Đệ, Nguyễn
Văn Thư, xuất bản năm 2003; Đại cương lịch sử Việt Nam, toàn tập: từ thời nguyên thủy đến năm 2000
của Trương Hữu Quýnh và những người khác, Nxb Giáo dục, Hà Nội, xuất bản năm 2003; Lịch sử Việt
Nam (Đầu thế kỷ XX - 1918) của Nguyễn Văn Kiêm, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, xuất bản năm 1976; Lịch
sử Việt Nam của Huỳnh Công Bá, Nxb. Thuận Hóa, Huế, xuất bản năm 2008… đều trình bày những
nét lớn về tiến trình lịch sử của cả nước nói chung và vùng Nam Bộ nói riêng nửa đầu thế kỷ XX. Các
công trình này dều đề cập đến các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ, với quá trình ra đời và phát triển cơ
bản của chúng, nhưng bởi đây là những công trình mang tính chất đại cương, các tác giả không thể
trình bày vấn đề một cách chi tiết và chuyên sâu.
Tương tự như vậy là các công trình nghiên cứu về các phong trào yêu nước ở Việt Nam nửa đầu thế
kỷ XX. Có thể kể đến các công trình như: Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX - Một
cách tiếp cận của Đỗ Thanh Bình, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, xuất bản năm 2006; Sự chuyển biến
của phong trào yêu nước và cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX
của Đinh Trần Dương, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2006; Phong trào Duy Tân của
Nguyễn Văn Xuân, Nxb Đà Nẵng, xuất bản năm 1995… Do các công trình này trình bày về các phong
trào yêu nước trên phạm vi cả nước nên không thể trình bày một cách đầy đủ về phong trào yêu nước ở
Nam Bộ nói riêng.
Các công trình nghiên cứu về các tổ chức tôn giáo và chính trị ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX như
Đạo Cao Đài và chính trị, Luận văn tốt nghiệp, Học viện Quốc gia hành chánh, Sài Gòn của Phan Kỳ
Chưởng niên khóa năm 1973, Bộ đội Bình Xuyên, Nxb. Lao động, Hà Nội của các tác giả Hồ Sơn Đài,
Đỗ Tầm Chương, Hồ Khang xuất bản năm 2005; Nhận thức Phật giáo Hòa Hảo, Nxb. Hương Sen, Sài
những người khác, Nxb. Mũi Cà Mau, xuất bản năm 1995… lại chủ yếu đề cập đến sự phát triển của
Đảng, với sự lãnh cụ thể bằng các chủ trương, sách lược trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể mà ít quan
tâm đến các phong trào yêu nước theo các khuynh hướng khác, đặc biệt là những đóng góp của các
phong trào này cho phong trào cách mạng nói chung ở Nam Bộ.
Đặc biệt gần gũi với đề tài này là công trình nghiên cứu của giáo sư Trần Văn Giàu: Sự phát triển
của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, gồm 3 tập ( tập 1: Hệ ý thức phong
kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, tập 2: Hệ ý thức tư sản và sự bất lực của nó
trước các nhiệm vụ lịch sử, tập 3: Thành công của chủ nghĩa Mác Lênin - Tư tưởng Hồ Chí Minh),
Nxb TP. HCM, xuất bản năm 1993. Đây là công trình nghiên cứu một cách chuyên sâu về mảng đề tài
tư tưởng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, và tất nhiên có đề cập đến vùng Nam Bộ. Nhưng vì công trình
này tập trung nghiên cứu về sự phát triển của tư tưởng trên phạm vi cả nước, nên việc đề cập đến
những xu hướng yêu nước ở Nam Bộ còn có những hạn chế nhất định, bởi đây chỉ là một bộ phận nhỏ
trong đối tượng nghiên cứu của công trình.
Tóm lại tất cả các công trình trên tuy hầu như đã khái quát được sự ra đời và phát triển của các xu
hướng yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, do các lý do chủ quan và khách quan, các
công trình trên chưa thật sự đào sâu nghiên cứu về vấn đề các xu hướng yêu nước ở vùng Nam Bộ nửa
đầu thế kỷ XX, đặc biệt là trong vấn đề phân tích vai trò của Đảng đối với các xu hướng yêu nước theo
các xu hướng khác nhau, vốn xuất hiện rất nhiều ở Nam Bộ giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX. Thực tế cho
thấy mỗi công trình chỉ phản ánh một khía cạnh nhỏ của toàn bộ mảng đề tài này. Do đó, thực hiện đề
tài này, hi vọng đề tài có thể kế thừa một cách tốt nhất những thành quả của các công trình nghiên cứu
đi trước để có thể khái quát lại một cách toàn diện và hệ thống hơn về toàn bộ vấn đề này.
4. Nguồn tư liệu
Nghiên cứu về lòng yêu nước là một mảng đề tài chủ đạo đối với các nhà nghiên cứu lịch sử. Đặc
biệt, đối với dân tộc Việt Nam, lòng yêu nước cũng là một trong những đặc điểm nổi bật nhất, là sợi chỉ
đỏ xuyên suốt tiến trình lịch sử dựng nước củacủa dân tộc. Nguồn tư liệu có thể phục vụ cho việc
nghiên cứu đề tài này, vì thế, vô cùng phong phú và đa dạng. Hơn thế nữa giai đoạn lịch sử nửa đầu thế
kỷ XX của Việt Nam, từ trước tới nay là một lĩnh vực mà các nhà sử học, trong nước và cả nước ngoài
đã dày công nghiên cứu.
giai đoạn này. Có thể kể đến các công trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện công nghệ bưu
chính viễn thông, Hà Nội, của Trần Thị Minh Tuyết, Nguyễn Thị Hồng Vân, xuất bản năm 2007, Lịch
sử Đảng bộ Miền Đông Nam Bộ lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội của Lâm Hiếu Trung chủ biên, xuất bản năm 2003; Lịch sử
Đảng Bộ Thành Phố Hồ Chí Minh, Nxb. Tổng hợp TP.HCM của Phạm Văn Thắng, Cao Tự Thanh và
những người khác, xuất bản năm 2007; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Minh Hải 1930 - 1975, Nxb. Mũi Cà Mau
của Huỳnh Lứa và những người khác, xuất bản năm 1995…
Một nguồn tư liệu hết sức quan trọng khác là các tác phẩm thuộc thể loại hồi ký. Đây là những hồi
ức của những con người đã từng trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, là
những nhân chứng lịch sử. Có thể kể đến một số tác phẩm sau: Công nhân Nam Bộ trong khói lửa,
Nxb. Lao Động, Hà Nội của Vũ Ngọc Nguyên, xuất bản năm 1959; Nam bộ thành đồng Tổ quốc đi
trước về sau - Hồi ký kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội của nhiều tác
giả, xuất bản năm 1999… Tuy nhiên, các câu chuyện của họ trong hồi ký mặc dù sinh động và hấp dẫn
nhưng rất có thể không đảm bảo được sự chính xác. Một phần vì có sự thêm thắt, một phần vì trí nhớ
của các nhân chứng đó không đảm bảo sự chính xác tuyệt đối. Vì vậy, đối với các ông trình loại này
cần phải có sự thẩm định và đối chiếu với các công trình nghiên cứu khoa học khác.
Cũng gần giống như thể loại Hồi ký, các tiểu thuyết tư liệu về vùng Nam Bộ trong cuộc đấu tranh
trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược cũng có tính chất tương tự. Bất cứ một tiểu thuyết nào cũng
không thể tránh khỏi các tình tiết hư cấu. Đối với loại tiểu thuyết tư liệu, mặc dù tác giả đã cố gắng hạn
chế đến mức thấp nhất điều đó nhưng cố nhiên vẫn không thể nào loại bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên, nếu
biết cách khai thác thì các tư liệu loại này cũng là một nguồn tư liệu hết sức quý giá, vấn đề chỉ là việc
thẩm định và lựa chọn các sự kiện một cách chính xác nhất. Các công trình loại này gồm có: Sư thúc
Hòa Hảo, tiểu thuyết tư liệu, Nxb. Tổng hợp Hậu Giang, xuất bản năm 1990 và Người Bình Xuyên, tiểu
thuyết tư liệu, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, xuất bản năm 1988 của tác giả Nguyên Hùng.
Các công trình nghiên cứu về lịch sử và văn hóa của vùng Nam Bộ cũng có tác dụng không nhỏ
trong việc phục vụ bổ trợ cho công tác nghiên cứu đề tài. Ví dụ như các công trình Văn hóa và cư dân
Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội của tập thể tác giả Nguyễn Công Bình, Lê
Xuân Diệm, Mạc Đường, xuất bản năm 1990; Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nxb. TP.HCM của
các tác giả Huỳnh Lứa chủ biên, Lê Quang Minh, Lê Văn Nam, Nguyễn Nghị, Đỗ Hữu Nghiêm, xuất
phải tìm cho ra bản chất và quy luật của tiến trình phát triển của lịch sử. Phương pháp logic chính là
công cụ đóng vai trò giải thích các biến cố, liên kết các sự kiện, rút ra những quy luật trong quá trình
nghiên cứu. Đặc biệt trong vấn đề nhìn nhận và đánh giá tầm quan trọng của các xu hướng yêu nước ở
Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX, phương pháp logic sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc làm rõ sự tác động
qua lại giữa các xu hướng yêu nước, sự chi phối của các điều kiện thực tế lịch sử cụ thể. Đồng thời qua
đó phương pháp logic cũng là công cụ để rút ra những bài học lịch sử cụ thể để vận dụng vào hoàn
cảnh xây dựng đất nước hiện nay, định hướng cho sự phát triển của dân tộc trong bối cảnh mới.
Cần nhấn mạnh rằng, phải có sự phối hợp sử dụng đồng thời cả hai phương pháp trên mới có thể
phát huy được hiệu quả nghiên cứu cao nhất. Bởi chúng có sự bổ sung và hỗ trợ cho nhau. Sử dụng
phương pháp này mà không sử dụng phương pháp kia hoặc sử dụng cả hai phương pháp mà không có
sự phối hợp với nhau thì cũng đều khó đi đến chân lý khách quan.
Sự phối hợp hai phương pháp trên đều dựa trên nền tảng của phương pháp duy vật biện chứng. Lịch
sử luôn luôn vận động và phát triển, nhưng sự vận động và phát triển đó không diễn ra một cách ngẫu
nhiên mà tuân theo quy luật, các biến cố lịch sử đều có nguồn gốc sâu xa từ những cơ sở kinh tế xã hội
của bản thân xã hội đó. Nhiệm vụ của người nghiên cứu lịch sử là phải tìm ra được bản chất của lịch sử
cũng như phát hiện ra cái nguyên nhân, cái quy luật chi phối tiến trình vận động của lịch sử. Và để có
thể giải thích được các biến cố lịch sử một cách khoa học và chính xác nhất, nhất thiết phải quán triệt
phương pháp duy vật biện chứng. Vấn đề nghiên cứu các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ
XX cũng không phải là ngoại lệ.
Riêng đối với đề tài này, phương pháp so sánh có vai trò đặc biệt quan trọng. Phương pháp so sánh
không chỉ là công cụ để thấy được sự phát triển của các phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân
Nam Bộ trước và sau khi có sự lãnh đạo của Đảng, mà còn để thấy được những nét tương đồng và dị
biệt của các xu hướng yêu nước xuất hiện ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX, cũng như tìm ra những nét
đặc thù của các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ với các địa phương khác trên phạm vi cả nước.
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương phác khác như phương pháp liên ngành (khai thác một
số tài liệu văn học, địa lý…), phương pháp liệt kê (để tìm hiểu một cách có hệ thống tất cả các xu
hướng yêu nước xuất hiện ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX) và một số các phương pháp khác.
Chỉ có sự vận dụng một cách nhuần nhuyễn và thích hợp toàn bộ các phương pháp trên mới có một
trong tương lai.
7. Bố cục luận văn
Luận văn gồm có 162 trang, gồm:
Phần mở đầu
Phần nội dung: Có ba chương
Chương một: Các xu hướng yêu nước ở Nam Bộ từ đầu thế kỷ XX đến trước khi thành
lập Xứ ủy Nam Kỳ
Chương hai: Phong trào yêu nước ở Nam Bộ sau khi có sự lãnh đạo của Đảng đến
Cách mạng tháng Tám (1930 - 1945)
Chương ba: Đặc điểm và khuynh hướng phát triển của chủ nghĩa yêu nước ở Nam Bộ
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
Tài liệu tham khảo
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG MỘT
CÁC XU HƯỚNG YÊU NƯỚC Ở NAM BỘ TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN
TRƯỚC KHI THÀNH LẬP
XỨ ỦY NAM KỲ
1.1 Một số nét khái quát về vùng Nam Bộ
1.1.1 Vấn đề tên gọi Nam Bộ và Nam Kỳ trong lịch sử Việt Nam
Trong lịch sử của các vùng miền lãnh thổ trên đất nước Việt Nam, có lẽ hiếm có địa phương nào lại
có một hoàn cảnh đặc biệt như vùng Nam Bộ. Đặc biệt ở cả những biến động thăng trầm của lịch sử và
cả vấn đề tên gọi. Có thể nói, vùng đất Nam Bộ từ khi in dấu chân con người đến nay đã trải qua không
ít lần thay đổi tên gọi. Mỗi tên gọi đều ứng với một giai đoạn lịch sử nhất định và có lẽ những tên gọi
ấy phần nào cũng gợi lên trong tiềm thức mỗi người dân Nam Bộ những hoài niệm và tự hào về một
thời đại đã qua của thế hệ cha ông nơi mảnh đất này.
Sau khi chiếm xong ba tỉnh miền Đông gồm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa (1862) và ba tỉnh
miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (1867), thực dân Pháp xóa bỏ cách phân chia địa giới
hành chánh cũ của triều Nguyễn. Năm 1899, Lục Tỉnh của Nam Kỳ bị phân lại thành hai mươi mốt
tỉnh. Chia lại đất Nam Kỳ, có lẽ thực dân Pháp muốn xóa nhòa hai chữ Lục Tỉnh trong lòng người Việt,
cũng là cách cắt đứt lòng lưu luyến với truyền thống yêu nước của người dân Nam Bộ, một thủ đoạn
tâm lý bên cạnh các cuộc đàn áp những phong trào yêu nước kháng chiến. Song mặc dù vậy, cái tên
Nam Kỳ vẫn được duy trì cho đến tận năm 1945.
Sau cuộc đảo chính Pháp tại Đông Dương ngày 9/3/1945, quân đội Nhật đã tuyên bố trao lại quyền
độc lập cho Việt Nam. Song song với quá trình thanh lập chính phủ, vua Bảo Đại cũng cho phân vùng
lãnh thổ Việt Nam thành ba khu vực hành chính, và đặt các chức quan Khâm sai thay mặt nhà vua để
cai quản từng vùng. Nam Bộ là khu vực tương ứng với Nam Kỳ cũ, theo nghĩa Bộ là một phần. Nam
Bộ là một phần đất nước ở phía Nam.
Tên gọi Nam Bộ được chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lựa chọn và được sử dụng lâu dài
cho đến tận ngày nay, thay cho tên gọi Nam Kỳ. Nam Bộ là một trong ba xứ, hai xứ kia là Bắc Bộ và
Trung Bộ.
Như vậy, với tư cách là một người nghiên cứu đương đại tìm hiểu về quá khứ. Trong bản thân đề tài
này chỉ sử dụng thuật ngữ Nam Bộ làm tên gọi thống nhất. Tuy nhiên, trong các tài liệu trích dẫn hoặc
trong một số trường hợp đặc biệt cụ thể, đề tài có thể vẫn sử dụng tên gọi Nam Kỳ, được dùng để chỉ
chung một đối tượng lịch sử. Tất cả đều không ngoài mục đích đảm bảo tính khoa học và tính đảng cho
đề tài nghiên cứu.
1.1.2 Đặc điểm tự nhiên - xã hội của vùng Nam Bộ
Vùng đất Nam Bộ Việt Nam là một vùng đồng bằng rộng lớn ở hạ lưu sông Mêkông, phía đông
giáp biển Đông, phía đông bắc giáp với cao nguyên Trường Sơn, phía tây giáp vịnh Thái Lan, phía bắc
nối liền với đồng bằng của Campuchia. Đất đai nơi đây rất màu mỡ do được phù sa của các hệ thống
sông Mêkông, sông Đồng Nai và các hệ sông nhỏ khác bồi đắp. Địa hình nhìn chung khá bằng phẳng
nhưng rất phức tạp. “Miền đông bắc có nền đất tương đối cao hơn các nơi khác của đồng bằng, nhưng
đổ về phía biển, mặt đất thấp, sông ngòi và kinh rạch quanh co chằng chịt, nhiều chỗ đồng lầy nước
đọng, nơi sinh trưởng của từng ngập mặn, của cây bần, cây đước… địa thế rất hiểm trở”. [59, tr 17]
kỷ VI, do những biến động của lịch sử, Phù Nam dần dần suy yếu, đó chính là lúc các thuộc quốc của
Phù Nam nổi lên tách khỏi sự lệ thuộc, thậm chí quay lại tấn công Phù Nam. Trong đó có quốc gia của
người Khơ me ở vùng bình nguyên Cò Rạt, quanh lưu vực sông Sê mun và trung lưu sông Mê công,
đang trong giai đoạn phát triển lớn mạnh.
Tộc người Khơ me vốn thần phục Phù Nam từ thế kỷ III. Sau đó nhân lúc Phù Nam gặp khủng
hoảng suy thoái, người Khơ me từ bỏ việc thần phục Phù Nam, thậm chí còn tiến hành cuộc nam tiến
chinh phục lại Phù Nam. Cuối cùng đến khoảng giữa thế kỷ VII, Phù Nam bị tiêu diệt. Trong khoảng
thời gian từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVII, vùng Nam Bộ thuộc quyền quản lý của vương quốc Chân Lạp.
Đến khoảng thế kỷ XVII - XIX, vùng Nam Bộ được chuyển vào tay những người Việt di cư.
Cho đến thế kỷ XVII, trên vùng đất Nam Bộ Việt Nam ngày nay, các cư dân Khơ me và các dân tộc
ít người khác đã sống lẻ tẻ, rải rác trên các giồng đất cao, các vùng đồi núi, với số lượng dân cư ít ỏi,
trình độ kỹ thuật thấp kém. Về cơ bản, vùng đất Nam Bộ thời điểm đó phần lớn vẫn còn là một vùng
đất hoang vu chưa được khai phá, mặc dù nơi đây từ lâu đã tồn tại nhiều lớp cư dân khác nhau từng
sinh sống.
Bước vào thế kỷ XVII, những biến động của lịch sử trên đất nước Đại Việt cũng kéo theo những
thay đổi lớn lao ở vùng đất Nam Bộ. Những tranh chấp quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến họ
Trịnh và họ Nguyễn dẫn tới cục diện chia cắt đất nước thành hai miền riêng biệt: Đàng Trong thuộc
quyền kiểm soát của chúa Nguyễn và Đàng Ngoài thuộc quyền kiểm soát của vua Lê chúa Trịnh.
Cuộc chiến tranh Đàng Trong - Đàng Ngoài nổ ra quyết liệt và kết quả là đất nước Đại Việt bị chia
cắt kéo dài suốt gần hai thế kỷ. Chiến tranh đã làm xáo trộn cuộc sống của người dân, là nguyên nhân
trực tiếp cũng như gián tiếp cho những cuộc di cư ồ ạt của người Việt về phía nam, trong đó một trong
những điểm đến quan trọng nhất chính là vùng Nam Bộ.
Cùng với quá trình di cư của người Việt, vùng Nam Bộ thế kỷ XVII - XVIII còn tiếp nhận thêm
một bộ phận cư dân lớn người Chăm vốn là những cư dân còn lại của vương quốc Champa vừa sụp đổ.
Bên cạnh đó dòng lưu dân vào vùng đất Nam Bộ thế kỷ XVII - XVIII còn phải kể đến người Hoa. Bộ
phận người Hoa này chủ yếu là quan quân nhà Minh và gia quyến của họ, vốn không chịu thần phục
nhà Mãn Thanh vừa được lập nên ở Trung Quốc.
Các lớp cư dân người Việt, người Hoa và người Chăm đua nhau kéo vào vùng Nam Bộ để tìm một
cuộc sống mới. Vùng đất Nam Bộ bắt đầu được khai phá trên quy mô rộng lớn.
Do ảnh hưởng từ chính sách khai thác của Pháp, vùng Nam Bộ xuất hiện những tầng lớp mới: Đại
địa chủ, tư sản, trí thức tây học, tiểu tư sản… Một bộ phận trong số đó dựa vào quyền lực của thực dân
Pháp, câu kết với kẻ thù, phản bội quyền lợi của quốc gia dân tộc; nhưng bộ phận còn lại, vẫn có phần
nào tinh thần yêu nước, và trong những điều kiện cụ thể, họ cũng có tham gia với một chừng mực nào
đó các phong trào yêu nước, đặc biệt nếu phong trào ấy có đề cập đến lợi ích của họ.
Giai cấp công nhân, xuất hiện khá sớm ở Nam Bộ, nhưng do những đặc thù của điều kiện kinh tế xã
hội nên có những đặc điểm rất đặc trưng. Giai cấp công nhân ở Nam Bộ ra đời sớm, số lượng phát triển
khá nhanh, đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Cùng với sự du nhập những luồng tư tưởng tiến
bộ, đặc biệt là chủ nghĩa Mác Lênin, giai cấp công nhân Nam Bộ dần hình thành và trở thành ngọn cờ
đầu trong các phong trào yêu nước.
Do điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử cụ thể nói trên, cư dân và nền kinh tế xã hội Nam Bộ đã
xuất hiện những nét đặc thù. Từ đó phong trào yêu nước ở Nam Bộ trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX
cũng có xu hướng phát triển riêng, không giống với các địa phương khác trên đất nước Việt Nam. Nhân
dân Nam Bộ đứng lên chống Pháp ngay từ những ngày đầu thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta.
Cuối thế kỷ XIX, các phong trào khởi nghĩa vũ trang chống Pháp từ Nam chí Bắc về cơ bản đều đã thất
bại, trong đó bao gồm cả các phong trào ở Nam Bộ.
Nhưng dân tộc Việt Nam vốn có một tinh thần đấu tranh bất khuất, càng bị đè nén bao nhiêu càng
quyết liệt vùng lên quật khởi bấy nhiêu. Sự thất bại tạm thời của các phong trào yêu nước ấy không thể
dập tắt được ý chí quật cường đó.
Đến đầu thế kỷ XX, những người yêu nước Việt Nam nói chung và người dân Nam Bộ nói riêng
vẫn cố gắng tìm ra một con đường đi mới giải phóng cho dân tộc thoát khỏi xích xiềng nô lệ. Trước
những biến động lớn lao của tình hình trong nước và thế giới trong hoàn cảnh mới, các xu hướng trong
phong trào đấu tranh yêu nước ở Nam Bộ không ngừng nở rộ, điểm thêm những nét vẽ sinh động cho
bức tranh lịch sử bi tráng nhưng cũng thật đáng tự hào của dân tộc Việt Nam.
1.2 Các phong trào yêu nước chống Pháp trước khi có sự lãnh đạo của Đảng ở Nam Bộ
1.2.1 Các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp theo xu hướng phong kiến: Phong trào
Hội kín Nam Kỳ
Bước vào những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã cơ bản bình định xong và thiết lập được
dấu hiệu riêng để liên lạc...) chỉ giữ vai trò trong việc tổ chức hội viên và tuyên truyền cho dân chúng.
“Tuy các hội kín chịu nhiều ảnh hưởng của thầy chùa (Phật), thầy pháp (Đạo), nhưng trong hội kín,
trong các cuộc trực tiếp hành động khởi nghĩa thì hoàn toàn không có thầy chùa, thầy pháp nào hết.
Cộng tất cả các vụ bị bắt năm 1916, chỉ phát hiện thấy hai thầy pháp trong hội kín toàn Nam Kỳ, còn
thầy chùa thì chỉ can dự ở cấp lãnh đạo bên trên thôi. Lực lượng hội kín là lực lượng của người dân
thường, người thế tục”. [33, tr 569]
Nghĩa quân của các hội này có chừng vài trăm người được vũ trang bằng gậy gộc, giáo mác đã tiến
hành đánh phá các trụ sở mộ lính, phá nhà giam, bắt giết bọn quan lại tay sai gian ác. Thực dân Pháp e
ngại hội kín, những kẻ cường hào ác bá cũng sợ hãi mà không dám hung hăng. Sức mạnh thực sự của
hội kín không phải chỉ nằm ở bản thân số hội viên hội kín, mà trong những trường hợp cụ thể, khi trực
tiếp đấu tranh, các hội kín có thể và thực sự đã huy động, lôi kéo được một bộ phận quần chúng, đặc
biệt là tầng lớp dân lao khổ.
Trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ XX đến những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất, các hội
kín Nam Kỳ thực hiện được hàng loạt những hoạt động yêu nước có tiếng vang lớn, trong đó tiêu biểu
là việc phát động phong trào đấu tranh chống chính sách động viên của thực dân Pháp và cuộc đột nhập
phá Khám Lớn ở Sài Gòn.
Trước hết, về phong trào chống chính sách động viên. Từ cuối năm 1915 đầu 1916, trong bối cảnh
thực dân Pháp tăng cường hoạt động vơ vét sức người sức của để đổ vào cuộc chiến tranh đế quốc, các
hội kín ở Nam Bộ ngày càng hoạt động mạnh mẽ để chống lại chính sách đó. Các cuộc xung đột vũ
trang đã lẻ tẻ nổ ra ở một số nơi.
Cuối tháng 1/1916, các hội kín ở Trà Vinh tổ chức bạo động, công khai chống chính sách mộ lính
của thực dân Pháp. Cũng trong thời gian này, các hội kín ở Biên Hòa cũng vũ trang nổi dậy, nhà ngục
Biên Hòa bị phá.
Tháng 2/1916, nhóm hội kín của Vương Văn Lê, Nguyễn Văn Thạch, Lê Văn Hà nổi lên ở Tây
Ninh, nhóm hội kín Nguyễn Văn Huệ tấn công Ô Cấp - Bà Rịa. Ngoài ra còn có một số cuộc nổi dậy ở
những nơi khác.
Các cuộc tấn công lan rộng, nhưng lực lượng các hội kín rất yếu, vũ khí chủ yếu chỉ là gậy gộc,
súng đạn rất ít, lại tin vào bùa phép nên thực dân Pháp dễ dàng đàn áp. Phong trào cuối cùng đành tạm