luận văn thạc sĩ Tư tưởng hồ chí minh về xây dựng đảng “là đạo đức, là văn minh - Pdf 38

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 80 năm qua, bằng thực tiễn vẻ vang và sinh động, Đảng Cộng sản Việt
Nam đã trở thành nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt
Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ
xã hội trên phạm vi thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
"Đảng ta là đạo đức, là văn minh,
Là thống nhất, độc lập, là hòa bình, ấm no!”1.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo: “Một
dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn,
không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi,
nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân" 2. Theo Người,
Đảng phải được xây dựng “là đạo đức, là văn minh”, trở thành “đội tiên phong
dũng cảm và bộ tham mưu sáng suốt của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động
và của cả dân tộc”3 để lãnh đạo thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ của cách
mạng trong điều kiện “giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”.
Đó là yêu cầu tự thân, là phương thức tồn tại của Đảng; là mong mỏi của nhân
dân; là yêu cầu của sự nghiệp cách mạng; là nghĩa cử thiêng liêng đối với thế hệ
đi trước.
Sự nghiệp đổi mới đất nước là thử thách lớn đối với Đảng. Nó không chỉ
diễn ra từ sự thúc bách của thực tiễn khủng hoảng, mà còn từ trăn trở trọng trách
của Đảng đối với tiền đồ cách mạng. Với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn
và có ý nghĩa lịch sử, song vẫn còn không ít khó khăn, thử thách, nguy cơ. Phát
huy thành tựu, triệt tiêu khó khăn, vượt qua thử thách, loại trừ nguy cơ là yêu cầu
1

Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb. CTQG, H, 2000, tr. 2.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb. CTQG, H, 2000, tr. 557.
3
Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 11, Nxb. CTQG, H, 2000, tr. 493-494.

2

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H, tr.262.
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H, tr. 268.

2


Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn
minh” và vận dụng tư tưởng đó trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở nước ta hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trình bày có hệ thống những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh
về xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh”.
Phân tích quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh về xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh” trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa - thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh
nghiệm. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng
Đảng “là đạo đức, là văn minh”.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh” được
thể hiện qua các bài nói, bài viết và hoạt động thực tiễn cách mạng của Người.
Quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng “là đạo
đức, là văn minh” của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây
dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh”.
Nghiên cứu quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng Hồ

1.1.1. Đạo đức
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm hệ thống những
quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội. Nó ra đời, tồn
tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội. Nhờ đó, con người tự giác điều chỉnh hành vi
của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội
trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội.
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, tương ứng với các hình thái kinh tế - xã hội
chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa là đạo đức chiếm hữu nô lệ, đạo đức
phong kiến, đạo đức tư bản chủ nghĩa. Trong thời đại ngày nay, đạo đức mới là đạo
đức cộng sản chủ nghĩa. Đó là một trong những biểu hiện của sự thống nhất tư tưởng chính trị và đạo đức của xã hội xã hội chủ nghĩa. Đạo đức cộng sản chủ nghĩa là bước
tiến bộ toàn diện của đạo đức. Nó khác với tất cả những nền đạo đức đã có trong xã
hội đối kháng giai cấp ở chỗ đây là lần đầu tiên và cuối cùng đạo đức của số đông giai
cấp lao động trở thành đạo đức cách mạng và chiếm địa vị thống trị trong đời sống đạo
đức của xã hội. Theo Lênin, đạo đức mới là những gì góp phần đoàn kết tất cả những
người lao động xung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới - xã hội cộng
sản chủ nghĩa. Các lý tưởng và nguyên tắc đạo đức cộng sản là cơ sở để các đảng
mácxít và chính quyền nhà nước vô sản hoạch định chiến lược, sách lược, chính sách
kinh tế, chính sách văn hóa - tư tưởng. Đạo đức cộng sản được xem vừa là mục tiêu,
vừa là động lực của cuộc đấu tranh mà giai cấp vô sản tiến hành.

5


Hồ Chí Minh quan tâm sâu sắc đến đạo đức. Toàn bộ sự nghiệp cách mạng
của Người gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển đạo đức cách mạng. Theo
Người, nói một cách ngắn gọn nhất, khái quát nhất thì có thể định nghĩa:
“Đạo đức cách mạng là: Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách
mạng. Đó là điều chủ chốt nhất.
Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật Đảng, thực hiện tốt đường lối,
chính sách của Đảng.



nó phải đánh thắng và tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân” 1. Đạo đức cách mạng là nền
tảng của người cách mạng trong cuộc đấu tranh phức tạp, lâu dài, gian khổ để
cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới.
- Đạo đức cách mạng biểu hiện trong mối quan hệ giữa người cán bộ,
đảng viên, giữa Đảng với nhân dân. Hồ Chí Minh viết: “Đạo đức cách mạng là
hòa mình với quần chúng thành một khối, tin vào quần chúng, hiểu quần chúng,
lắng nghe ý kiến của quần chúng... làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đoàn kết
quần chúng... tổ chức, tuyên truyền và động viên quần chúng thực hiện chính
sách và nghị quyết của Đảng”.
- Đạo đức cách mạng biểu hiện hết sức sinh động và toàn diện tới mọi đối
tượng (từ công nhân, nông dân đến trí thức, văn nghệ sĩ; từ các cụ phụ lão đến
các cháu nhi đồng; từ đồng bào các dân tộc đến đồng bào các tôn giáo, các nhà
tu hành; từ cán bộ, đảng viên đến chiến sĩ...); trên mọi lĩnh vực (sinh hoạt, học
tập, rèn luyện, lao động sản xuất, chiến đấu, lãnh đạo, quản lý...); trên mọi phạm
vi (từ hẹp đến rộng, từ gia đình đến xã hội, từ giai cấp đến dân tộc, từ vùng miền, địa phương đến cả nước, từ quốc gia đến quốc tế...); trên tất cả các mối
quan hệ chủ yếu của con người (đối với mình, đối với người, đối với việc...)
Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò, ý nghĩa của đạo đức cách mạng. Người xem
đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng của người cách mạng. “Sức có mạnh mới
gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm
nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. “Cũng như sông
có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có
gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài
giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”2.
Đạo đức cách mạng là gốc của Đảng cách mạng. Không có đạo đức cách
mạng, Đảng không có đảng viên cách mạng, không có quần chúng cách mạng để tồn
tại và hoạt động. Đạo đức cách mạng quyết định sức mạnh của Đảng trong thực hiện
1


điển Từ và ngữ Hán Việt của giáo sư Nguyễn Lân do Nhà xuất bản Văn học, Hà
Nội, ấn hành năm 2007 cũng ghi 3 cách hiểu: Trình độ phát triển khá cao của nền
văn hóa về tinh thần và vật chất trong xã hội loài người; cuộc sống cao đẹp đã xa
thời dã man, mông muội; có trình độ văn hóa cao. Theo Trần Ngọc Thêm, văn
minh là trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật chất, đặc
trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại hoặc cả nhân loại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp nêu khái niệm văn minh nhưng sự
quan tâm sâu sắc của Người trong đấu tranh chống chiêu bài “khai hóa văn minh”

8


của chủ nghĩa thực dân đế quốc và trong xây dựng xã hội mới mang lại những quan
niệm về văn minh. Các quan niệm này được đưa ra trên cơ sở mục đích hướng đến
ở từng thời điểm, đối với từng đối tượng nên mang tính đa dạng. Về cơ bản, bước
đầu có thể tiếp cận quan niệm về văn minh của Hồ Chí Minh qua các lăng kính sau:
- Văn minh được hiểu đồng nghĩa với văn hóa.
Hồ Chí Minh nêu định nghĩa về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục
đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết,
đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho
sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những
sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi
phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra
nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”1.
Hồ Chí Minh quan tâm sâu sắc đến xây dựng một nền văn hóa mới, đứng ở
đỉnh cao của truyền thống văn hóa dân tộc và tiến trình phát triển văn hóa nhân
loại - Văn hóa cộng sản chủ nghĩa. Hiểu văn minh là nền văn hóa ở tầm cao thì đó
là nền văn hóa mà Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng. Người xem những yếu tố
của nền văn hóa mới như là tiêu chí của một xã hội văn minh. Đạo đức mới - đạo
đức cách mạng là thành tố quan trọng của văn hóa mới. Người xem đạo đức là

bản thực dân luôn luôn trang điểm cho cái huy chương mục nát của nó bằng những
châm ngôn lý tưởng: Bác ái, Bình đẳng,…”1.
Từ tư tưởng và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh trong đấu tranh
chống chiêu bài “khai hóa văn minh” cho thấy văn minh có ở những khẩu hiệu
mà chủ nghĩa thực dân đế quốc lợi dụng giương cao; văn minh là sự tương phản
hoàn toàn với hành động xâm lược và thống trị thuộc địa của chủ nghĩa thực dân
đế quốc. Sự tôn trọng, công lý, bác ái, bình đẳng, giá trị con người, nhu cầu phát
triển... là những tiêu chí của văn minh.
- Hồ Chí Minh quan niệm về văn minh trên cả phương diện vật chất và
tinh thần.
Trong điều kiện một nước thuộc địa nửa phong kiến tiến hành cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh nhận
thức sự cần thiết phải không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho

1

Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, Nxb. CTQG, H, 2000, tr. 76.

10


nhân dân. Xây dựng “xã hội ngày càng tiến bộ, vật chất ngày càng tăng, tinh
thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”2.
Hồ Chí Minh xem nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ là xây dựng nền tảng
vật chất - kỹ thuật, các tiền đề kinh tế, chính trị, văn hóa - tư tưởng cho chủ nghĩa xã
hội. Trong đó, công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm nhằm đảm
bảo đời sống sung sướng mãi mãi cho nhân dân, cụ thể và trước hết là thỏa mãn nhu
cầu kinh tế - vật chất của chủ nghĩa xã hội, sau đó là tiền đề cho sự thỏa mãn các nhu
cầu văn hóa - tinh thần. Tiến bộ về vật chất trong mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã
hội - xã hội văn minh trong tương lai - là mục đích công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ nhu cầu đời sống và đòi hỏi sinh tồn của
dân tộc, là kết quả của những sáng tạo văn hóa diễn ra tất yếu trong bối cảnh nửa
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là giai đoạn mà vấn đề đạo
đức, văn minh trở thành quan tâm chung của cả dân tộc. Chế độ phong kiến tồn
tại hàng ngàn năm đến giai đoạn lạc hậu tột độ, ngăn trở tiến lên giai đoạn văn
minh cao hơn vốn đã diễn ra ở nhiều khu vực trên thế giới - văn minh công
nghiệp. Chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình nhà Nguyễn là điển hình cho
tính chất phản động, lạc hậu của nền quân chủ. Bánh xe văn minh nhân loại vẫn
lăn trên đất nước ta, dù bằng cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.
Những biểu hiện bạc nhược của triều đình nhà Nguyễn trong chống ngoại xâm,
cũng như sự cấu kết sau khi thực dân Pháp thiết lập ách thống trị, một mặt cho
thấy nền quân chủ không còn đủ tư cách đại diện cho dân tộc, mặt khác đặt ra
yêu cầu về một lực lượng lãnh đạo mới.
Thực dân Pháp thống trị vô cùng tàn bạo, biến nước ta từ một nước phong
kiến độc lập thành một nước thuộc địa nửa phong kiến.
Về chính trị, thực dân Pháp thực hiện chính sách “chia để trị”, dùng
người Việt trị người Việt, nhằm phá hoại khối đoàn kết của nhân dân, sự thống
nhất lãnh thổ của đất nước. Nền độc lập dân tộc, sự thống nhất Tổ quốc là “lẽ
sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống” cao nhất của dân tộc ta. Truyền thống
dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc cũng từ nguyên tắc đó mà có. Văn
hóa cao nhất là văn hóa giữ nước, giữ vững sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
của dân tộc. Đó cũng là yêu cầu, giá trị đạo đức cao nhất của nhân dân ta. Xét

12


chính sách cai trị về chính trị, thực dân Pháp và tay sai phong kiến nhà Nguyễn
vi phạm nghiêm trọng truyền thống văn hóa, đạo đức của dân tộc.
Về kinh tế, bản chất phi văn minh, đạo đức thể hiện ở sự duy trì phương thức

xuất hiện đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử dân tộc, gánh vác sứ mệnh
dẫn dắt nhân dân đoàn kết đứng lên đấu tranh tự giải phóng khỏi cuộc đời nô lệ,
giành lấy chủ quyền. Đảng tự nguyện nhận làm bộ tham mưu tối cao và đội tiền
phong dũng cảm trong cuộc đấu tranh ấy của nhân dân. Chỉ khi Đảng Cộng sản
ra đời, sau đó với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, lẽ sinh tồn và
mục đích của cuộc sống của dân tộc mới được đáp ứng. Cũng chỉ khi cách mạng
đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, dân tộc ta mới hòa vào dòng chảy phát
triển của văn minh nhân loại và góp phần vào xu thế đó. Đảng ra đời từ nhu cầu
văn hóa và đáp ứng tiêu chí tiến bộ, nhân văn của yêu cầu.
1.1.3.2. Đảng là sản phẩm hợp thành của các yếu tố mang giá trị đạo đức,
văn minh
Khái quát quy luật đặc thù ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh
viết: "Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu
nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930" 1.
Đó là sự kết hợp các giá trị đạo đức, văn minh.
- Chủ nghĩa Mác - Lênin:
Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống có căn cứ khoa học của các quan
điểm triết học, kinh tế, chính trị - xã hội; học thuyết về nhận thức và cải tạo thế
giới, về những quy luật phát triển của xã hội, tự nhiên và tư duy con người, về
những con đường cách mạng lật đổ chế độ bóc lột và xây dựng chủ nghĩa cộng
sản; thế giới quan của giai cấp công nhân và đội tiên phong của nó là các đảng
cộng sản và công nhân.
Xét dưới giác độ đạo đức, văn minh, Hồ Chí Minh nhận định về chủ nghĩa
Mác - Lênin như sau:
Thứ nhất, chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận khoa học trên nhiều lĩnh vực. Hồ
Chí Minh đồng tình với quan niệm của Ăngghen: "Lý luận là sự tổng kết những
kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích
trữ lại trong quá trình lịch sử. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là sự tổng kết kinh
1


cấp gắn liền giải phóng bản thân với giải phóng nhân loại. Đây là môi trường
hiện thực của chủ nghĩa Mác - Lênin, tiền đề thực tiễn của các Đảng Cộng sản.
Phong trào công nhân Việt Nam là phong trào cách mạng xuất phát từ thực
tiễn, là hoạt động của công nhân với tính cách là một giai cấp. Tính chất của phong
trào đó xuất phát từ bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã chỉ ra: “Đặc tính cách mạng của giai cấp công nhân là: kiên quyết, triệt để,
tập thể, có tổ chức, có kỷ luật”1; “dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn gan góc
1

Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, Nxb. CTQG, H, 2000, tr. 212.

16


đương đầu với bọn đế quốc thực dân”. Phong trào công nhân có sức lôi cuốn, quyết
định chiều hướng phát triển của phong trào dân tộc theo tư tưởng cách mạng vô sản.
Sau khi Đảng ra đời, phong trào công nhân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, hòa
chung trong dòng chảy đấu tranh của toàn dân tộc và nhân loại tiến bộ, vì mục tiêu
giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
Từ bản chất của giai cấp chủ thể và sự thể hiện trong thực tiễn, phong trào
công nhân nói chung, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam nói
riêng, là phong trào cách mạng mang giá trị đạo đức và văn minh.
- Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam:
Lênin nêu luận điểm Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa
Mác với phong trào công nhân. Trên bình diện văn hóa, đó là sự kết hợp tri thức
văn hóa cao với khát vọng và hành vi sôi sục mang tính nhân văn sâu đậm của nhân
dân. Do vậy, Đảng cũng là một biểu trưng của văn hóa, nhưng là biểu trưng của
văn hóa cao - văn minh, của văn hóa nhân văn - đạo đức.
Xuất phát từ tình hình một nước thuộc địa nửa phong kiến, Hồ Chí Minh
nhận thấy sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam nếu chỉ kết hợp chủ nghĩa Mác

quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của giai cấp bộ phận
đến vạn năm cũng không đòi lại được. Do có đường lối đúng đắn, Đảng đã huy
động được lực lượng đông đảo của toàn dân tộc, kết hợp được sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại để đưa cách mạng đến thắng lợi.
Sứ mệnh của Đảng sau khi lãnh đạo giành lại được độc lập cho dân tộc
cũng rất nặng nề và vẻ vang. Đó là lãnh đạo phát triển đất nước về mọi mặt, cả
kinh tế và văn hóa, đời sống vật chất và đời sống tinh thần, thúc đẩy tiến bộ và
công bằng xã hội, hướng đến giải phóng triệt để con người. Trong phiên họp đầu
tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời (03-9-1945), Hồ Chí Minh nêu những
nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Giải quyết nạn
đói, nạn dốt; tổ chức Tổng tuyển cử; giáo dục tinh thần nhân dân bằng cách thực
hiện: cần, kiệm, liêm, chính; bỏ những thứ thuế vô nhân đạo (thuế thân, thuế
chợ, thuế đò); cấm hút thuốc phiện và đề nghị Chính phủ ra tuyên bố tự do tín
ngưỡng, lương - giáo đoàn kết. Sau kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi
Người nói: Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát
nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm được ấm no và sống một
đời hạnh phúc. Mục tiêu cuối cùng của xây dựng chủ nghĩa xã hội là con người
được giải phóng và phát triển toàn diện. Nó phù hợp với những quy luật phát
triển của xã hội, phù hợp với lòng dân.
Với tư cách là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành
cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc, vừa là người lãnh
đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, Đảng là một tổ chức chiến
đấu cách mạng, kiên trì cải tạo xã hội cũ, phá bỏ mọi lạc hậu; nhân danh chính
nghĩa và vì chính nghĩa mà chống phi nghĩa, chống mọi biểu hiện của cái ác. Mục
tiêu chủ yếu của Đảng là kiến tạo và dựng xây một xã hội mới tốt đẹp, nhân đạo
hoàn bị tiến tới nền văn minh mới - văn minh cộng sản chủ nghĩa. Vì vậy, bản thân

21



Đảng luôn ý thức được: Điều kiện để đảm bảo cho tính tất yếu lịch sử
của vai trò cầm quyền và lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam là luôn
luôn đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Chỉ có luôn đổi mới và chỉnh đốn, Đảng mới
theo kịp dòng chảy văn minh dân tộc và nhân loại. Thông qua đổi mới và tự
chỉnh đốn, Đảng loại trừ những yếu tố lạc hậu, bổ sung nguồn lực mới, làm giàu
và phát triển lên nội lực đang có.
Tóm lại, Đảng ta là đạo đức, là văn minh vì trong bản thân Đảng và trong
mọi hoạt động của Đảng, đạo đức văn minh luôn là giá trị mang tính bao trùm,
xuyên suốt, chi phối.

24


1.2. Tính tất yếu của xây dựng Đảng «Đảng là đạo đức, là văn minh »
Vận dụng học thuyết Mác - Lênin về xây dựng Đảng trong điều kiện cụ
thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về tính tất yếu của xây dựng Đảng
"là đạo đức, là văn minh" như sau:
1.2.1. Xuất phát từ vị trí, vai trò, phương thức tồn tại của Đảng
Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân
dân. Để nhân dân ta biết tự giác, đoàn kết, tập trung lực lượng, “đem sức ta mà
giải phóng cho ta”, Người đặt vấn đề: “Cách mạng trước hết phải có gì?
Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân
chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng
có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền
mới chạy”1.
Sự lãnh đạo của Đảng là tất yếu và có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của
cách mạng Việt Nam. Cách mạng là môi trường sống của Đảng. Vai trò lãnh đạo
cách mạng của Đảng, yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng đối với Đảng đồng thời
đặt ra yêu cầu phải xây dựng Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy, xây dựng và
chỉnh đốn Đảng vừa là để đảm bảo giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa giúp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status