ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
---***---
NGUYỄN LIÊN PHƯƠNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ DÂN CHỦ VÀ VIỆC VẬN DỤNG VÀO
CƠNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số
: 60 38 01
luận văn thạc sỹ luật học
Ngi hng dn khoa học: GS. TS. HOÀNG THỊ KIM QUẾ
HÀ NỘI - 2009
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
MỞ ĐẦU
1
1.2.1. Giá trị truyền thống tư tưởng, văn hoá của dân tộc
23
1.2.2. Tư tưởng, văn hoá nhân loại
25
1.2.3. Nguồn gốc lý luận cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh
28
1.2.4. Tài năng và phẩm chất cá nhân Hồ Chí Minh
30
1.3. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
1.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và nền dân chủ XHCN
32
32
1.3.1.1. Dân chủ là tài sản quý báu nhất của nhân dân
32
1.3.1.2. Nhà nước XHCN là thiết chế chủ yếu thực thi dân chủ
34
58
cuộc sống
1.3.2.6. Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật
Chương 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN
62
65
CHỦ TRONG CƠNG CUỘC ĐỐI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về dân chủ trong thời kỳ
65
đổi mới
2.1.1. Chủ trương, đường lối của Đảng
65
2.1.2. Hiến pháp năm 1992 – nền tảng chính trị - pháp lý cho việc
67
mở rộng và phát huy dân chủ
2.1.3. Sự ra đời của Quy chế dân chủ ở cơ sở đánh dấu mốc quan
72
trọng trong quá trình xây dựng các thể chế dân chủ ở nước ta
2.2. Tình hình thực hiện dân chủ ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
84
XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
2.3.2.2.Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu phát huy
88
dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
2.3.2.3. Hoàn thiện cơ chế pháp lý đối với hoạt động giám sát và
91
phản biện xã hội
KẾT LUẬN
96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
99
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH
: Cơng nghiệp hố, hiện đại hoá
CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động, là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy
lý luận của Đảng ta”. Để thực hiện một cách triệt để và cụ thể, Nghị quyết
Đại hội IX, ngày 27-3-2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số
1
23/CT-TW “Về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ
Chí Minh trong giai đoạn mới”.
Những văn kiện trên đã cho chúng ta thấy, đây là một bước tiến mới
trong nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua đó, cũng cho chúng
ta thấy rõ, đây là quyết định của Đảng có tính định hướng quan trọng cho các
nghiên cứu khoa học tiếp tục đi sâu và tìm hiểu về tư tưởng của Hồ Chí Minh.
tư tưởng Hồ Chí Minh đã là một bộ phận chính của chuyên ngành “Hồ Chí
Minh học” thuộc ngành Khoa học Chính trị Việt Nam. Trong những năm qua,
có rất nhiều cuộc hội thảo, nhiều bài viết, nhiều cơng trình nghiên cứu khoa
học ở các cấp, các ngành về tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng vẫn chưa có cơng
trình nào đề cập tới vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc vận
dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta”.
Thực tiễn đã cho chúng ta thấy, trong việc học tập, nghiên cứu, tuyên
truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn cịn thiếu những tài liệu viết về
vấn đề tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ từ góc độ pháp lý. Đây là một vấn
đề thiết thực mà mọi người dân Việt Nam rất quan tâm. Hơn nữa, trong tác
phẩm Toàn tập, Người đã khẳng định: “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân
dân,…”[34, tr. 279].
Dân chủ đã từ lâu khơng cịn là vấn đề xa lạ. Ở mỗi quốc gia, mỗi xã hội
hay trong mỗi gia đình mọi người đều nhắc đến vấn đề dân chủ. Dân chủ tuy
là một đề tài cũ nhưng mỗi khi đề cập đến nó ln mang lại cho chúng ta
những yếu tố mới mẻ mang hơi thở của thời đại. Dân chủ và thực hiện dân
cứu khoa học “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc vận dụng vào công
cuộc đổi mới ở nước ta” để bảo vệ luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Luật học của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hơn hai mươi năm đất nước đi lên trong công cuộc đổi mới và hội nhập
thế giới là một khoảng thời gian dài cho phép chúng ta nghiên cứu, nhìn nhận
về “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc vận dụng vào công cuộc đổi
mới ở nước ta” một cách khách quan. Nhận định về giá trị tư tưởng Hồ Chí
Minh, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng có đánh giá:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
3
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và
phát triển sáng tạo của chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước
ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp…”
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ nói chung và về vấn đề dân chủ
trong việc xây dựng nhà nước và pháp luật, xây dựng chế độ kinh tế, nền văn
hoá mới… là một vấn đề có giá trị khoa học đã được rất nhiều giới lý luận
nghiên cứu. Đã có rất nhiều cuốn sách, bài nghiên cứu đề cập đến tư tưởng
Hồ Chí Minh về dân chủ nói chung và những lĩnh vực cụ thể có liên quan đến
dân chủ như nhà nước, pháp luật, kinh tế... Trong đó đáng chú ý là các tác
phẩm: Phạm Hồng Chương (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Nxb
Lý luận chính trị, Hà Nội; Phạm Thành, Nguyễn Khắc Mai (1991), Tư tưởng
dân chủ của Hồ Chí Minh, Nxb Sự thật, Hà Nội; Bùi Ngọc Sơn (2005), Tư
tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội; “Tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật”, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1995; Hồng
Văn Hảo (1995), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới - Sự hình
thành và phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Đình Lộc
3.2. Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về dân chủ, các
quan điểm truyền thống và hiện đại. Trên cơ sở đó, tác giả trình bày quan
điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong việc xây dựng trong việc xây
dựng, tổ chức bộ máy nhà nước, trong lĩnh vực lập pháp, hoạt động động của
các cơ quan hành pháp và tư pháp, mối liên hệ giữa dân chủ và pháp luật.
- Làm rõ một số nội dung chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân
chủ: xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; phát huy quyền
làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực.
- Đề cập đến một số thành tựu và hạn chế của công cuộc đổi mới đất
nước trong hơn 20 năm qua và việc Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà
nước và nhân dân, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong q trình
thực hiện đổi mới đất nước. Qua đó, đưa ra ra một số phương hướng, giải
pháp có thể áp dụng thực tế trên cơ sở tiếp thu những luận điểm sáng tạo của
Hồ Chí Minh về dân chủ.
5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ một vấn đề rộng lớn, bao trùm nhiều
lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội... Trong đề tài này tác giả khơng
tham vọng nghiên cứu tồn bộ nội dung dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh
trên mọi lĩnh vực kể trên. Tác giả chỉ đề cập một số nét cơ bản trong tư tưởng
về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; về bảo vệ và phát
huy quyền làm chủ của nhân dân. Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp để tiếp
vận dụng vào công cuộc đổi mới đất nước trong thời gian tới hiệu quả.
Thời gian nghiên cứu khảo sát từ năm 1986 - 2008.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
chuẩn xác cao, khách quan khi đánh giá, tôi đề ra một số nhiệm vụ cụ thể của
nghiên cứu như sau:
- Khảo sát, phân tích thực trạng việc vận dụng vào cơng cuộc đổi mới ở
nước ta từ năm 1986 đến nay chủ yếu trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn
hoá – xã hội.
- So sánh từng giai đoạn lịch sử, từng nhóm chủ đề để rút ra những nét
đặc trưng của dân chủ, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc vận dụng
vào công cuộc đổi mới ở nước ta.
- Tổng kết kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu, nhà lý luận về tư tưởng
Hồ Chí Minh để khái quát toàn bộ vấn đề được nghiên cứu. Đối chiếu, kiểm
tra những đánh giá của mình để tìm ra những đánh giá chung nhất nhằm định
hướng việc học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh sau này.
6. Ý nghĩa và những đóng góp về khoa học của luận văn
Nghiên cứu “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc vận dụng vào
công cuộc đổi mới ở nước ta” là thực hiện một cách cụ thể Nghị quyết Đại hội
IX của Đảng về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ
Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
Là nghiên cứu chuyển từ lý luận về tư tưởng Hồ Chí Minh sang việc
vận dụng vào cơng cuộc đổi mới ở nước ta để hoàn thiện sự hiểu biết, nâng
cao trình độ nhận thức của quần chúng nhân dân, học sinh, sinh viên, giúp họ
dễ dàng tiếp cận với tư tưởng của Người.
7
Công cuộc xây dựng đất nước của dân tộc Việt Nam cũng như của một
số nước khác trong khu vực đang đứng trước sự thử thách của hội nhập kinh
tế, chính trị và văn hố, nghiên cứu này sẽ góp phần xác định rõ hơn hướng đi
đúng đắn, nhân cách, tài năng, tư tưởng của Người.
Nghiên cứu không chỉ đánh giá những thành tựu và hạn chế mà còn nêu
Trong thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, xã hội chưa phân chia giai cấp,
chưa có khái niệm dân chủ nhưng đã tồn tại một hình thức dân chủ với tư
cách là hình thức sinh hoạt cộng đồng. Một hình thức sinh hoạt, nhờ đó mà
hoạt động của mọi thành viên trong xã hội được hướng vào tính tổ chức và
trật tự nhằm đạt mục tiêu chung. K. Marx, F. Elgel, V.I. Lenin, trong các tác
9
phẩm của mình gọi nền dân chủ quân sự là nền dân chủ nguyên thuỷ - dân
chủ sơ khai; hình thức dân chủ đầu tiên của lồi người.
Khi chưa hình thành một thiết chế xã hội đặc biệt là nhà nước để cai
quản các cơng việc chung thì do nhu cầu tồn tại của thị tộc, bộ lạc dân chủ
quân sự đã được hình thành. Qua đại hội nhân dân, nhân dân bầu ra thủ lĩnh
quân sự và quyết định mọi vấn đề quan trọng của thị tộc, bộ lạc. Thủ lĩnh
quân sự, hội đồng, đại hội nhân dân đó là những cơ quan của xã hội thị tộc đã
phát triển thành một nền dân chủ quân sự.
Dân chủ quân sự thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ là một thể chế xã hội tự
quản dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội thấp kém, tư liệu sản xuất là của
chung trong cộng đồng thị tộc, bộ lạc. Nhận xét về hình thức dân chủ này, Ph.
Ăngghen đã viết: khơng có qn đội, hiến binh và cảnh sát, khơng có quý tộc,
vua chúa, tổng đốc, trưởng quan và quan toà, khơng có nhà tù, khơng có
những vụ xử án.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự ra đời của chế độ tư
hữu và sự phân chia xã hội thành giai cấp, nền dân chủ quân sự của thời kỳ
cộng sản nguyên thuỷ tan rã.
Thay thế chế độ cộng sản nguyên thuỷ bằng chế độ chiếm hữu nô lệ
cũng đồng thời là quá trình thay thế nền dân chủ qn sự bằng nền dân chủ
chủ nơ. Đó là một bước tiến dài trong lịch sử. Từ khi xã hội bắt đầu có sự
phân chia giai cấp thì giai cấp chủ nô và nô lệ cũng xuất hiện. Cuộc đấu tranh
sản.
Trào lưu tư tưởng tư sản mang tính dân chủ tiêu biểu tiến công vào chế
độ chuyên chế phong kiến ở châu Âu, trước hết phải kể đến phong trào Văn
hoá Phục hưng (từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVI). Trong phong trào này, những
đại diện như Nicolas Copernic (1473 - 1543), William Shakespeare (1564 –
1616), Léonard de Vinci (1452 - 1519)… đã nêu cao yêu cầu tự do tư tưởng,
dân chủ trong văn hoá và khoa học, chống chủ nghĩa kinh viện, chống chủ
nghĩa thầy tu và thần học. Những yêu cầu của họ mang ý nghĩa nhân văn sâu
sắc. Đó là tư tưởng đấu tranh cho quyền sống của con người, phát triển xã hội
vì con người. Tiếp theo phải kể đến triết học duy lý, đại biểu là R. Descartes
11
(1596 - 1650) và triết học Khai sáng với các đại biểu Volte (1694 - 1778), D.
Diderot (1713 - 1784) và J.J. Rousseau (1712 - 1778). Các trào lưu triết học
này đề cao vai trò của tư duy, của lý trí, u cầu xố bỏ tình trạng tối tăm, ngu
muội của chủ nghĩa kinh viện và thầy tu. Với các nhà khai sáng, tư tưởng về
một nhà nước cộng hoà dân chủ là một bước tiến mới của tư tưởng dân chủ.
Đó là sự chuẩn bị đầy đủ về mặt tư tưởng cho cách mạng tư sản mà trực tiếp
là Cách mạng tư sản Pháp.
Chủ nghĩa tư bản được xác lập với tính cách là một chế độ xã hội, đồng
thời nhà nước của giai cấp tư sản được tổ chức theo hình thức chính thể cộng
hồ, lịch sử của nền dân chủ có bước tiến đáng kể. Các cuộc cách mạng tư sản
thắng lợi đã thiết lập quyền lực chính trị của giai cấp tư sản. Tiêu biểu là cuộc
cách mạng tư sản Pháp (năm 1789) với sự ra đời của Tuyên ngôn Nhân quyền
và Dân quyền vĩ đại. Đó là những cái mốc lịch sử của sự phát triển nền dân
chủ. Dù vẫn nằm trong khuôn khổ của chế độ tư hữu, vẫn duy trì các quan hệ
bóc lột của giai cấp tư sản, song chủ nghĩa tư bản đã làm một cuộc cách mạng
phá bung cái trật tự chuyên chế thời Trung cổ, mở đường cho sự phát triển
những nội dung mới, sắc thái mới. Các giá trị của dân chủ khơng hồn tồn
bất biến, thậm chí hiện nay nội dung của nó cũng khơng cịn y ngun như
đầu thế kỷ XX nữa.
Dân chủ được hiểu là quyền lực của nhân dân. Tuy nhiên, khái niệm dân
chủ phức tạp, bao hàm nhiều ý nghĩa khác nhau. Đó là một hình thức nhà
nước, cũng như là một nguyên tắc tổ chức pháp lý, chính trị - xã hội của nhà
nước.
Như ở trên đã phân tích, về mặt lịch sử, dân chủ đã tồn tại từ rất sớm, là
hình thức tổ chức chính trị trong điều kiện tan rã của chế độ cơng xã ngun
thủy. Điều đó có nghĩa rằng, dân chủ có trước chun chính, lâu đời hơn
chun chính. Vì vậy, khơng thể nói một cách chung chung rằng dân chủ xuất
hiện khi có nhà nước, chỉ là sản phẩm của quan hệ giai cấp và cũng khơng thể
nói thực chất của dân chủ là một quá trình, tập trung quyền lực thực sự cho
giai cấp nắm quyền. Bản thân dân chủ có nghĩa là mọi quyền lực thuộc về
nhân dân đã nói lên rằng dân chủ khơng thể là đặc quyền của một nhóm
người, càng khơng thể là đặc quyền của một người.
13
Cùng với sự phân chia giai cấp trong xã hội và với sự áp bức, độc quyền
của giai cấp thống trị thì quyền lực vốn thuộc về nhân dân đã bị giai cấp
thống trị tước đi mất. Bởi vậy mà cuộc đấu tranh giành lại dân chủ đã không
ngừng diễn ra trong lịch sử, trong xã hội có phân chia giai cấp và có đối
kháng giai cấp. Cũng vì vậy mà dân chủ được phát triển trong suốt tiến trình
lịch sử của nhân loại, trong quá trình đấu tranh giai cấp. Mặc dù dân chủ chủ
yếu là kết quả của đấu tranh xã hội, của cuộc đấu tranh chống lại mọi hình
thức áp bức, bóc lột, mọi ách nơ lệ, mọi sự chuyên chế, song dân chủ cũng
còn là kết quả của sự phát triển của tư duy, của sự nhận thức các giá trị. Vì
vậy, sự phát triển của dân chủ là một q trình và lồi người khơng thể có
Vì thế, trong thời đại ngày nay, nhiệm vụ của các chính thể là nắm bắt sự hình
thành của hệ giá trị và hướng sự phát triển của đất nước cho phù hợp với hệ
giá trị đó.
Có nhiều yếu tố tác động đến tiến trình dân chủ ở Việt Nam. Sự chuyển
đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, sự hội nhập sâu, rộng
trên phạm vi tồn cầu đóng góp một phần quan trọng vào tiến trình này. Sự
tương tác về mặt văn hóa, chính trị giữa Việt Nam với thế giới dẫn đến sự
thay đổi về hệ giá trị.
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” - Đây
cũng là những mục tiêu phản ánh phương hướng và tiêu chuẩn của tiến bộ xã
hội. Trong số những mục tiêu trên, dân chủ vừa là mục tiêu lại vừa là động
lực. Là mục tiêu bởi lẽ, chỉ với một trình độ phát triển cao của dân chủ thì con
người mới có được sự phát triển tồn diện, có được sự tự do và hạnh phúc; chỉ
với một trình độ phát triển cao của dân chủ thì mới có được xã hội tiến bộ,
văn minh. Dân chủ là động lực bởi vì, chỉ với việc đẩy mạnh dân chủ hóa đời
sống xã hội, con người mới có được sự tự nhận thức, sự tự do, sự tự chịu trách
nhiệm. Điều đó cũng đồng nghĩa với một nguồn lực khổng lồ những năng
lượng sáng tạo của con người được giải phóng và định hướng, tổ chức thành
những nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của con người, thúc đẩy tiến bộ xã
hội.
15
1.1.3. Điều kiện tồn tại của một nền dân chủ
Về bản chất, dân chủ liên quan chặt chẽ tới các nguyên tắc quyền con
người. Do vậy, quyền con người đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm
dân chủ. Tự do là quyền căn bản của con người, từ quyền tự do sinh sống, tự
do đi lại, tự do mưu cầu hạnh phúc, tự do ngơn luận, tự do tín ngưỡng, tự do
hội họp, tự do bầu cử. Tất cả những quyền tự do căn bản này đã được ghi
một nền dân chủ. Tuy nhiên, hiện nay, có rất nhiều ý kiến nhất trí cho rằng,
một nền dân chủ muốn hình thành và hồn thiện cịn phải dựa vào một số điều
kiện kinh tế, chính trị, văn hố và xã hội nhất định: Kinh tế thị trường, nhà
nước pháp quyền, trình độ dân trí, văn hố của người dân v.v..
Về điều kiện kinh tế: Cần có một nền kinh tế ổn định và phát triển [20,
tr. 140]. Kinh tế và chính trị gắn bó mật thiết với nhau và mỗi chế độ chính trị
chỉ có thể phù hợp với một số thể chế kinh tế và thể chế kinh tế ảnh hưởng
đến quá trình phát triển của xã hội tự do. Mặt khác, tự do kinh tế là phương
tiện của tự do chính trị vì thể chế kinh tế có ảnh hưởng đến việc tập trung và
phân tán quyền lực. Nhiều nhà khoa học đã coi tự do kinh tế và sở hữu tư
nhân là cơ sở của nền dân chủ [65].
Có thể nói rằng, sự phát triển kinh tế đảm bảo cho triển vọng của nền
dân chủ, đến hành vi, quan điểm của công dân, tạo ra các khả năng để nâng
cao trình độ văn hố, chính trị của tồn xã hội. Sự phát triển kinh tế là điều
kiện cơ bản và cần thiết cho việc kiến tạo một nền dân chủ. Nhưng mặt khác
cũng cần thấy rằng, việc xây dựng một nền dân chủ khơng phụ thuộc hồn
tồn vào điều kiện kinh tế. Kinh tế tạo điều kiện để xây dựng dân chủ, nhưng
dân chủ cũng tạo điều kiện cho phát triển kinh tế. Cũng cần thấy rằng, dân
chủ đã tạo điều kiện phân phối công bằng hơn phúc lợi xã hội, nhờ vậy, kích
thích sự phát triển kinh tế. Mối quan hệ nhân - quả ở đây là tương đối và có
thể chuyển đổi cho nhau. Chúng ta đã biết, kinh tế có ý nghĩa quyết định cuối
cùng đối với chính trị và chính trị có ý nghĩa quyết định trực tiếp cho phát
triển kinh tế. Nguyên lý ấy cũng đúng trong trường hợp thiết lập một chế độ
dân chủ. Nhận thức đúng vấn đề có ý nghĩa to lớn trong thực tiễn. Bởi khơng
ít người chưa thấy được tính tích cực của dân chủ trong phát triển kinh tế,
17
muốn chờ đợi cho đến khi có điều kiện kinh tế phát triển cao mới xây dựng
phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí”[31, tr. 44]. Nhờ chủ
trương đúng đắn này, chỉ sau thời gian ngắn, dưới chế độ mới, đa số nhân dân
đã hiểu rõ quyền lợi và bổn phận của mình mà ra sức học tập. Nhiều người
nhờ học tập mà đã tự tay viết lá phiếu bầu những đại biểu của mình vào Quốc
hội đầu tiên, góp phần thiết thực vào việc xây dựng một chế độ mới, xây dựng
nền dân chủ mới.
Như trên đã phân tích, về bản chất, dân chủ liên quan chặt chẽ tới các
nguyên tắc quyền con người và không thể thực hiện chức năng nếu không
đảm bảo đầy đủ việc tôn trọng và bảo vệ phẩm giá con người. Muốn vậy, phải
có những thiết chế quyền lực hữu hiệu để đảm bảo quyền con người được
thực thi trên thực tế. Từ ý nghĩa đó, lý thuyết về nhà nước pháp quyền ra đời
và được các quốc gia dần đưa nó trở thành hiện thực. Về mặt lý thuyết, có
nhiều quan điểm khác nhau về nhà nước pháp quyền nhưng nhìn chung nó
mang các đặc trưng cơ bản như: Thừa nhận và tôn trọng tính tối cao của luật,
quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền, dùng quyền
lực để kiểm tra và giám sát quyền lực; Con người là mục tiêu và giá trị cao
nhất; trong quan hệ quốc tế, nhà nước bảo đảm thực hiện một cách tận tâm
các cam kết quốc tế.
Nhìn lại tiến trình lịch sử nhân loại, toàn bộ tư tưởng, học thuyết và
thiết chế nhà nước pháp quyền ra đời và phát triển là do yêu cầu của dân chủ.
Trong mối quan hệ với nhà nước pháp quyền thì dân chủ vừa là mục tiêu vừa
là điều kiện của nhà nước pháp quyền. Ngược lại, nhà nước pháp quyền cũng
là điều kiện cho việc đảm bảo hệ thống thiết chế dân chủ và phương thức hoạt
động của một nhà nước dân chủ. Không phải nhà nước nào cũng là dân chủ,
nhưng bất cứ nền dân chủ nào cũng phải được thiết lập qua nhà nước. Nhà
nước pháp quyền xác lập những cơ chế, thiết chế thực hiện các quyết định dân
chủ dưới hình thức luật, duy trì trật tự và tự do cơng cộng như là những điều
kiện các các biểu hiện của dân chủ. Nhà nước pháp quyền – quyền lực thuộc
cấp tư sản và giai cấp công nhân. Xã hội tư bản phát triển trên cơ sở ai làm
chủ tư liệu sản xuất thì sẽ làm chủ về chính trị. Do đó, nền dân chủ tư sản
ngày càng bộc lộ rõ là một nền dân chủ hạn chế, nền dân chủ của một số ít kẻ
bóc lột. Cơ sở tinh thần (tư tưởng) của nền dân chủ tư sản nhấn mạnh và
20
tuyên truyền tinh thần dân chủ đa nguyên, nhưng trên thực tế giai cấp tư sản
vẫn ln tìm mọi biện pháp bảo đảm địa bị độc tôn của ý thức hệ tư sản, ngăn
chặn mọi sự phát triển và truyền bá các tư tưởng cách mạng tiến bộ của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động.
Dân chủ tư sản càng được củng cố thì những mâu thuẫn của nó càng
bộc lộ gay gắt. Trong khuôn khổ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, quyền
lực thực sự của nhân dân là khơng thể có được. Trước áp lực đấu tranh đòi
quyền dân chủ của nhân dân, đe doạ lợi ích của giai cấp tư sản và sự tồn tại
của nền dân chủ tư sản, giai cấp tư sản đưa ra nhiều thủ đoạn xảo quyệt để
hạn chế quyền tự do của nhân dân. Như vậy, dưới nền dân chủ tư sản, cuộc
đấu tranh đòi dân chủ và dân chủ hố khơng ngừng tiếp diễn.
Do những mâu thuẫn và hạn chế của nền dân chủ tư sản, trong quá trình
phát triển của xã hội loài người, tất yếu ra đời một nền dân chủ cao hơn, đó là
nền dân chủ XHCN. Đây là nền dân chủ cho đại đa số người - dân chủ của
nhân dân lao động dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Nền dân chủ
này giành được do kết quả thắng lợi của cuộc đấu tranh lâu dài vì tiến bộ xã
hội của nhân dân lao động. Về chính trị, nền dân chủ XHCN thể hiện qua sự
lãnh đạo chính trị của giai cấp cơng nhân thơng qua Đảng Cộng sản đối với
tồn xã hội, thực hiện quyền lực và lợi ích của tồn thể nhân dân lao động, mà
trong đó có giai cấp công nhân. Về kinh tế, nền dân chủ XHCN dựa trên chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội, đáp ứng sự phát triển
ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa học công nghệ hiện