LUẬN án tiến sĩ - tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về CON NGƯỜI và PHÁT HUY NHÂN tố CON NGƯỜI TRONG THỜI kỳ CÔNG NGHIỆP hóa, HIỆN đại hóa đất nước - Pdf 37

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự thay đổi nhanh chóng của thế giới ngày nay đang làm nổi bật vai trò động lực con người
trong quá trình phát triển. Vài thập kỷ trở lại đây, vấn đề con người đã trở thành trung tâm chú ý của
các lý thuyết xã hội hiện đại: xây dựng chiến lược con người, phát triển nguồn nhân lực, lý thuyết
tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững… đang là những vấn đề mang tính thời sự và được thảo
luận rộng rãi trên các diễn đàn quốc tế. Tiến trình phát triển của các nước đã chứng minh về mặt lý
luận và thực tiễn vai trò nhân tố con người có ý nghĩa quyết định cho xu hướng vận động của thế
giới đương đại.
Ở nước ta, muốn thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH,HĐH, thì một trong những yêu cầu cấp
bách là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chuẩn bị con người thật tốt cho thế kỷ XXI.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII đã chỉ rõ: “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố
cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [24,tr 85], “nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy
nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc
CNH,HĐH” [24, tr 21]. Đây là nguồn lực của mọi nguồn lực, tài nguyên của mọi tài nguyên, là nội
lực quan trọng nhất bảo đảm đưa nước ta trở thành một nước CNH,HĐH.
Thực tiễn nước ta đã chứng minh rằng: mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền
với sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người để định hướng cho sự phát triển của đất nước
trong thời kỳ CNH,HĐH là một nhiệm vụ rất quan trọng và cấp bách. Trong thời kỳ đó, trước yêu
cầu của sự nghiệp CNH,HĐH, sự tác động của cơ chế thị trường đang bộc lộ nhiều bất cập về con
người cho sự phát triển của đất nước. Làm thế nào để phát huy có hiệu quả vai trò nhân tố con người
trong CNH,HĐH ở Việt Nam hiện nay? Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đang được
nghiên cứu một cách hệ thống, cơ bản, kịp thời nhằm tìm kiếm những giải pháp phù hợp. Do đó, vấn
đề phát huy nhân tố con người trong quá trình CNH,HĐH ở nước ta phải dựa trên những giá trị tư
tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về con ngườì. Đúng như đồng chí Võ Nguyên Giáp nói: “ Vấn đề


cấp bách hiện nay là dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác- Lênin chúng ta cần phải phát triển sáng tạo
tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng được một chiến lược con người, coi đó là vấn đề trung tâm của
chiến lược kinh tế - xã hội [32, tr. 104].
2. Tình hình nghiên cứu đề tài

học và đã xác lập cơ sở lý luận xây dựng con người mới XHCN theo tinh thần nghị quyết Đại hội
Đảng IV. Từ sau Đại hội Đảng VI, có bước phát triển mạnh mẽ trong nghiên cứu về con người,
nhưng phải đến Đại hội Đảng VIII, vấn đề con người gắn liền với yêu cầu sự phát triển trong thời kỳ
CNH,HĐH. Ví dụ, Nguyễn Trọng Bảo: “Con người, nguồn nhân lực, sự nghiệp giáo dục đào tạo với
quá trình CNH,HĐH đất nước”, tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp số 3- 1996…, một số
luận án như: “Về con người trong nho học sơ kỳ” của Nguyễn Tài Thư, H 1996; “Tích cực hoá nhân
tố con người của đội ngũ sỹ quan trong xây dựng QĐND Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Văn Tài,
H 1998…Đặc biệt chương trình KX-07: “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát
triển kinh tế - xã hội” do Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm, kết quả nghiên cứu được chuyển tải trong
sách: “Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH,HĐH” , Nxb Chính trị quốc gia 1996, là một bước
tiến mới về lý luận và thực tiễn, “đặt viên gạch đầu tiên cho ngành khoa học về con người ở nước
ta” [129, tr 335].
Đi sâu vào nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người có nhiều công trình, sách, tạp
chí, bài báo, phản ánh kết quả của nhiều nhà khoa học. Năm 1990, Hội thảo quốc tế nhân kỷ niệm
100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra kỷ yếu: “Chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải
phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn” và Hội thảo quốc gia, có: “Chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải
phóng dân tộc- danh nhân văn hoá”, Nxb Khoa học xã hội, H., 1990; Vũ Kỳ: “Đầu tiên là công việc
đối với con người”, Đại đoàn kết số 35- 1989; Vũ Khiêu: “Trồng cây và trồng người”, Tạp chí Triết


học 1990; Phùng Hữu Phú: “Nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH”, Tạp chí Thông tin
lý luận 7- 1992; Bùi Đình Phong: “Giải phóng con người và mưu cầu hạnh phúc cho mọi người là tư
tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lịch sử Đảng 3-1994; Nguyễn Dũng: “Bác Hồ với tư duy
CNH,HĐH đất nước”, Tuần tin tức số 20-1994; Nguyễn Văn Huyên: “Cội nguồn và bản chất tư
tưởng nhân văn Hồ Chí Minh”, Tạp chí Triết học 4-1996; Trần Thành: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
con người và chiến lược trồng người”, Tạp chí Công tác khoa giáo 12-1997… Nhiều cuốn sách
chuyên đề rất có giá trị như: Võ Nguyên Giáp: “Tư tưởng Hồ Chí Minh quá trình hình thành và phát
triển”, Nxb Sự thật, H 1993; Đỗ Huy: “Tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị quốc gia, H
1997, Song Thành: “Hồ Chí Minh nhà văn hoá kiệt xuất”, Nxb Chính trị quốc gia, H1999…Khái
quát, có thể chia thành 3 mảng chính:

con người.
3.3. Phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người.
3.4. Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát huy nhân tố con người trong thời gian qua theo yêu
cầu CNH, HĐH, vạch ra phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy nhân tố con
người trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh.
4. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
4.1. Hệ thống hoá, xác định rõ các khái niệm: con người, nhân tố con người, phát huy nhân tố con
người và một số khái niệm công cụ khác, từ đó, khái quát giá trị lý luận thực tiễn tư tưởng Hồ Chí
Minh về con người.


4.2. Kế thừa những kết quả của các tác giả đi trước, đi sâu thêm vào một số nội dung trong tư
tưởng Hồ Chí Minh về con người, giá trị chủ yếu nhất là phát huy nhân tố con người trong cách
mạng Việt Nam.
4.3. Khẳng định tính quy luật, ý nghĩa phương pháp luận của những vấn đề nhằm phát huy nhân tố
con người trong CNH,HĐH dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, các quan điểm
của Đảng, Nhà nước ta và thành tựu của khoa học hiện đại về vai trò con người trong CNH,HĐH.
5.2. Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, các phương pháp cơ bản: lôgíc – lịch sử,
quy nạp - diễn dịch; phân tích - tổng hợp… các phương pháp cụ thể như: thống kê, so sánh, nghiên
cứu tiểu sử, đặc biệt coi trọng phương pháp tiếp cận hoạt động - giá trị - nhân cách được sử dụng để
phục vụ cho sự nghiên cứu.
6. Ý nghĩa của luận án
Với những kết quả đạt được, luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và
giảng dạy môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở bậc đại học và cao đẳng.
7.Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương, 8 tiết.



người thường gắn với vai trò con người trong xã hội, hướng tới nhu cầu giải phóng con người khỏi
thần học, khỏi các điều kiện áp bức, nô dịch xã hội. Nó khẳng định con người cá nhân – cái tôi như
một chủ thể, một chủ thể với chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa nhân văn. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của
CNDV siêu hình, các quan niệm về con người chỉ phản ánh những khía cạnh hạn hẹp, thiếu tính hệ
thống. Có ý kiến cho rằng, thời kỳ lịch sử cho phép nảy sinh và tạo điều kiện cho khái niệm con
người ra đời là thời kỳ có nền sản xuất hàng hoá tương đối phát triển, giai cấp tư sản là người đề
xướng và sở hữu khái niệm đó [36, tr 93-94], nhưng “cho đến giữa thế kỷ XIX vẫn chưa có được
một nhận thức khoa học” về khái niệm con người [16, tr 14].
Triết học mácxít đã đem lại một hệ thống các quan điểm có ý nghĩa thế giới quan và phương pháp
luận làm sáng tỏ khái niệm ấy. Mác-Ăngghen, ngay trong các tác phẩm viết trước năm 1844, là năm
đánh dấu sự thay đổi về chất từ lập trưởng dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản, đã đặt nền
móng cho những quan điểm duy vật về con người. Mác-Ăngghen dùng các khái niệm “con người là
một sinh vật xã hội”, “là một sinh vật có tính loài”, “con người bẩm sinh đã là sinh vật có tính xã
hội”… thể hiện tư tưởng coi con người là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố sinh vật và yếu tố xã
hội. Sau này, ở giai đoạn chín muồi về lý luận, các tác phẩm của Ăngghen tiếp tục khẳng định và
vạch ra một cách toàn diện những quan điểm duy vật của mình: tự nhiên là cái có trước, con người
là sản phẩm của quá trình tiến hoá tự nhiên. Mác viết: “ cũng như sự tồn tại của con người là kết quả
của một quá trình trước đó mà cuộc sống hữu cơ đã qua đi. Chỉ đến một giai đoạn nào đó của quá
trình này, con người mới trở thành người” [69, tr 690], “ con người sống bằng giới tự nhiên. Như thế
nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể và với nó con người phải duy trì một quá
trình thường xuyên để tồn tại” [70, tr 117]. Ăngghen dựa theo những tư liệu đã có, chứng minh con


người là kết quả tất nhiên của quá trình tiến hoá. Con người bước ra khỏi giới động vật như thế nào
thì cũng bước vào lịch sử như thế. Con người bước vào lịch sử trong những điều kiện cho sự tồn tại
không có sẵn như ở động vật, con người phải lao động để sáng tạo ra. Như vậy, bản thân cái sự kiện
là con người từ động vật mà ra, cũng quyết định việc con người không bao giờ hoàn toàn thoát ly
khỏi những đặc tính vốn có của con vật, thành thử bao giờ cũng chỉ nói đến việc những đặc tính ấy
có nhiều đến sự chênh lệch về mức độ thú tính và tính người mà thôi [64, tr 146]. Thừa nhận yếu tố
sinh vật của con người, nghĩa là thừa nhận những quy luật sinh học chung của con người, những đặc

những quan hệ xã hội” [61, Tr 11].
Mác – Ăngghen phê phán nhà triết học thế kỷ XVIII noi “Trạng thái tự nhiên là trạng thái chân
chính của bản tính con người”. Hoặc có người coi “chủ nghĩa cá nhân ích kỷ gắn liền với bản chất
con người” (Tomat Hôpxơ); “bản chất con người là nhận thức” (B.Xpinôda); là “bản chất sinh vật”
(S.Môngtexkiơ) hay “bản chất tự do” (G. Rutxô). Các nhà triết học cổ điển Đức khẳng định “bản
chất xã hội”của con người, nhưng đó là bản chất trừu tượng, hư ảo, không tồn tại hiện thực. MácĂngghen bắt đầu có sự phân biệt giữa người và động vật từ hành vi lao động sản xuất. Những tiền
đề hiện thực cho việc nghiên cứu “Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những
điều kiện sinh hoạt của họ” [70,tr 267]. Con người nhờ có lao động sản xuất để tạo ra tư liệu sinh
hoạt nhằm duy trì sự tồn tại của mình và của xã hội, thông qua đó người là giống vật duy nhất thoát
khỏi trạng thái thuần tuý là loài vật và có thể in dấu ấn của mình lên giới tự nhiên. Đây là một hành
vi mang tính xã hội, nó chỉ ra tính chất đồng quy, tính chất cộng đồng của con người, nhờ đó con
người được giải phóng khỏi tự nhiên, tách khỏi loài vật và xây dựng cho mình một môi trường xã
hội. Do đó con người nằm trong sự tác động của một hệ thống các quy luật khác về chất so với các
quy luật tự nhiên, đó là các quy luật xã hội, qua đó mà sáng tạo ra bản thân mình. Đời sống tinh
thần, tư tưởng của con người dù có phong phú, phức tạp đến đâu, cũng chỉ là phản ánh cái môi


trường xã hội luôn biến đổi ấy. Việc con người biến đổi tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất, trực tiếp
nhất đối với việc hình thành, phát triển của ý thức và con người đã biến đổi song song với việc con
người cải biến tự nhiên. Như vậy, chính con người là kẻ sản xuất ra những quan niệm, ý niệm của
mình. Ý thức không thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại đã được ý thức. Không phải ý thức quyết
định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức và ý thức ngay từ đầu đã là một sản phẩm xã hội.
Như vậy, bản chất con người chỉ có thể được hình thành, được nhận thức thông qua các quan hệ xã
hội của nó. Bản chất con người không phải là thần bí, trừu tượng, bất biến, tách rời khỏi những mối
quan hệ xã hội khách quan như các nhà duy tâm hay duy vật siêu hình quan niệm. Nó có thể nhận
thức được thông qua các tổ chức, thể chế chính trị, các mối quan hệ xã hội hiện thực, xác định. Bản
chất con người không phải là cái vốn có, hình thành một lần là xong, mà là một đại lượng biến đổi,
là một quá trình mang tính lịch sử - cụ thể, thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Khi đó bản
chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội, nghĩa là tất cả các quan hệ xã hội vật chất – tinh thần,
đều góp phần vào việc hình thành bản chất con người, chứ không riêng một quan hệ nào. Trong đó,

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, Người có sử dụng nhiều từ ngữ khác nhau để nói về con
người như: người, con người, người ta, quần chúng, dân chúng, dân, nhân dân, đồng bào… theo
nhiều nghĩa khác nhau. Do đó, phải theo tinh thần biện chứng, trên cơ sở những đặc điểm về
phương pháp tư duy Hồ Chí Minh, thì mới có cách hiểu đúng đắn quan niệm Hồ Chí Minh về con
người.
Thứ nhất, Hồ Chí Minh thường dùng các từ: nhân dân, dân, quần chúng, đồng bào, cán bộ,
đảng viên… là tuỳ theo hoàn cảnh, điều kiện, nội dung cụ thể của chủ nghĩa Mác, được sử dụng khi
nói về con người trong lĩnh vực chính trị xã hội. Còn khi nói tới những vấn đề của con người trong
văn hoá, đạo đức, triết học… thì Hồ Chí Minh thường dùng các từ: con người, người. Thứ hai, quan


niệm về con người của Hồ Chí Minh vừa thể hiện rõ tính chất giai cấp, tính chất lịch sử của khái
niệm đó, vừa hướng vào những giá trị chung của con người; tự do, hạnh phúc, dân chủ để vươn tới
những cái chân, thiện, mỹ, đạt tới những lý tưởng nhân bản, nhân đạo của con người. Nó khắc phục
những hạn chế về tính giai cấp , tính lịch sử - xét theo một khía cạnh nào đó – trong các quan niệm
nào đó, để hướng tới những giá trị phổ biến của con người, nhằm đạt tới cơ sở cho sự đoàn kết dân
tộc và quốc tế vì sự nghiệp chung là giải phóng con người. Đây là một sáng tạo, sự minh triết của
Hồ Chí Minh. Theo nghĩa đó, khái niệm con người theo Hồ Chí Minh là khái niệm chung nhất, bao
trùm lên các khái niệm riêng như: quần chúng, dân, đồng bào… nhưng đó không phải là “con người
trừu tượng” mà là con người cụ thể, hiện thực, cảm tính, khách quan. Cho nên Hồ Chí Minh nói về
con người thường là được biểu hiện qua: quần chúng, dân, đồng bào và ngược lại, khi nói về quần
chúng, dân, đồng bào… cũng tức là đang nói về con người. Nếu không đặt vấn đề như vậy, có thể sẽ
hiểu không đúng quan niệm của Hồ Chí Minh về con người. Một sự tách bạch có tính chất học
thuật, giáo điều, siêu hình sẽ không đạt tới chiều sâu trong quan niệm Hồ Chí Minh về con người.
Đây vừa là sự sáng tạo, vừa là biểu hiện một trí tuệ uyên bác, một nhân cách đạo đức cao thượng
của Hồ Chí Minh: hiểu con người theo nghĩa rộng rãi nhất, cách mạng nhất, biện chứng nhất, cho
phép tư tưởng Hồ Chí Minh về con người dung hợp những giá trị tích cực của các chủ thuyết về con
người trong lịch sử thành một “hệ thống mở” cho sự phát triển các quan niệm về con người của thế
giới đương đại.
Con người trong quan niệm Hồ Chí Minh là một chỉnh thể thống nhất về thể lực, tâm lực, trí

biện chứng. Đó là những quy luật tình cảm và sức mạnh của nhân tố tinh thần đối với con người.
Sức mạnh của nhân tố tinh thần không chỉ thể hiện ở trình độ ý thức lý luận, hệ tư tưởng mà còn thể
hiện trong lĩnh vực ý thức thông thường, tri thức kinh nghiệm và đời sống cảm xúc, tình cảm. Chính


vì con người sống gắn chặt với điều kiện, hoàn cảnh sống hàng ngày với tất cả tính chất phong phú,
phức tạp của nó. Trong cuộc đời và tư tưởng của mình, Hồ Chí Minh luôn nhận thấy vai trò hết sức
quan trọng của nhân tố tinh thần, tôn trọng và làm cho đời sống tinh thần con người ngày càng
phong phú. Hồ Chí Minh nói: “Con người dù là xấu, tốt, văn minh hay dã man đều có tình” [87,tr
60]. Chữ tình đó không chỉ là tình cảm anh em, vợ chồng, bạn bè, cha con, trên dưới mà đó có tình
người. Tình người theo nghĩa rộng nhất đó là đời sống tinh thần của con người, biểu hiện tập trung ở
mặt văn hoá- đạo đức. Đó là nhân tính, nó đối lập với thú tính của loài vật, chính nhân tính dẫn con
người tới văn hoá. Đã là con người đều yêu sự lành, ghét sự dữ; yêu cái thiện, cái tốt, ghét cái ác, cái
xấu. Sức mạnh của ý thức cuối cùng phải được biểu hiện qua hoạt động thực tiễn của con người và
cách thức tổ chức, quản lý, khai thác, sử dụng nó. Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh của ý thức lý luận,
hệ tư tưởng phụ thuộc vào mức độ thâm nhập vào đời sống thực tiễn cuả quần chúng trở thành
phong tục tập quán, tâm trạng, tình cảm. Vì vậy mà “Bất cứ việc to và việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ
và làm cho hợp với trình độ văn hoá, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu,
lòng tham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng, do đó mà cách làm việc, cách tổ chức” [85,
tr 248].
Đứng vững trên quan điểm duy vật mácxít, Hồ Chí Minh cũng khẳng định bản chất con
người mang tính xã hội – lịch sử, coi con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của lịch sử, con
người vừa là động lực, là mục tiêu của sự phát triển xã hội. Hồ Chí Minh cho rằng: con người ta
muốn sống thì phải có ăn, mặc, ở, đi lại, muốn như vậy thì phải lao động làm ra. Muốn lao động sản
xuất thì con người phải liên kết với nhau trong tập thể, cộng đồng. Sự phát triển của lịch sử là quy
luật không ngăn trở được. Cách sản xuất và sức sản xuất phát triển biến đổi mãi, do đó mà tư tưởng
của con người, chế độ xã hội cũng biến đổi và phát triển, ý thức và nhận thức của con người cũng
vậy. Do sự sản xuất vật chất mà người ta hiểu biết dần các hiện tượng, các tính chất, các quy luật và
mối quan hệ người với tự nhiên. Lại do hoạt động sản xuất mà dần dần hiểu rõ mối quan hệ giữa
người này với người khác [86, tr247-248]. Tóm lại “xã hội có cơm ăn, áo mặc, là nhờ lao động. Xây

thể, cụ thể, vừa là một cộng đồng gia đình, giai cấp, xã hội, con người nói chung. Đó là con người
gắn liền với hoạt động thực tiễn đấu tranh xã hội, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa quá khứ, hiện tại
và tương lai. Con người vừa là sản phẩm của chủ thể tích cực của hoàn cảnh. Con người vừa là động
lực vừa là mục tiêu của sự phát triển lịch sử, chủ thể sáng tạo và hưởng các giá trị văn hoá vật chất,
tinh thần trong xã hội. Đó là con người Việt Nam cùng khổ, bị áp bức, bóc lột đang vùng dậy để tự
giải phóng mình, từng bước làm chủ bản thân.
1.1.2. Khái niệm nhân tố con người
Trong lịch sử triết học, quan niệm về vai trò của nhân tố con người cũng có mầm mống từ
sớm. Trong các truyền thuyết, sử thi, hội hoạ… của Hy lạp- La mã cổ đại, bên cạnh việc tìm kiếm sự
giúp đỡ vào thần thánh, hoặc giải thích sức mạnh của mình bằng sức mạnh của thần thánh, con
người đã đặt niềm tin vào sức mạnh của mình. Protago (420-490 TCN) tuyên bố: “Con người thước
đo của mọi vật”. Ở Trung Quốc chữ “nhân” nguyên nghĩa chỉ nguyên tố người, tức là một đặc trưng
đặc biệt của bản tính chính con người [47, tr 146]. Theo Tống sử, các nhà triết học thời kỳ này như
Chu Đôn Di (1017-1073) cho rằng “Nhân là lực lượng sinh ra mọi vật”. Trình Hạo (1032-1085) coi
“tình cảm, nghĩa, lễ, trí, tín – cũng như nhân” tức là “nguyên tố người có sẵn cho mọi vật”, mọi vật
và con người đều có linh hồn, tuy rằng con người là linh thiêng nhất. Đây là bước thụt lùi so với
Hàn Dũ là người đầu tiên đề xuất luận điểm: con người là chủ trong tất cả cái gì tồn tại và nguyên tố
người là tình thương đối với tất cả. Theo ông, khái niệm “nhân tố người” một mặt chỉ một đặc tính
chỉ có con người là thể hiện ở mức cao nhất và bổn phận con người phải có trách nhiệm đối với các
sự vật như thế nào. Đây thực chất là quan điểm duy tâm chủ quan tuy nó đem lại ý tưởng về sự
khẳng định vai trò của con người trong thế giới. Như vậy, mặc dù chưa thống nhất và chưa đưa ra
được một khái niệm hoàn chỉnh về nhân tố con người, nhưng các nhà triết học trước Mác đã có công
trong việc đi sâu nghiên cứu từng khía cạnh của nhân tố con người: mặt hoạt động, vai trò của đạo
đức, tinh thần, ý chí… coi con người là giá trị cao nhất, là thước đo của mọi giá trị và là chủ thể duy


nhất sáng tạo ra tất cả. Khuyết điểm lớn nhất của triết học trước Mác là không xuất phát từ con
người hiện thực, cụ thể, cảm tính, con người hoạt động thực tiễn. Đó là nguyên nhân cơ bản dẫn các
nhà triết học rơi vào lập trường duy tâm, thần bí và siêu hình trong các quan niệm về con người.
Tiền đề xuất phát của triết học Mácxít là con người hiện thực, từ đó dẫn tới các quan điểm:

thần cho mọi hoạt động của con người. Nếu giới hạn nhân tố con người trong lĩnh vực tinh thần thì
chưa nói lên được vai trò cực kỳ quan trọng của đặc trưng hoạt động, coi như là cơ sở quyết định
hình thành và phát triển, sự biểu hiện các phẩm chất, năng lực con người.
Để tiến tới một khái niệm về nhân tố con người nói chung, cần phải có phương pháp tiếp cận
cho phù hợp. Dựa theo kết quả của chương trình khoa học KX-07 “Con người Việt Nam - mục tiêu
và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”, Phương pháp tiếp cận hoạt động – giá trị - nhân
cách lựa chọn là phương pháp quan trọng để xác định đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp này xem xét nhân tố con người như một chỉnh thế thống nhất của hai quá
trình: một mặt, từ hoạt động con người thông qua các hệ thống giá trị mà hình thành nên nhân cách
với tư cách là thước đo giá trị của chủ thể. Mặt khác, nhân cách với tư cách là thước đo mức độ phù
hợp giữa giá trị của chủ thể với giá trị xã hội, là cơ sở, điều kiện cho mọi hoạt động của chủ thể
tiếp tục sáng tạo ra các giá trị xã hội. Có thể biểu diễn bằng sơ đồ:
Hệ thống giá trị

Hoạt động

Thang giá trị
hước đo giá trị
Định hướng giá trị

Nhân cách


Hình 1.1: Phương pháp tiếp cận Hoạt động – giá trị - nhân cách

Phương pháp này cho phép tiếp cận nhân tố con người như một hệ thống - cấu trúc phức tạp
trong quá trình vận động, phát triển, bao quát được những đặc trưng bản chất nói lên con người vừa
là chủ thể hoạt động, chủ thể mang những đặc trưng về phẩm chất năng lực, đồng thời là chủ thể tiếp
thu và sáng tạo giá trị xã hội. Nó nêu bật vai trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo của con người,
khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển xã hội. Từ đó, có quan niệm: Nhân

cấp độ phẩm giá con người làm cho hoạt động của con người mang tính nhân đạo, nhân văn. Nói
cách khác, nó biểu hiện yếu tố nhân tính, yếu tố văn hoá trong các dạng thức hoạt động khác nhau
của con người. Đó là tính toàn vẹn, là năng lực tự ý thức, tự nhận thức, tự đánh giá và tự điều khiển
hành vi trong hoạt động mang tính chủ thể.
Tóm lại, nội dung của nhân tố con người bao gồm những quá trình, những yếu tố cấu thành
một chỉnh thể thống nhất giữa mặt hoạt động và nhân cách với trình độ phát triển về chất của các
quá trình, các yếu tố đó.
Kết quả phân tích trên là cơ sở để tiến tới một khái niệm khoa học về nhân tố con người theo
quan niệm Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh không dùng từ “nhân tố con người” mà thường dùng các từ
như: “sức dân”, “sức người”, “tài dân”, “lực lượng của dân”… nhưng về thực chất trong tư tưởng
Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò nhân tố con người trong cách mạng Việt Nam, có thể khái quát một
số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, theo Hồ Chí Minh, nhân tố con người không chỉ là vai trò tích cực, chủ động sáng
tạo của mỗi cá nhân, cá thể, mà còn là vai trò của các giai cấp, các tầng lớp người trong xã hội. Nói
đến nhân tố con người trong điều kiện cuộc CMVS, xét đến cùng là sức mạnh của mỗi cá nhân phải


dựa vào sức mạnh tập thể. Ăngghen cho rằng, con người làm ra lịch sử của mình bằng cách là mỗi
người làm ra một mục đích riêng, chính kết quả chung của vô số những ý muốn, những hoạt động
khác nhau đó đã tạo nên lịch sử [65,tr 436]. Lênin cũng lưu ý tới hoạt động của các cá nhân đang
sống muôn hình, muôn vẻ vô chừng và hình như không thể nào hệ thống hóa nổi, được quy vào hoạt
động của các giai cấp và cuộc đấu tranh của các giai cấp ấy đã quyết định sự phát triển của xã hội
[52, tr539]. Hồ Chí Minh trong khi khẳng định vai trò cá nhân, coi mỗi người là một bộ phận của tập
thể, giữ một vị trí nhất định và đóng góp một phần công lao trong xã hội [89,tr 291], cũng nhấn
mạnh rằng, sự nghiệp cách mạng là công việc của hàng triệu người chứ không phải chỉ bằng một vài
việc của một số cá nhân anh hùng [92, tr550-551].
Thứ hai, xét theo phương diện nhân tố con người với tư cách là chủ thể hoạt động, Hồ Chí
Minh coi trọng hoạt động tự giác của con người, có tổ chức, có lãnh đạo của Đảng cộng sản thông
qua các phong trào thi đua của quần chúng. Đây là một dạng thức hoạt động đặc biệt của con người
trong CMVS. Nó không còn là những hoạt động của cá nhân riêng biệt, tự phát mà là hoạt động có

phát sinh, phát triển trên mảnh đất hiện thực, phản ánh lợi ích của giai cấp, dân tộc và là kết quả hoạt
động nhận thức của một con người, một tập đoàn nhất định.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người là sự tích hợp của nhiều nền văn hoá. Những giá trị tư
tưởng về con người của phương Đông và phương Tây được thể hiện nhuần nhuyễn trong quá trình
khai thác, sử dụng những giá trị truyền thống dân tộc. Nó phản ánh những cuộc vận động lớn của
dân tộc, những quy luật phát triển của thời đại nhằm giải phóng con người. Đó là kết quả tất yếu đối
với Hồ Chí Minh, một con người đi nhiều, hiểu rộng, tiếp xúc với nhiều nền văn minh và sử dụng
thành thạo nhiều ngôn ngữ lớn trên thế giới. Đặc biệt là cuộc đời của một vĩ nhân “anh hùng giải
phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn” đã gắn kết với những sự kiện lịch sử vĩ đại của dân tộc và nhân loại
trong thế kỷ XX.
1.2.1. Từ truyền thống con người Việt Nam


Điểm chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người chính là phát huy những giá trị truyền
thống con người Việt Nam trong CMVS. Có nhiều quan niệm khác nhau về truyền thống, có thể
hiểu: truyền thống là tập hợp những tư tưởng tình cảm, tập quán, thói quen trong tư duy, lối sống và
ứng xử của một cộng đồng người nhất định, được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định,
được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác [129, tr 11]. Truyền thống được thể hiện trong các
chế định xã hội, chuẩn mực hành vi, các giá trị tư tưởng, phong tục, tập quán và lối sống… có tác
dụng “khống chế vô hình” đến hành vi con người. Nó là sức mạnh “nội sinh” tiềm năng, là “bản
sắc” của dân tộc, của con người Việt Nam.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về truyền thống dân tộc nói chung và truyền thống con người
Việt Nam nói riêng. Có thể khái quát trên một số nội dung cơ bản về truyền thống con người Việt
Nam : tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, ý chí tự lực tự cường; lao động cần cù sáng tạo, nhạy
cảm với cái mới, biết đối phó linh hoạt, ứng xử mềm mỏng, biết thích nghi và hội nhập để tồn tại và
phát triển; tinh thần cộng đồng, truyền thống đoàn kết, nhân ái, lòng bao dung, độ lượng, hiếu thảo,
coi trọng tình nghĩa; tinh thần thực tế, coi trọng kinh nghiệm, tôn trọng người già; hiếu học, tôn sư
trọng đạo, có tinh thần khoan dung tôn giáo; có tài nghệ quân sự, anh hùng, mưu trí, dũng cảm,
trung thực, giản dị…Bên cạnh những giá trị tích cực, còn tồn tại những mặt hạn chế như: tính cục
bộ, địa phương, tâm lý bình quân chủ nghĩa; tác phong lề mề, luộm thuộm, qua loa đại khái; thiếu ý

mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước từ thời đại Hồng Bàng đến thời đại Hồ Chí Minh (2879
TCN- nay), nếu tính từ nước Âu Lạc đến nay thì có hơn 13 thế kỷ chiến tranh với 37 cuộc chiến
tranh chống xâm lược qui mô lớn và hàng trăm cuộc khởi nghĩa trong nội bộ đất nước [1]. Nó đã
hình thành nên truyền thống cực kỳ quý báu, đó là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, ý
chí quật cường, niềm tự tôn dân tộc, tài nghệ quân sự của người Việt Nam. Các dân tộc thuộc địa,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status