Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ vật chất với ý thức và vận dụng vào công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay - Pdf 27

Phạm Thị Thuỳ Linh – Anh 8 - Khối 2 TC - K48
Tiểu luận môn Triết học
Đề tài 1: Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ vật chất với ý thức và vận
dụng vào công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay.
LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới quan xung quanh ta dù phong phú, đa dạng đến đâu, dù trong điều kiện
hoàn cảnh lịch sử xã hội như thế nào cũng đều quy về hai dạng tồn tại là: vật chất và
ý thức. Theo quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, vật chất là cái
có trước, ý thức là cái có sau, vật chất quyết định ý thức, nhưng đồng thời ý thức
cũng tác động trở lại vật chất. Trên thực tế có rất nhiếu quốc gia trong đó có Việt
Nam đã tìm ra con đường đi cho mình từ lý luận trên. Chính sự nhận thức đúng đắn
về mối liên hệ giữa vật chất và ý thức mà Đảng và nhà nước ta đã có hướng đi đúng
đắn cho đất nước, cho dân tộc.
Bài tiểu luận với đề tài “Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ vật chất
với ý thức và vận dụng vào công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay” sẽ phân tích và
làm rõ những lý luận chung nhất về vật chất - ý thức, mối quan hệ biện chứng giữa
vật chất và ý thức và sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo những lý luận trên vào thực tiễn
công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
I- Lý luận chung về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý
thức :
1. Vật chất
1.1 Định nghĩa vật chất :
 Định nghĩa :
Trong tác phẩm “ Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán’’,
V.I.Lênin đã định nghĩa: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách
quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chúng ta chép lại,
chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
 Trong định nghĩa trên, ta cần lưu ý :
Lênin chỉ rõ :vật chất là một phạm trù triết học. Như vậy phạm trù vật chất của
Triết học là một phạm trù có tính khái quát nhất, không giống với khái niệm vật chất
trong một số ngành khoa học cụ thể, hay trong đời sống thường ngày. Vì vậy, không

không bao giờ mất đi, chỉ chuyển hóa từ hình thức vận động này sang hình thức
vận động khác.
 Các hình thức vận động cơ bản của vật chất :

Ph.Ăngghen dựa vào thành tựu khoa học đương thời đã chia vận động thành 5
hình thức vận động cơ bản sau :
Vận động cơ học
Vận động vật lý
Vận động hóa học
Vận động sinh học
Vận động xã hội.
- 2 -
Phạm Thị Thuỳ Linh – Anh 8 - Khối 2 TC - K48
Các hình thức vận động tương ứng với trình độ nhất định của tổ chức vật chất.
Giữa các hình thức vận động có mối liên hệ phát sinh, nghĩa là hình thức vận động
cao nảy sinh trên cơ sở hình thức vận động thấp. Tuy nhiên, hình thức vận động
cao có sự khác biệt về chất và không thể quy đổi về hình thức vận động thấp.
 Vận động và đứng im :
Theo Triết học Mác – Lênin, đứng im là biểu hiện của một trạng thái vận động , đó
là sự vận động trong thăng bằng, trong sự ổn định tương đối.
Đứng im là tương đối, vận động là tuyệt đối vì : vật chất chỉ đứng im trong một quan
hệ nhất định, một hệ quy chiều nhất định ; đứng im chỉ xảy ra trong một hình thức vận
động và chỉ xảy ra trong một khoảng thời gian xác định, ngay trong thời gian đó cũng
nảy sinh những nhân tố dẫn đến phá vỡ sự đứng im đó.
1.3 Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất :
 Định nghĩa về không gian và thời gian :
Nếu như chủ nghĩa duy tâm phủ định tính khách quan của không gian và thời
gian, các nhà siêu hình coi không gian và thời gian tồn tại độc lập không phụ thuộc
vật chất thì theo Triết học duy vật biện chứng : Không gian là hình thức tồn tại của vật
chất xét về mặt quảng tính, biểu hiện sự cùng tồn tại và tách biệt của các sự vật, biểu

là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người.
Nói tóm lại, não người và sự phản ánh thế giới khách quan vào não người chính
là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
 Nguồn gốc xã hội :
Triết học duy vật biện chứng chỉ ra rằng chính lao động và ngôn ngữ là hai nguồn
gốc xã hội quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của ý thức. Chính lao
động đã đóng vai trò quyết định trong việc chuyển biến từ vượn thành người, làm cho
con người khác với tất cả các động vật khác. Lao động giúp con người cải tạo thế giới
và hoàn thiện chính mình. Thông qua lao động, não người ngày càng hoàn thiện, phát
triển giúp tư duy trừu tượng phát triển. Hơn nữa, chính lao động là cơ sở hình thành,
phát triển của ngôn ngữ. Sự ra đời của ngôn ngữ lại giúp con người phản ánh sự vật
khái quát hơn. Điều này càng thúc đấy tư duy trừu tượng phát triển. Đây là hai yếu tố
quan trọng để phát triển ý thức.
Như vậy, lao động và ngôn ngữ là hai sự kích thích chủ yếu để biến bộ não vượn
thành não người, phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh ý thức.
2.2 Bản chất của ý thức :
Triết học duy vật biện chứng cho bản chất của ý thức là sự phản ánh thế giới
khách quan vaò bộ não người trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Cho nên, ý thức là hình
ảnh chủ quan của thế giới khách quan, ý thức là hình ảnh chứ không phải là bản thân
sự vật ; ý thức là hình ảnh của bản thân sự vật được thực hiện trong bộ não con người.
Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới khách quan vào bộ não người, nghĩa là
phản ánh ý thức, không phải bản copy. Phản ánh ý thức là tích cực, chủ động. Nghĩa
là con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn, chủ động tác động vào sự vật, hiện tượng
làm cho chúng bộc lộ thuộc tính, tính chất của mình, qua đó con người có hiểu biết về
sự vật, hiện tượng. Hơn nữa con người còn biết vận dụng tri thức để nhận thức và cái
tạo thế giới khách quan. Phản ánh ý thức luôn mang bản chất xã hội. Bởi lẽ, ý thức
luôn là sản phẩm của sự phát triển của xã hội, dựa trên hoạt động thực tiễn xã hội, các
quan hệ xã hội. Con người tách rời khỏi xã hội sẽ không thể có ý thức.
2.3 Kết cấu của ý thức :
- 4 -

vật chất và các điều kiện vật chất liên quan.
 Việc nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức có ý nghĩa to
lớn và thiếu thực khi áp dụng vào nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Trong hoạt động nhân thức và hoạt động thực tiễn cần phải luôn luôn xuất phát từ
thực tế khách quan, tôn trọng quy luật khách quan. Nghĩa là phải có quan điểm khách
quan trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Ý thức có tính độc lập tương đối, có thể
tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Vì vậy, phải
thấy được vai trò tích cực của nhân tố ý thức trong việc sử dụng có hiệu quả nhất các
điều kiện vật chất hiện có. Cần tránh việc tuyệt đối hoá vai trò duy nhất của vật chất
trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Nghĩa là cần chống lại chủ nghĩa khách
quan, thái độ thụ động, trông chờ, ỷ lại vào điều kiện vật chất. Mặt khác, cần chống
- 5 -
Phạm Thị Thuỳ Linh – Anh 8 - Khối 2 TC - K48
lại bệnh chủ quan, duy ý chí, tuyệt đối hoá vai trò của ý thức, tinh thần, hạ thấp đánh
giá không đúng vai trò của các điều kiện vật chất trong hoạt động thực tiễn.
Trước năm 1986, đất nước ta đã gặp rất nhiều khó khăn trì trệ, một hệ thống quản lí
yếu kém cũng là do một phần không nhận thức đúng là đầy đủ về mối quan hệ giữa
vật chất và ý thức. Vấn đề này đã được nhận thức đúng sau đổi mới ở đại hội VI, và
quả nhiên đã giành rất nhiều thắng lợi sau khi đã chuyển nền kinh tế từ cơ chế quan
liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Trong phần tiếp theo của bài tiểu luận này, chúng ta sẽ cùng vận dụng mối quan hệ
biện chứng giữa vật chất và ý thức theo quan điểm của phép duy vật biện chứng vào
công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện tại.
II. Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức vào
công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện nay :
1. Công cuộc đổi mới của đất nước phải nhận thấy nguyên lý vật chất quyết
định ý thức là phải xuất phát từ những điều kiện khách quan và giải
quyết những nhiệm vụ thực tiễn đặt ra trên cơ sở tôn trọng sự thật :
Như chúng ta đã biết, sau ngày 30/4/1975, nhà nước ta phát triển XHCN và xem

và những thay đổi hiện nay của thời đại, giới triết học đã chú ý nghiên cứu bản chất
và hiệu quả xã hội có tính toàn cầu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, biện
chứng của thời đại, từ đó rút ra những vấn đề có ý nghĩa thực tiễn cho quá trình đổi
mới xã hội ta. Đồng thời khi phê phán những sai lầm của bệnh giáo điều và bệnh kinh
nghiệm trong cán bộ ta thì những nguyên tắc phương pháp luận của tư duy mới - tư
duy biện chứng duy vật, vai trò của lý luận nhất là lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin
và đổi mới công tác lý luận cũng được chú ý trong nghiên cứu và giảng dạy triết học.
Để phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp đổi mới xã hội ta như giải quyết vấn đề sở hữu,
quan hệ giữa các thành phần kinh tế, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của
hệ thống chính trị… giới triết học vừa qua cũng đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề như
phép biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa kinh tế và chính
trị, giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, vấn đề dân chủ hóa. Vấn đề con
người cũng đã thu hút sự nghiên cứu của các nhà triết học và gắn liền với nó là những
động lực hoạt động của con người như nhu cầu, lợi ích…
Để thực hiện những nghiên cứu trên đây, việc nghiên cứu và giảng dạy triết học từ
Đại hội VI đến nay đã có những đổi mới nhất định. Hoạt động nghiên cứu ít khuôn
sáo hơn, cởi mở hơn, mạnh dạn hơn, tính chất minh họa, xuôi chiều tô hồng đã giảm
bớt, có thay đổi đáng kể trong việc đánh giá các trào lưu triết học ngoài mácxít, đã
chú ý hơn đến quan điểm cá nhân và gắn hơn với thực tiễn của CNXH trong nghiên
cứu.Những thay đổi trên đây đã được phản ánh trên các Tạp chí, sách báo.
Công tác giảng dạy triết học có chuyển biến theo hướng đổi mới nội dung và
phương pháp dạy và học, khắc phục một bước – sự lạc hậu trên lĩnh vực này. Trước
hết, đã đổi mới bước đầu chương trình và sách giáo khoa triết học theo hướng tăng
thêm nhiều kiến thức lịch sử triết học, thống nhất chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử, giảm bớt việc trích kinh điển, trích nghị quyết giảm bớt
việc minh họa các quan điểm chính trị của Đảng chú ý gắn chặt hơn với thực tiễn của
CNXH, với thời đại, chú ý khai thác nhiều hơn ý nghĩa phương pháp luận của các quy
luật, phạm trù của triết học Mác-Lênin… Đã tổ chức nhiều cuộc tập huấn về chương
trình triết học mới cho giảng viên triết học trong hệ thống các trường đại học và các
trường Đảng. Về phương pháp giảng dạy, đã giảm bớt tính chất áp đặt, một chiều

chuyển nền kinh tê quan liêu bao cấp sang nền kinh tế cơ chế thị trường - mở cửa theo
định hướng XHCN. Để thực hiện được bước chuyển ấy, khâu đầu tiên có ý nghĩa
quyết định là phải đổi mới tư duy phát triển. Quá trình đổi mới tư duy phát triển trên
thực tế là quá trình đấu tranh về mặt lý luận và tư tưởng nhằm đạt đến nhận thức mới
về chủ nghĩa xã hội và về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Trước hết,
với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật ", Đại hội
VI đã kiểm điểm và đánh giá theo tinh thần phê phán những sai lầm chủ quan, duy ý
chí, lối suy nghĩ và hành động nóng vội, chủ quan, không tôn trọng và hành động theo
quy luật khách quan. Đại hội đã rút ra 4 bài học lớn, trong đó 2 bài học đầu tiên là
"Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng "lấy dân làm gốc ",
xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động " và "Đảng phải luôn
luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan ". Những
bài học trên đây là cơ sở quyết định để từ bỏ lối tư duy sáo mòn, kinh viện; tập trung
trí tuệ của toàn Đảng vào việc tìm kiếm và lựa chọn một tư duy mới, một chiến lược
phát triển mới, có khả năng đáp ứng tốt nhất đòi hỏi của nhân dân. Đại hội Đảng VI
trở thành sự kiện đánh dấu bước ngoặt phát triển là nhờ nó quán triệt sâu sắc nguyên
tắc: nếu không có sự phê phán và tự phê phán nghiêm túc, sẽ không thể có bất kỳ một
sự đổi mới nào, kể cả đổi mới tư duy.
Nội dung cốt lõi của tư duy đổi mới là bước chuyển từ quan niệm kinh tế xã hội
chủ nghĩa là một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp, phải được xây dựng
ngay trong thời kỳ quá độ sang khẳng định phải phát triển trong thời kỳ quá độ một
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chê thị trường, có sự quản lý
của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là nền kinh tê thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Về thực chất, đây là sự đổi mới tư duy phát triển.
Sự đổi mới tư duy phát triển ấy hướng tới sự đổi mới triệt để và toàn diện phương
thức phát triển nhưng không đổi hướng phát triển: mục tiêu của phát triển vẫn là đạt
tới chủ nghĩa xã hội. Nhưng phương thức phát triển thì có những đổi mới căn bản. Đó
là: Bước chuyển từ quan niệm cũ về nền kinh tế trong thời kỳ quá độ, theo đó, trong
nền kinh tế ấy thành phần kinh tê xã hội chủ nghĩa (gồm kinh tế quốc doanh và kinh
tế tập thể) với sở hữu công cộng (gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) giữ vị trí

Bên cạnh đó, trong thời đại hiện nay, khi Việt Nam đang mở cửa hội nhập cùng thế
giới trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, giáo dục…việc chú trọng đào tạo và
rèn luyện thế hệ trẻ của Việt Nam về “ý thức”, lập trường, tư tưởng là hết sức quan
trọng. Điều này đòi hỏi một sự đầu tư thích đáng cho giáo dục và đào tạo. Bên cạnh
việc đào tạo về tri thức, lối sống, khả năng hội nhập cùng nhịp phát triển của thế giới
còn cần phải có sự giáo dục về văn hoá, tư tưởng giữ gìn bản sắc dân tộc. Đào tạo
nhân tố “con người” có thể được xem như chìa khoá nòng cốt cho bước nhảy vọt của
cả một nền kinh tế, một xã hội, một đất nước trong tương lai. Đó cũng chính là minh
chứng cho sự tác động tích cực của ý thức đối với vật chất.
- 9 -
Phạm Thị Thuỳ Linh – Anh 8 - Khối 2 TC - K48
KẾT LUẬN
Công cuộc đổi mới là một sự nghiệp rất khó khăn ,phức tạp, nó như cuộc kháng
chiến trường kì của Đảng và nhà nước.Với những biến động trước tình hình kinh tế
của nhiều nước trên thế giới đòi hỏi Đảng và nhà nước phải kiên trì ,giữ vững lòng
tin, quyết tâm khắc phục khó khăn ,đồng thời phải tỉnh táo, nhạy bén thích ứng kịp
thời với thực tế biến đổi từng ngày từng giờ.
Ta hoàn toàn có thể khẳng định, công cuộc đổi mới ở Việt Nam ngày càng đúng
đắn ,chính vì Đảng ngày càng nắm vững và vận dụng đúng đắn phương pháp luận
triết học của chủ nghiã Mác-Lênin như mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý
thức, mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị…Hơn thế nữa, lòng tin của
nhân dân vào bộ máy lãnh đạo của Đảng và nhà nước ngày càng tăng cao. Ngoài ra
còn tăng truởng về tổng sản phẩm quốc dân ,về tốc độ thu hút vốn đầu tư nước ngoài,
về xuất khẩu … Bên cạnh những thành công đáng kể đã đạt được, trong giai đoạn sắp
tới, Đảng và nhà nước cần vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo những lý luận
của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn để hoàn thành xuất sắc công cuộc đổi mới,
đưa đất nước Việt Nam hội nhập cùng Thế giới.
- 10 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status