Mở đầu
Lý do chọn đề tài
Nhân dân thế giới gọi chủ tịch Hồ Chí Minh là một vĩ nhân mà lịch sử
loài ngời đã sinh ra.
Trong cuộc sống của chúng ta, thời đại nào cũng có những con ngời vĩ
đại, những con ngời kỳ diệu ít có, nh Chủ tịch Hồ Chí Minh là một con ngời vĩ
đại nổi bật nhất trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Các cháu Lào cũng gọi
nh vậy.
Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo xây dựng đảng Cộng Sản Việt Nam
thành một Đảng Mácxít - Lêninnít đoàn kết, thống nhất, vững mạnh về chính
trị, t tởng và tổ chức. Ngời luôn chăm lo xây dựng, huấn luyện đội ngũ cán bộ,
đảng viên trong sạch vững mạnh. Trong đó bài "Sửa đổi lối làm việc" là một
tác phẩm, một văn kiện quan trọng về xây dựng Đảng. Ngời đã nghiêm khắc
chỉ ra phê phán những sai lầm, khuyết điểm của một số cán bộ, đảng viên có
hại cho sự nghiệp chung của Đảng, nh bè phái, địa phơng, hẹp hòi, vô tổ chức,
vô kỷ luật. Ngời đặc biệt, chú trọng giáo dục cán bộ, đảng viên về t cách đạo
đức cách mạng, về phơng pháp, cách thức vận động tổ chức quần chúng, nhất
là tinh thần tự phê bình và phê bình. Ngời chỉ rõ : "Một đảng mà giấu diếm
khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết
điểm của mình, vạch rõ những cái đó vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ
hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm cách để sửa chữa khuyết điểm đó.
Nh thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính"
Ngày nay, trớc yêu cầu mới ngày càng cao, trong thời kỳ tiếp tục đổi
mới, đẩy mạnh cộng nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, sự vận dụng đúng đắn,
muốn kế thừa và sáng tạo t tởng Hồ Chí Minh cũng nh chủ nghĩa Mác-Lênin
càng trở nên quan trọng và trở thành nhiệm vụ then chốt của công tác tổ chức
- cán bộ là cần thiết bao giờ hết để quyết định sự thành công hay thất bại sự
nghiệp cách mạng đó.
Do vốn hiểu biết của chính bản thân mình có hạn và thời gian ngắn,
đồng thời công tác cán bộ cũng là một vấn đề rất rộng, rất quan trọng đối với
sự nghiệp cách mạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, cho nên sẽ gặp
trọng đến công tác xây dựng đảng và cuối cùng là trong bài " Di chúc" của
Ngời.
2. Cơ sở thực tiễn:
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ do Đảng lãnh
đạo đã giành đợc thắng lợi, song sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ trên
phạm vi cả nớc vẫn cha hoàn thành. Miền Bắc đợc hoàn toàn giải phóng, song
miền Nam vẫn còn dới ách thống trị của thực dân và tay sai.
Đứng trớc những biến đổi phức tạp nêu trên, lịch sử lại đặt cho Đảng ta
một yêu cầu bức thiết là phải vạch ra đờng lối chiến lợc đúng đắn để đa cách
mạng Việt Nam tiến lên phù hợp với tình hình mới của đất nớc và phù hợp với
xu thế phát triển chung của thời đại.
Chủ trơng đa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục thực
hiện cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ III và Hội nghị lần mời ba Ban chấp hành Trung ơng Đảng đã đánh giá
thắng lợi về khôi phục kinh tế và đề ra nhiệm vụ soạn thảo đờng lối cách
2
mạng trong giai đoạn mới. Hội nghị xác định cải tạo kinh tế cá thể của nông
dân, thợ thủ công và buôn bán nhỏ, t bản t doanh, chuyển sở hữu cá thể về t
liệu sản xuất thành sở hữu tập thể xã hội chủ nghĩa dới hai hình thức toàn dân
và tập thể. Lấy cải tạo làm trọng tâm nhằm phát triển kinh tế, văn hoá, cải
thiện đời sống nhân dân, củng cố chế độ dân chủ nhân dân. Xây dựng, củng
cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thống nhất nớc nhà.
Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào và cán bộ chiến sĩ cả nớc: Trung, Nam, Bắc đều là bờ cõi của ta, nớc ta nhất định sẽ thống nhất,
đồng bào cả nớc nhất định đợc giải phóng. (Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd 2002, t.7. tr322)
Lực lợng cách mạng đó là các Đảng bộ miền Nam đợc tôi luyện thành
cán bộ tham mu dày dạn trên tiền tuyến lớn, là khối liên minh công- nông đợc
Đảng dày công xây đắt trong quá trình cách mạng dân tộc dân chủ, là đội
quân chính trị quần chúng và lực lợng vũ trang nhân dân.
có giai cấp, đội ngũ cán bộ đợc hình thành theo quan điểm, mục đích của giai
cấp cầm quyền. Còn ở các nớc xã hội chủ nghĩa, cán bộ phải là trung thành
với Đảng, Nhà nớc, lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả
dân tộc. Cho nên cán bộ và công tác cán bộ là một trong những vấn đề có tầm
quan trọng quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của giai cấp công
nhân. Vì thế cán bộ mối ngời, ở cơ quan nào, địa phơng nào đều là cán bộ
trung thực của Đảng, Nhà nớc, tích cực góp phần vào sự nghiệp xây dựng, giữ
gìn, bảo vệ Tổ quốc, cụ thể hoá ,phát triển và tổ chức thực hiện thắng lợi đờng
lối, chính sách của Đảng và Nhà nớc.
Theo nghị quyết số 03/NQ/HNTW ngày 18/06/1997 của Đảng cộng
sản Việt Nam viết "cán bộ là nhân tố quyết định thành bại của cách mạng, gắn
liền với vận mệch của Đảng và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây
dựng".
Hồ Chí Minh luôn luôn đặt cán bộ - tổ chức cán bộ ở vị trí đầu của mọi
công việc, có tính chất quyết định đối với sự nghiệp cách mạng, mọi cán bộ,
đảng viên không thể đứng ngoài sự quản lý của cơ quan nào. bởi lẽ, cán bộ là
nhân tố quyết định của tổ chức, cuộc sống của cán bộ là ở tổ chức nên cán bộ
là gắn chặt chẽ hữu cơ với tổ chức, tổ chức và cán bộ có mỗi quan hệ biện
chứng với nhau, không thể tách rời nhau. Hiện nay, cán bộ là một nghề, vừa
có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật cao.
Công tác cán bộ là toàn bộ quá trình những chính sách về lựa chọn, đào
tạo, bồi dỡng, bố trí đề bạt xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh.
Công tác cán bộ bao gồm nhiều khâu, nhiều mảng, từ việc xác định đờng lối, chính sách cán bộ đến vấn đề tiêu chuẩn, cơ cấu cán bộ, đến việc quy
hoạch, đào tạo, bồi dỡng, đánh giá, kiểm tra, bố trí, sử dụng, quản lý cán bộ
b. Vai trò của cán bộ:
Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nớc Viêt Nam đã xây
dựng đợc những đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý từ trung ơng đến cơ
sở có bản lĩnh chính trị vững vàng, quyết định mục tiêu, con đờng mà Đảng và
Bác Hồ kính yêu và nhân dân đã lựa chọn, năng động sáng tạo hăng hái thực
hiện đờng lối, chủ trơng chính sách của Đảng và Nhà nớc; góp phần tích cực
thực hiện chính sách tiền lơng và chế độ đãi ngộ khác đối với cán bộ.
- Thúc đẩy cán bộ, công chức trong cơ quan Đảng, đoàn thể, chính trị
xã hội học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng,
năng lực và hiệu quả công tác, hoàn thành tốt nghĩa vụ, sử dụng quyền hạn đợc giao theo quy định của pháp lệch cán bộ, công chức.
- Có tinh thần yêu nớc sâu sắc, tận tuỵ phục vụ nhân dân, kiên định độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có hiệu quả đờng lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nớc.
- Cần kiệm liêm, chí công vô t, không tham nhũng và kiên quyết đấu
tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực , không cơ hội,
gắn bó mật thiết với nhân dân, đợc nhân dân tín nhiệm.
5
- Có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ các cấp chuyên viên, theo trình tự
từ thấp đến cao, mức độ phức tạp của công việc.
Tiêu chuẩn của cán bộ là sự thể hiện yêu cầu về phẩm chất và năng lực
để hoàn thành nhiệm vụ, phải luôn luôn đợc bổ sung, cụ thể hoá phù hợp với
từng giai đoạn phát triển của cách mạng.
Những tiêu chuẩn đợc nêu trên có quan hệ mật thiết với nhau đợc coi
trọng đức và tài, trong đó đức là gốc.
2.2. Những tiêu chuẩn riêng của từng loại cán bộ.
Đối với từng loại cán bộ cụ thể, phải đảm bảo tiêu chuẩn chung để đạt
đợc những yêu cầu riêng và trình độ của từng loại cấp cán bộ.
+ Đối với cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nớc, đoàn thể nhân dân, ngoài
tiêu chuẩn trên cần phải:
- Có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trờng giai cấp công
nhân, tuyệt đối trung thành với lý tởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác - Lênin
và t tởng Hồ Chí Minh. Có khả năng dự báo và định hớng sự phát triển, tổng
kết thực tiễn, tham gia xây dựng đờng lối, chính sách, pháp luật; thuyết phục
đức, cần kiệm liêm chính , không lợi dụng chức quyền để tham ô, lãng phí xa hoa.
- Có kiến thức về kinh tế thị trờng và quản trị doanh nghiệp, hiểu biết
khoa học, công nghệ , pháp luật và thông lệ quốc tế.
- Có khả năng tổ chức kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế-xã hội.
+ Đối với cán bộ tham mu cần phải:
- Có t duy độc lập, khả năng phân tích tổng hợp vấn đề tốt .
- Am hiểu thực tế, có ý thực là kinh nghiệm sâu thuộc lĩnh vực làm
tham mu.
- Biết lắng nghe những ý kiến khác nhau, phân biệt những ý kiến đúng,
sai và tuân theo ý kiến đúng.
Mỗi loại cán bộ, đảng viên đợc nêu trên khi dùng ngời, Đảng và Nhà nớc luôn khuyến khích và trọng dùng nhân tài. Coi trọng cả đức và tài, trong đó
đức là gốc. Cán bộ lãnh đạo và quản lý, phải đạt đợc những yêu cầu về phẩm
chất chính trị, đạo đức cách mạng, kiến thức, năng lực hoạt động, hiệu quả
thực tế nh:
+ Về phẩm chất chính trị: Đây là tiêu chuẩn hàng đầu của cán bộ lãnh
đạo phải có, lập trờng chính trị, kiên định và quyết tâm thực hiện thắng lợi sự
nghiệp đổi mới; kiên quyết đấu tranh bảo vệ đờng lối, quan điểm của Đảng.
+ Về đạo đức cách mạng: là cán bộ lãnh đạo phải có đạo đức cách
mạng, cần kiện liêm chính, chí công vô t, có ý thức tổ chức kỷ luật, giữ gìn
đoàn kết trong Đảng, trong tổ chức, gắn bó với quần chúng.
+ Về kiến thức và năng lực chuyên môn: là mỗi chức danh cán bộ lãnh
đạo đòi hỏi phải có kiến thức và năng lực thực tiễn nh: có trình độ hiểu biết,
tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn, phát huy có sáng kiến đề xuất về chính sách,
chủ trơng, kỷ luật, nghiệp vụ chuyên môn.
+ Về hiệu quả công tác: là đánh giá hiệu quả công tác cán bộ, căn cứ
vào chức trách, nhiệm vụ đợc giao, đánh kết quả thực hiện các mục tiêu nhiệm
vụ về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, xây dựng đảng- tổ chức đảng,
chính quyền, đoàn thể, nội bộ đoàn kết, xây dựng, bồi dỡng, cán bộ đáp ứng
yêu cầu trớc mắt và lâu dài của cơ quan, đơn vị, địa phơng mình phụ trách.
2.3. Quy trình xây dựng tiêu chuẩn cán bộ:
cho từng ngành, từng địa phơng, cơ quan, đơn vị và trên phạm vi cả nớc. Nh
vậy, quy hoạch cán bộ ở chiến lợc cán bộ và kế hoạch cán bộ. Chiến lợc cán
bộ đề cập đến những quan điểm, phơng châm và phơng hớng có tính toàn cục;
xác định mục tiêu chủ yếu và sắp xếp lực lợng trong suốt cả một thời kỳ. Có
quy hoạch rồi xây dựng kế hoạch cán bộ. Kế hoạch là toàn bộ những điều
vạch ra một cách hệ thống về nội dung, những công việc dự định làm trong
một thời gian nhất định với những cách thức, trình tự và thời hạn tiến hành
cụ thể.
Hội nghị Trung ơng 3 khoá VIII khẳng định: Quy hoạch cán
bộ là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, đảm bảo cho công tác cán
8
bộ đi vào nền nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trớc mắt và
lâu dài.
Nh vây, quy hoạch bao hàm mấy điểm sau:
- Nội dung thứ nhất là lập dự án thiết kế xây dng tổng hợp đôi ngũ cán bộ.
- Xác định mục tiêu của quy hoạch. Đây là tuỳ thuộc phạm vi, tính chất
của từng loại quy hoạch cán bộ mà mục tiêu sẽ khác nhau. Đối tợng, yêu cầu
của từng cấp, từng ngành.
- Quán triệt cơ cấu cán bộ trong quy hoạch cán bộ, khảo sát, đánh giá
thực trạng nh: cơ cấu độ tuổi, giới tính, cơ cấu giai cấp đợc thể hiện trong quy
hoạch cán bộ một cách hợp lý.
- Tiêu chuẩn hoá các chức danh cán bộ thuộc diện quy hoạch, đánh giá,
lựa chọn để quy hoạch đúng, mới đào tạo theo tiêu chuẩn và phấn đấu theo
tiêu chuẩn.
- Xác định nguồn cán bộ và con đờng hình thành cán bộ trong quy
hoạch, xác lập, thảo luận, phân tích và qua các phơng án cán bộ dự nguồn.
- Thực trạng quy hoạch đội ngũ cán bộ bao gồm: quản lý đội ngũ cán
bộ trong quy hoạch cán bộ; xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dỡng,
nớc phải lựa chọn để phù hợp với nhu cầu của cơ quan đó. Cho nên lựa chọn
cán bộ là nhằm tìm kiếm, phát hiện cán bộ có đức, có tài để bố trí, bổ nhiệm,
sử dụng cán bộ. Lựa chọn cán bộ đảm bảo chọn đúng ngời vì công việc và tổ
chức, gắn liền với công tác quy hoạch của ngành, mỗi địa phơng. Tuỳ loại cán
bộ mà lập hội đồng thi tuyển ngành hoặc địa phơng để lựa chọn cán bộ.
5.2. Bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ.
Bổ nhiệm là để thực hiện chủ trơng của Đảng, Nhà nớc về công tác cán
bộ, khi đã hết hạn bổ nhiệm thì nghỉ, trừ khi cấp thẩm quyền bổ nhiệm thêm.
Trong thời gian đảm nhiệm chức vụ, ngời nào có vấn đề nh: Sức khoẻ yếu,
hoàn cảnh khó khăn về gia đình, có sai phạm, uy tín giảm sút thì miễn chức.
Việc bổ nhiệm và miễn nhiệm cán bộ phải thực hiện đúng pháp luật của Nhà
nớc và điều lệ Đảng, đoàn thể.
5.3. Bố trí sử dụng cán bộ.
Bố trí sử dụng cán bộ là phải căn cứ vào yêu cầu công tác và sự đánh
giá cán bộ. Quán triệt quan điểm của giai cấp công nhân trong công tác cán
bộ để đoàn kết tập hợp rộng rãi cán bộ theo t tởng và phong cách của chủ tịch
Hồ Chí Minh. Khuyết khích và thu hút nhân tài của đất nớc ở tất cả các lĩnh
vực, các thành phần kinh tế xã hội để sử dụng cán bộ Hồ Chí Minh viết: "Mục
đích khéo dùng cán bộ, cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng, chính
phủ. Nếu cán bộ có ý hoang mang, sợ hãi, buồn sầu, uất ức, hoặc công tác
không hợp, chắc không thành công đợc"(HCM,toàn tập,nxbctqg,h 2000 tập 5). Giao việc
phải tơng ứng với năng lực và sức vơn lên của họ. Nếu nhiệm vụ quá nặng
hoặc không hợp sẽ dẫn đến hỏng việc, hỏng ngời. Ngợc lại, giao nhiệm vụ
thấp sẽ không phát huy đợc tiềm năng và sự phát triển của cán bộ Hồ Chí
Minh viết: " khi giao công tác cho cán bộ cần phải chỉ đạo rõ ràng, sắp đặt đầy
đủ. Vạch rõ những điểm chính, và những khó khăn có thể xảy ra. Những vấn
đề đã quyết định rồi, thả cho họ làm, khuyên gắng họ cứ cả gan mà làm mới
có thể phát hiện tài năng của họ". (HCM,toàn tập,nxbctqg,h 2000 tập 5.)
Việc bố trí sử dụng cán bộ trong cơ quan, đơn vị, địa phơng cần coi
rõ hết mọi khuyết điểm và tìm cách sửa chữa những khuyết điểm ấy. Nh thế,
thì cán bộ càng thêm trọng kỷ luật và lòng phụ trách. (HCM,toàn tập,nxbctqg,h 2000 tập 5.)
Chúng ta kiểm tra cán bộ về phẩm chất chính trị, đạo đức,lối sống, sự
hoàn thành của công tác đợc giao. Những khuyết điểm mà cán bộ, đảng viên
thờng mắc phải có nhiều nguyên nhân, nh có một nguyên nhân sâu xa đó là
bệch cán bộ chủ nghĩa. Mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, mỗi thời kỳ cách mạng
đều có những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa cá nhân. Đã là chủ nghĩa cá
nhân thì việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trớc. Do chủ nghĩa cá
nhân mà chỗ gian khổ là ngại, khó khăn là không muốn làm, từ đó sa vào
tham ô, tham nhũng, thoái hoá biến chất, ham danh lợi, thích địa vị, quyền
hành. Đặc biệt, là chủ nghĩa cá nhân dẫn đến mất đoàn kết, bè phái, thiếu tính
tổ chức, kỷ luật, thiếu tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đờng lối ,chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc. Hồ Chí Minh viết:" chủ nghĩa cá nhân
đẻ ra trăm thứ bệch nguy hiểm: quan liêu, mệch lệch, bè phái, chủ quan, tham
ô, lãng phí. Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những ngời này
bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân
mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân.Chủ nghĩa cá
nhân là kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Ngời cách mạng phải tiêu diệt
nó".(tạp chí Hà nội ngày nay 2002). Đây là bệch nguy hiểm Bác Hồ từng dạy, phải
13
kiên quyết tẩy sạch chủ nghĩa cá nhan trong Đảng. Cho nên công tác kiểm tra
trở thành việc thờng xuyên, hàng ngày.
6. Quản lý cán bộ.
Quản lý cán bộ là tất cả các việc của công tác tổ chức cán bộ nội dung
nh: tuyển chọn, bố trí, phân công tác, thực hiện quản lý, sử dụng, quy hoạch
đào tạo; bồi dỡng cán bộ; nhận xét đánh giá cán bộ, bổ nhiệm; miễn nhiệm
cán bộ; khen thởng cán bộ; kỷ luật cán bộ, thực hiện chính sách cán bộ; kiểm
14
- Nâng cao trách nhiệm của cán bộ, cơ quan giúp cấp uỷ quản lý cán
bộ. Trớc hết là phải trung thực, vừa có trách nhiệm với Đảng, vừa phải có
trách nhiệm với cá nhân mà mình chịu trách nhiệm tìm hiểu để giúp cấp uỷ
đánh giá chính xác. Kỷ luật nghiêm khắc cán bộ làm sai lệch thông tin về cán
bộ xuất phát từ động cơ cá nhân.
7. Những khuyết điểm sai lầm của cán bộ, đảng viên hiện nay.
Mỗi thời kỳ cách mạng nào cũng có hàng trăm bệch xuất hiện nguy
hiểm trong cán bộ, đảng viên của Đảng và Nhà nớc. Những khuyết điểm, sai
lầm mà cán bộ, đảng viên mà Hồ Chí Minh đề cập tới là chủ nghĩa cá nhân.
Trong bài viết những khuyết điểm điểm sai lầm, những bệch: Bệch tham lam,
bệch lời biếng, bệch kiêu ngạo, lãnh tụ và các bệch khác nh: bệch hữu danh,
vô thực, kéo bè, kéo cánh, bệch cận thị, bệch cá nhân, xu nịnh, a dua. Những
bệch (khuyết điểm) đợc nêu trên không chỉ có thời Hồ Chí Minh mà còn tồn
tại đến thời kỳ hiện nay. Trong thời kỳ Đảng và Nhà nớc Việt Nam đang tiến
hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu chung là độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội, mục tiêu cụ thể là phấn đấu để dân giàu, nớc mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Muốn thực hiện mục tiêu ấy thì phải
kiên quyết thực hiện tốt về công tác xây dựng đảng, coi công tác xây dựng
Đảng là nhiệm vụ then chốt, để đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới. Trong đó
cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề cốt lõi của sự thành công của mọi công
việc, Hồ Chí Minh viết: "cán bộ là gốc của mọi công việc; vì vậy, muốn huấn
luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng". Trong tổ chức, nhân tố quyết định
nhất, năng động nhất là con ngời. Con ngời là vua của vạn vật, con ngời có
khả năng phát triển vô hạn. Tuy nhiên, mỗi con ngời có năng lực và bản lĩnh
khác nhau. Việc phát hiện, phát huy năng lực con ngời là nhiệm vụ cực kỳ
quan trọng của công tác cán bộ. Muốn làm tốt công tác cán bộ, muốn khai
thác, phát huy tiềm năng, tài cực của mỗi ngời phải biết ngời, hiểu ngời, đối
triển u điểm trong đó loại trừ cho sạch là chủ nghĩa cá nhân Ngời viết: " Chủ
nghĩa cá nhân đẻ trăm thứ bệch nguy hiểm: quan liêu, mệch lệch, bè phái ,
chủ quan, tham ô, lãng phí. Nó trói buộc, nó bịt mắt, những nạn nhân của nó,
những ngời này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng ham muốn danh lợi, địa
vị, cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân.
Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội, ngời cách
mạng phải tiêu diệt nó". (HCM sđd tập 12,tr. 438)
Trong điều kiện hiện nay, đây là nhiệm vụ hết sức cấp bách và phải kiên
quyết làm bằng đợc để thực hiện lời dạy của Bác Hồ. Cần nghiêm khắc nhận
ra những khuyết điểm trong công tác quản lý cán bộ, đảng viên ở cơ quan và ở
nơi c trú. Nếu để một bộ phận nào đó trong đội ngũ cán bộ tổ chức h hỏng thì
đây sẽ là một kẽ hở rất lớn trong Đảng. Nên cần kiềm chế những biểu hiện
tiêu cực mà xã hội gọi là ( chạy chức, chạy quyền) trong hoạt động của hệ
thống tổ chức-cán bộ.
III. Sự vận dụng t tởng Hồ Chí Minh về công tác
cán bộ của Đảng hiện nay.
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi
Ngời đã thành lập Đảng đến cuối đời của Ngời đã luôn luôn chăm lo xây dựng
Đảng cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh trong 3 mặt: chính trị, t tởng
và tổ chức. Theo Hồ Chí Minh, muốn làm cách mạng trớc hết phải có đảng
16
cách mạng, Đảng có vững cách mạng mới thành công. Đảng muốn vững phải
có chủ nghĩa làm cốt, chủ nghĩa nh trí khôn của ngời, nh là bàn của con tàu.
Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, thu phục cho đợc đại đa số
nhân dân. Muốn vậy, Đảng phải trong sạch, vững mạnh về chính trị, t tởng và
tổ chức, kiên định mục tiêu, lý tởng; có đờng lối cách mạng đúng đắn; thực
hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; thực hành tự phê bình và phê bình; thực
hành sự nhất trí và mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện đạo đức
1 Giải pháp
1.1. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng.
Cán bộ lãnh đạo, quản lý là nhân tố quan trọng nhất đảm bảo vai trò
lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nớc, sự vững vàng của chế độ xã
hội chủ nghĩa.
Cán bộ lãnh đạo, quản lý là lãnh đạo về quan điểm, đờng lối, chính
sách, tiêu chuẩn cán bộ, bảo đảm cho những t tởng chỉ đạo đợc nhận thức,
quán triệt, chấp hành trong công tác cán bộ ở mọi ngành, mọi địa phơng trong
cả nớc.
1.2. Đào tạo cán bộ cấp cơ sở.
Hệ thống chính trị cấp cơ sở có vị trí rất quan trọng. Đây là cấp chấp
hành, là cầu nối trực tiếp giữa toàn bộ hệ thống chính trị với nhân dân.
Công tác cán bộ ở cấp cơ sở phải nâng cao chất lợng đào tạo và đánh
giá, sử dụng cán bộ cho đúng nghề đúng việc.
+ Làm tốt công tác quy hoạch cán bộ, tạo nguồn trên cơ sở điều tra, xác
định đúng nhu cầu đào tạo, bồi dỡng cán bộ phục vụ cho nhu cầu trớc mắt và
lâu dài.
+ Tăng cờng kinh phí cho việc đào tạo, bồi dỡng cán bộ cơ sở, đặc biệt
là những khu vực có vị trí quan trọng và nhạy cảm về kinh tế, chính trị, vùng
sâu, vùng xa. Tổ chức lớp riêng cho cán bộ là ngời dân tộc thiểu số, với nội
dung, chơng trình phù hợp; dạy tiếng dân tộc cán bộ cơ sở và cán bộ đi chỉ
đạo cơ sở.
+ Tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về đào tạo, bồi dỡng cán bộ, công chức cấp xã. Các địa phơng biên soạn thêm cho địa phơng
học, cách thức xử lý các tình huống cụ thể để cung cấp thêm kiến thức, phơng pháp luận và cách thức làm việc cho cán bộ cấp dới. Thống nhất, đồng bộ,
công bằng chế độ chính sách cho cán bộ.
1.3. Chính sách chế độ đãi ngộ cán bộ.
+ Chính sách, chế độ đãi ngộ tác động mạnh mẽ tới việc hình thành và
phát huy tiềm năng của từng ngời và toàn bộ đội ngũ cán bộ.
Hiện nay cần đổi mới một cách có hệ thống các chính sách, chế độ đãi
+ Tổ chức các lớp bồi dỡng nghiệp vụ, nâng cao trình độ năng lực cán
bộ cấp dới
+ Tăng cờng công tác kiểm tra giám sát, xử lý nghiêm những vi phạm
của những ngời cán bộ của Đảng và Nhà nớc.
+ Giáo dục t tởng, đạo đức cho cán bộ đảng viên và xoá bỏ tệ nạn sùng
bái cá nhân.
+ Tăng cờng đoàn kết thống nhất trong tổ chức Đảng, kiện toàn lại tổ
chức bộ máy chặt chẽ
Đảng phải chăm lo xây dựng, rèn luyện đôi ngũ cán bộ đảng viên có đủ
bản lĩnh chính trị , phẩm chất đạo đức, năng lực tri tuệ và hành động để hoàn
thành nhiệm vụ đợc giao.
kết luận
Chủ tịch Hồ Chí Minh là con ngời u tú của cách mạng Việt Nam, vị anh
hùng của dân tộc Việt Nam. T tởng đó của Ngời là ánh sáng soi đờng cho
Đảng ta trong quá khứ, hiện tại và mãi mãi về sau này để Đảng ta luôn giữ
19
vững bản chất giai cấp công nhân. Điều đó có nghĩa rất quan trọng đối với sự
nghiệp cách mạng.
Cách mạng là đổi mới không ngừng. Trên nền tảng chủ nghĩ MácLênin, t tởng Hồ Chí Minh và những thành tựu trong sự nghiệp đổi mới, của
Đảng Cộng sản ViệtNam đã, đang và sẽ ngày càng hoàn thiện quan điểm, đờng lối, chủ trơng chính sách phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Ngời làm
công tác tổ chức cán bộ cần không ngừng nâng cao trình độ lý luận, nâng cao
năng lực công tác, đáp ứng những nhu cầu mới, không thể dừng lại hoặc bằng
lòng với những kinh nghiệm cũ, hiểu biết cũ. Trong đánh giá cán bộ, chúng ta
cần thấm nhuần sâu sắc câu nói của chủ tịch Hồ Chí Minh: " Một dân tộc, một
đảng và mỗi con ngời, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất
định hôm nay và ngày mai vẫn đợc mọi ngời yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ
không trong sáng nữa, nếu xa vào chủ nghĩa cá nhân. (HCM toàn tập, nxb sự
Để bồi dỡng và phát huy nhân tố con ngời, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ,
nhất thiết phải từng bớc hiện đại hoá đất nớc và đời sống xã hội.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, xuất phát từ những nguyên lý của chủ
nghĩa Mác Lênin, t tởng Hồ Chí Minh. Đảng ta luôn đề cao vai trò của giáo
dục đào tạo đối với việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nói: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Ngời luôn nhắc nhở toàn Đảng, toàn
dân: Bồi dỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần
thiết . Ngời chỉ rõ cho chúng ta thấy mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục với
cách mạng, giữa giáo dục với sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nớc,
Bác khẳng định: Muốn giữ vững nền độc lập. Muốn cho dân mạnh, nớc giàu.
Mọi ngời Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình,
phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nớc nhà, và
trớc hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ.
Hội nghị Trung ơng Đảng khoá VIII (tháng 7 năm 1994) khẳng định:
Chúng ta càng hiểu sâu sắc rằng: nâng cao các mặt bằng dân trí và đỉnh cao
dân trí bồi dỡng phát huy to lớn nguồn lực con ngời cách mạng là nhân tố
quyết định thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Có thể nói giáo dục đào tạo là một lĩnh vực cực kỳ quan trọng, nay đang có
chiều hớng nhợng một phần không nhỏ làm mảnh đất màu mỡ cho sự tồn tại,
phát triển của mọi thói h tật xấu của xã hội, tạo nguy cơ có thể mất, đó là mất phơng
hớng chủ đạo, xa rời mục tiêu cơ bản của giáo dục, dứt đoạn với giá trị văn hoá truyền
thống. Phát triển tách khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào nguy cơ tha
hoá. Đi vào kinh tế thúc đẩy hiện đại hoá đất nớc mà xa rời những giá trị truyền thống
sẽ làm mất bản sắc dân tộc, đánh mất bản thân mình, trở thành cái bóng mờ của ngời
khác, của dân tộc khác.
Một nhà giáo bậc thầy đã nói: Chỉ pha một chút dối trá thôi là toàn bộ
sự nghiệp giáo dục có thể sụp đổ, thử hỏi những giá trị truyền thống nh tôn s
trọng đạo, một chữ là thầy nửa chữ cũng là thầy rồi tiên học lễ, hậu học
văn, Kính thầy yêu bạn liệu có còn là chuẩn mực của đạo đức xã hội hay
không?
ích mời năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng ngời. Câu
nói đó đã trở thành chân lý của thời đại, hoàn toàn phù hợp với quy luật phát
triển của các nớc đi từ lạc hậu lên tiên tiến và hiện đại, từ nông nghiệp đi lên
công nghiệp hoá, hiện đại hoá và là t tởng chỉ đạo cho toàn Đảng, toàn dân ta
phải hết sức chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, chăm sóc và dạy dỗ chu đáo thế
hệ trẻ.
Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Ngời nhấn mạnh: Muốn xây dựng
chủ nghĩa xã hội phải có con ngời xã hội chủ nghĩa.
Vị trí vai trò của giáo dục đào tạo đợc xem xét trong mối quan hệ biện
chứng giữ nhân tố con ngời và sự phát triển kinh tế xã hội. Việc đánh giá
nó phụ thuộc vào mức độ nhận thức mối quan hệ biện chứng này.
Thời đại ngày nay với đặc điểm nổi bật, sự phát triển mạnh mẽ của khoa
học công nghệ đợc nhanh chóng vận dụng vào sản xuất, tạo ra một năng suất cao
cha từng có trong lịch sử nhân loại. Để làm đợc nh vậy, đòi hỏi phải có đội ngũ
lãnh đạo đợc đào tạo chu đáo, nắm đợc những tri thức khoa học và công nghệ tiên
tiến. Muốn đẩy mạnh tốc độ tăng trởng kinh tế phải hiện đại hoá giáo dục đào tạo.
Giáo dục đào tạo phải đi trớc một bớc để kéo theo sự phát triển kinh tế. Xác
định giáo dục đào tạo là điều kiện phát triển kinh tế nên các quốc gia trên thế giới
đều coi đầu t cho giáo dục đào tạo là đầu t chiều sâu có lợi nhất.
Nớc ta đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, những khó khăn toàn
diện đang đặt ra thách thức gay gắt về sự phát triển mà lối ra là phải phát huy
mạnh mẽ nhân tố con ngời, trong đó bao gồm cả việc phát triển mạnh cả giáo
dục và đào tạo để tạo sự phát triển kinh tế với nhịp độ cao. Hay nói cách khác,
giáo dục đào tạo là cơ sở cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xét cả phơng
diện lý luận và phơng diện thực tiễn đều đảm bảo tính khách quan của vấn đề.
2. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) khẳng định
đờng lối đổi mới đợc khởi xớng tại Đại hội Đảng lần thứ VI và đề ra Cơng lĩnh,
những quan điểm phát triển đất nớc theo đờng lối đổi mới. Đại hội chỉ rõ: Con
ngời Việt Nam vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội,
vững mạnh của nớc nhà. Đảng lãnh đạo giáo dục và đào tạo phải coi trọng cả
3 mặt đó là: mở rộng qui mô, nâng cao chất lợng và phát huy hiệu quả. Tất cả
đều xuất phát từ nguyện vọng của nhân dân và của chính bản thân Đảng đòi
hỏi.
Trong xu thế mở cửa hội nhập của nớc nhà, không những đón nhận những
cơn gió lành mà thậm chí có cả những cơn gió độc đang len lỏi vào ta phải cảnh
giác ngăn chặn những luồng gió độc, đòi hỏi Đảng ta phải xác định đợc đờng lối,
phơng pháp, nội dung phơng thức lãnh đạo đúng đắn và sáng tạo. Đây là thời kỳ
đan xen giữa thời kỳ có và thách thức, với 4 nguy cơ mà Đại hội Đảng lần thứ IX
đã nhấn mạnh: chệch hớng xã hội chủ nghĩa, tụt hậu về kinh tế, nạn tham nhũng
và âm mu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch gây ra đến nay vẫn còn tồn
tại những diễn biến phức tạp đan xen, hoạt động lẫn nhau, không thể xem nhẹ
nguy cơ nào, mà hiện nay một bộ phận cán bộ đảng viên đã suy thoái đạo đức, sa
ngã biến chất làm giảm đi sức chiến đấu trong tổ chức Đảng, là cơ hội cho kẻ thù
tấn công. Cơ hội và thách thức, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau nắm bắt thời cơ,
vợt qua thách thức đẩy lùi nguy cơ, phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ mới, đó là
vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và nhân dân ta.
23
Do đó sự nghiệp đổi mới toàn diện và sâu sắc của đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải đổi mới phơng thức lãnh đạo cho phù hợp
với nhiệm vụ mới. Vì vậy cần tổng kết, làm rõ cơ sở thực tiễn và khoa học của
sự hình thành phơng thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền, nội dung lãnh đạo
phù hợp với phơng thức lãnh đạo của Đảng trong từng giai đoạn rút ra những u
điểm và hạn chế, đề ra phơng hớng và giải pháp đổi mới phơng thức lãnh đạo
của Đảng.
3. Khái niệm chung về phơng thức lãnh đạo của Đảng.
Trong công cuộc đổi mới ngày nay, vai trò lãnh đạo của Đảng trên tất cả
các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực giáo dục và đào tạo không ngừng đợc củng cố và
nâng cao. Đó là nhờ Đảng có đờng lối chính trị đúng đắn và phơng thức lãnh đạo
Trong phạm vi này chỉ đề cập phơng thức lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục
và đào tạo.
4. Phơng thức lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục và đào tạo.
4.1. Khái niệm giáo dục và đào tạo.
* Khái niệm giáo dục: Giáo dục là một quá trình hình thành nhân cách, đợc
tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch thông qua hoạt động giáo dục và ngời đợc giáo dục nhằm truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm của xã hội loài ngời.
* Khái niệm đào tạo: Đào tạo là một quá trình phát triển có hệ thống các tri
thức kỹ năng, kỹ xảo và thái độ t cách đòi hỏi của một cá nhân đợc thực hiện
nhiệm vụ chuyên môn nhất định. Nh vậy đào tạo đợc hiểu là một dạng đặc thù của
giáo dục trong đó nó hớng về giáo dục chuyên nghiệp.
4.2. Phơng thức lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục và đào tạo.
Phơng thức lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục và đào tạo chính là các hình
thức, biện pháp lề lối làm việc của Đảng. Sử dụng để tác động đến đối tợng lãnh
đạo ngành là lãnh đạo giáo dục - đào tạo nhằm tập hợp quy tụ, phát huy sức mạnh
của mọi lực lợng trong hệ thống chính trị và đông đảo nhân dân để thực hiện thắng
lợi đờng lối, nhiệm vụ chính trị của Đảng đặt ra đối với giáo dục và đào tạo.
Đảng lãnh đạo giáo dục và đào tạo bằng Nhà nớc, thông qua Nhà nớc, do
đó hoạt động có hiệu quả các cơ quan Nhà nớc là thớc đo hiệu quả của sự lãnh
đạo, sự đúng đắn về phơng thức lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục và đào tạo. Sự
lãnh đạo đúng đắn sáng tạo của Đảng là nhân tố quyết định chất lợng và hiệu quả
của ngành giáo dục và đào tạo. Đảng là ngời đề xớng và triển khai công cuộc đổi
mới cải cách t duy giáo dục nớc nhà, mà một trong những nội dung chủ yếu là đổi
mới, cải cách t duy giáo dục phơng pháp giảng dạy và toàn bộ hoạt động của cơ
quan quản lý giáo dục, đặc biệt là hiện đại hoá, xây dựng nhà trờng lành mạnh,
vững mạnh công bằng. Trong giáo dục nhằm tạo sự công bằng và đáp ứng nhu cầu
sự phát triển của xã hội và thế giới.
Thực tế cho thấy bản thân giáo dục và đào tạo không tự đổi mới, tự cải
cách và hoạt động của mình đạt kết quả nếu không có sự lãnh đạo chặt chẽ với