VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ HỒNG HÀ
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT
GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀ SỰ VẬN DỤNG
VÀO VIỆC GIẢNG DẠY LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2020
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ HỒNG HÀ
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT
GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀ SỰ VẬN DỤNG
VÀO VIỆC GIẢNG DẠY LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
NGÀNH: CNDVBC & CNDVLS
MÃ SỐ : 9229002
Cán bộ, đảng viên
CNTB
Chủ nghĩa tư bản
CNCS
Chủ nghĩa cộng sản
GDLLCT
Giảng dạy lý luận chính trị
LLCT
Lý luận chính trị
Nxb
Nhà xuất bản
TBCN
Tư bản chủ nghĩa
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng
dạy lý luận chính trị............................................................................................... 61
2.3.1. Khái niệm lý luận chính trị, giảng dạy lý luận chính trị theo tư tưởng Hồ Chí
Minh............................................................................................................................... 61
2.3.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
giảng dạy lý luận chính trị..............................................................................................68
Chương 3. THỰC TRẠNG VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ
THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG GIẢNG DẠY LÝ
LUẬN CHÍNH TRỊ TẠI CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 89
3.1. Những vấn đề đặt ra trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn giảng dạy lý luận chính trị tại các trường chính trị ở
Việt Nam hiện nay................................................................................................. 89
3.1.1. Một số khái niệm cơ bản......................................................................................89
3.1.2. Những nhân tố tác động đến việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị tại các trường chính trị ở
Việt Nam hiện nay..........................................................................................................92
3.1.3. Những yêu cầu cần đạt được trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị........................ 105
3.2. Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị tại các trường chính trị ở Việt Nam hiện
nay....................................................................................................................... 112
3.2.1. Những thành tựu đạt được trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị và nguyên nhân
của nó........................................................................................................................... 112
3.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong GDLLCT tại các trường chính trị ở Việt Nam
hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động thực tiễn, vạch ra phương hướng, phương pháp
giúp hoạt động thực tiễn đi tới thành công. V.I. Lênin khẳng định: “Không có lý
luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng” [60, tr.30]. Vì vậy,
trong mọi hoạt động của con người cần thiết phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa lý
luận với thực tiễn. Một mặt, phải vận dụng sáng tạo lý luận để chỉ đạo thực
tiễn, mặt khác, phải biết phân tích, tổng kết thực tiễn để khái quát thành lý luận.
Không vận dụng đúng đắn mối quan hệ này thì hoạt động của con người không
thể có hiệu quả. Hồ Chí Minh đã nhận định: “Thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn và một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có
lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng, lý luận mà không có liên hệ
với thực tiễn là lý luận suông” [81, tr.95].
Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới.
Cuộc đời và sự nghiệp của Người là hình mẫu chuẩn mực về sự thống nhất
giữa nói và làm, giữa lý thuyết và thực hành, giữa nhận thức và hành động,
giữa lý luận và thực tiễn. Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo lý luận khoa học
và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta,
đưa đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cũng chính từ thực tiễn cách
mạng Việt Nam, Người đã đúc kết thành một hệ thống lý luận, soi đường cho
con đường phát triển của dân tộc, góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng
giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, làm phong phú và phát triển lý luận của
chủ nghĩa Mác – Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống lý luận khoa
học và toàn diện, gắn với thực tiễn cách mạng Việt Nam, thể hiện trên nhiều
lĩnh vực. Dù trên bất kỳ lĩnh vực nào, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn thể hiện sâu
1
sắc sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Việc nghiên cứu, tiếp thu và vận
dụng hệ thống tư tưởng của Người là yêu cầu tất yếu của Đảng và mỗi CB,
ĐV.
Sinh thời, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác GDLLCT, nhằm xác
GDLLCT. Do đó, giảng viên GDLLCT phải được tuyển chọn cẩn thận, phải là
người thực sự mẫu mực về mọi mặt, bản lĩnh chính trị vững vàng, sâu sắc lý
luận, kiến thức thực tiễn phong phú.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta xem công tác GDLLCT là
nhiệm vụ cơ bản trong công tác tư tưởng. Tuy nhiên, thực tiễn thường xuyên
biến đổi, lý luận lại có khuynh hướng tương đối ổn định, thường phát triển
không theo kịp thực tiễn. Hiện nay, bối cảnh thế giới và trong nước có những
thay đổi nhanh chóng về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Công tác GDLLCT
ở
nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn
chế, nhất là công tác GDLLCT: mang tính hình thức, bệnh thành tích, giáo
điều, nội dung chương trình và phương pháp đào tạo chậm đổi mới, chưa gắn
lý luận với tổng kết thực tiễn…Trong Nghị quyết số 32-NQ/TW (ngày 26
tháng 5 năm 2014) của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng
công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, Đảng ta nhận
định rằng, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đào tạo, bồi dưỡng
LLCT còn những hạn chế nhất định: “Nội dung, chương trình đào tạo, bồi
dưỡng chậm được đổi mới, bổ sung, cập nhật, còn trùng lặp, chưa đáp ứng yêu
cầu nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn, rèn luyện tư tưởng chính trị, đạo
đức, phong cách lãnh đạo, quản lý. Phương pháp giảng dạy, học tập chậm
được đổi mới, nặng về truyền đạt kiến thức, chưa phát huy được tính tích cực,
sáng tạo của học viên...” [136].
Hiện nay, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục xuyên tạc lý luận Mác – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, chống phá công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta,
đặc biệt là chúng tăng cường “diễn biến hoà bình”, làm cho một bộ phận CB,
ĐV “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, biểu hiện ở cả trong nhận thức, niềm tin
và hành động. Đó là sự suy giảm về tư tưởng chính trị, ngày càng xa rời mục
tiêu CNXH, lý tưởng cách mạng. Nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ đưa đến
Thứ ba, phân tích thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn trong GDLLCT tại các trường chính trị ở Việt
Nam hiện nay.
Thứ tư, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GDLLCT
theo tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn tại các
trường chính trị ở Việt Nam hiện nay.
4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự
vận dụng tư tưởng này trong việc GDLLCT tại các trường chính trị tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn, nhất là trong GDLLCT. Sự vận dụng tư tưởng
này trong việc GDLLCT tại các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương ở Việt Nam hiện nay.
4.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác GDLLCT ở Việt Nam. Đồng thời luận án
còn kế thừa một số thành tựu của các công trình nghiên cứu của các nhà khoa
học có liên quan đến luận án.
quá trình tìm hiểu các tư liệu có liên quan đến lý luận về sự thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn, khi đánh giá về thực trạng GDLLCT tại các trường chính trị
ở
Việt Nam hiện nay. Phương pháp này còn được sử dụng khi vận dụng, kế
thừa các ý kiến và những nhận xét, đánh giá của các nhà khoa học nghiên cứu
tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, các giảng viên làm công tác nghiên cứu và
GDLLCT.
-
Phương pháp so sánh - đối chiếu: Phương pháp này được sử dụng khi
phân tích và chứng minh sự vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận của triết học
Mác – Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận, thực tiễn và mối quan hệ
của chúng, về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong GDLLCT.
Các phương pháp trên được chúng tôi sử dụng lồng ghép với nhau nhằm
thực hiện những nhiệm vụ luận án đã đặt ra.
5. Những đóng góp mới của luận án
-
Luận án phân tích, khái quát và hệ thống hoá nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh
về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, nhất là trong GDLLCT.
-
Luận án làm rõ thực trạng việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn trong GDLLCT tại các trường chính trị ở Việt
Nam hiện nay.
Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm 4 chương, 12 tiết.
7
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về
sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Đảng ta đã khẳng định:
Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Tư tưởng Hồ Chí Minh
được các nhà khoa học nghiên cứu một cách công phu, có hệ thống trên nhiều
lĩnh vực như: triết học, chính trị, văn hoá, đạo đức, giáo dục, ngoại giao...
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
có các công trình tiêu biểu như sau:
Giáo sư Trần Văn Giàu đã dày công nghiên cứu sự phát triển của tư tưởng
Việt Nam (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 1996), với ba tập
gồm: tập 1, Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng
tháng Tám: Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ
lịch sử; tập 2, Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách
mạng tháng Tám: Hệ ý thức tư sản và sự bất lực của nó trước các nhiệm vụ
lịch sử; tập 3, Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách
mạng tháng Tám: Thành công của chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh.
Đây là công trình nghiên cứu công phu về sự phát triển tư tưởng Việt
Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám. Từ việc phân tích bối cảnh
điều kiện Việt Nam là cơ sở quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là tài
liệu có giá trị, chúng tôi sẽ kế thừa trong quá trình phân tích cơ sở hình thành
tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Tác giả Phạm Ngọc Anh (chủ biên): Triết lý phát triển Hồ Chí Minh – giá
trị lý luận và thực tiễn (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009). Các tác giả đã
phân tích nguồn gốc hình thành triết lý phát triển Hồ Chí Minh, một trong
những nguồn gốc quan trọng là giá trị hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh.
Về nội dung của triết lý phát triển Hồ Chí Minh, cuốn sách tập trung phân tích
quan điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu và con đường phát triển của xã hội
Việt Nam; về mô thức phát triển đất nước trong triết lý phát triển Hồ Chí
Minh; về động lực và các nguồn lực phát triển dân tộc theo triết lý phát triển
9
Hồ Chí Minh… Kết quả nghiên cứu của công trình cho chúng ta thấy rằng: cơ
sở quan trọng hình thành triết lý Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí
Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nói riêng từ chính quá trình
trải nghiệm thực tiễn, từ nhân tố chủ quan của bản thân Hồ Chí Minh: với
phong cách tư duy khoa học và cách mạng; độc lập, tự chủ, sáng tạo, đặc biệt
là năng lực tổng kết thực tiễn...
Tác giả Mạch Quang Thắng (chủ biên): Nhân cách Hồ Chí Minh (Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010). Các tác giả đã chứng minh, Hồ Chí Minh có
một nhân cách cao đẹp, vĩ đại, đã để lại dấu ấn sâu đậm trong quá trình phát
triển của nhân loại thế kỷ XX, góp phần làm phong phú thêm những giá trị
chung của loài người. Qua đó, các tác giả đã làm rõ các nhân tố khách quan và
chủ quan tác động đến sự hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách Hồ Chí
Minh như: nhân tố gia đình, quê hương, nhân tố truyền thống văn hóa dân tộc
Việt Nam, nhân tố thời đại, phẩm chất cá nhân con người Hồ Chí Minh... Cùng
tác giả Mạch Quang Thắng với bài viết: Tư tưởng Hồ Chí Minh – Dòng chảy
tiếp nối chủ nghĩa Mác – Lênin (Tạp chí Lý luận chính trị, số 07/2020), đã chỉ
đến nhận định rằng, khi bàn về khái niệm lý luận, Hồ Chí Minh đã thể hiện rất
rõ quan điểm biện chứng, đặt trong mối quan hệ với thực tiễn. Lý luận là sự
tổng kết kinh nghiệm thực tiễn mà thành, nhưng lý luận chân chính là lý luận
phải được chứng minh trong thực tế. Chúng tôi tán thành với những nhận định
này. Điều này thể hiện rõ nhất trong quan điểm của Hồ Chí Minh về lý luận,
thể hiện trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc: “Lý luận là đem thực tế trong
lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so sánh thật kỹ
lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi đem nó chứng minh với thực tế. Đó là
lý luận chân chính” [75, tr.273] và thể hiện trong Bài nói chuyện tại Trường
Nguyễn Ái Quốc vào năm 1957: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm
của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại
trong quá trình lịch sử” [81, tr.96].
Về khái niệm thực tiễn trong tư tưởng Hồ Chí Minh, các tác giả đã chỉ ra
rằng, Hồ Chí Minh thường dùng khái niệm thực tế thay cho thực tiễn. Mặc dù
hai khái niệm này có nội hàm khác nhau. Thực tế rộng hơn thực tiễn. Hồ Chí
Minh tiếp cận khái niệm thực tiễn đúng như quan điểm của triết học Mác –
Lênin – là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử xã hội
của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Với khái niệm thực tế, được
Hồ Chí Minh lý giải: “Thực tế là các vấn đề mình phải giải quyết, là mâu thuẫn
của sự vật. Chúng ta là những người cán bộ cách mạng, thực tế của chúng ta là
11
những vấn đề mà cách mạng đề ra cho chúng ta giải quyết. Thực tế bao gồm
rất rộng. Nó bao gồm kinh nghiệm công tác và tư tưởng của cá nhân, chính
sách và đường lối của Đảng, kinh nghiệm lịch sử của Đảng cho đến các vấn đề
trong nước và trên thế giới” [81, tr.96].
Chúng tôi đồng tình với cách giải thích trong cuốn sách: Tác giả Lê Hữu
Nghĩa (Chủ biên): Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh (Nxb Lao động, Hà Nội,
2000): Hồ Chí Minh thường dùng khái niệm thực tế hơn khái niệm thực tiễn,
quan tâm đến công tác giáo dục LLCT, chủ yếu là công tác GDLLCT cho CB,
ĐV. Ngay từ năm 1925, khi thành lập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh
niên, Người đã xây dựng nội dung, chương trình, biên soạn tài liệu, trực tiếp
lên lớp truyền đạt những vấn đề cơ bản về lý luận cho cán bộ. Chưa có công
trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn trong GDLLCT. Dựa trên các công trình khoa học
nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác giáo dục LLCT, chúng tôi sẽ kế
thừa để phân tích, làm sáng tỏ tư tưởng trên.
Tác giả Nguyễn Văn Thắng: Nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính
trị cho cán bộ ở đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay dưới ánh sáng tư tưởng
Hồ Chí Minh (Luận án tiến sĩ lịch sử, Học viện Chính trị quân sự, 2001). Luận
án đã góp phần làm sáng tỏ thêm những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí
Minh về giáo dục LLCT cho cán bộ như: tầm quan trọng của công tác giáo dục
LLCT, về nội dung, phương châm, phương pháp huấn luyện lý luận cho cán
bộ… Kết quả nghiên cứu này sẽ được chúng tôi kế thừa có chọn lọc trong quá
trình phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong GDLLCT.
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã tổ chức hội thảo và ra sách
kỷ yếu: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng, lý luận (Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2002). Thông qua hội thảo này, xuất phát từ quan điểm của
Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng, lý luận đồng thời tổng kết công tác tư
tưởng, lý luận trong những năm qua, các nhà nghiên cứu rất trăn trở và tâm
huyết đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng, chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả
công tác tư tưởng, lý luận ở nước ta. Mặc dù, các bài viết chưa đi sâu nghiêu
cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
13
GDLLCT, nhưng đây là tài liệu có ý nghĩa để chúng tôi suy ngẫm về nội dung,
trình bày những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, mục đích,
yêu cầu, nội dung, phương pháp GDLLCT, những nguyên tắc cơ bản để xây
dựng phương pháp đào tạo, bồi dưỡng LLCT theo tư tưởng Hồ Chí Minh gồm:
việc đào tạo, bồi dưỡng lý luận Mác – Lênin phải phù hợp với đối tượng; phải
gắn với thực tế; phải chú ý học tập để kế thừa những kinh nghiệm tốt trên thế
giới, đồng thời phải thường xuyên tổng kết những kinh nghiệm hoạt động của
Đảng ta để bổ sung vào kho tàng lý luận Mác – Lênin. Những nội dung trên
chỉ được trình bày ngắn gọn, chưa làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn trong GDLLCT. Đây là những nội dung quan
trọng để chúng tôi kế thừa đồng thời phân tích sâu hơn, hệ thống hơn trong
luận án của mình.
1.2. Các công trình nghiên cứu có liên quan về thực trạng vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng
dạy lý luận chính trị ở Việt Nam
Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng
nhận thức sâu sắc, đúng đắn hơn về chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh, vận dụng sáng tạo vào việc hoạch định các chủ trương, đường lối
phát triển đất nước, từng bước khắc phục được tư duy giáo điều, máy móc. Đổi
mới công tác GDLLCT trong tình hình mới là một vấn đề mang tính chiến
lược, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển trước mắt, vừa định hướng cho sự phát
triển lâu dài của đất nước, được quan tâm trên nhiều phương diện.
Tác giả Đào Duy Tùng: Một số vấn đề về công tác tư tưởng (Nxb Sách
giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội, 1985) và Tác giả Trần Trọng Tân: Góp phần
đổi mới công tác lý luận – tư tưởng (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995)
Giáo dục LLCT là một hoạt động cơ bản trong công tác tư tưởng của
Đảng. Hiện nay, nhiều vấn đề cấp bách, mang tính thách thức gay gắt đang đặt
ra đối với công tác tư tưởng, lý luận. Hai cuốn sách của hai tác giả có nhiều
năm làm công tác tuyên giáo. Hai ông Đào Duy Tùng và Trần Trọng Tân
Hội đồng lý luận Trung ương giới thiệu cuốn sách: Luận cứ phê phán các
quan điểm sai trái, thù địch (Nxb Chính trị Quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, 2014).
Cuốn sách tập hợp 28 bài viết, tập trung làm rõ các dạng quan điểm sai trái, thù
địch nhằm xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
16
Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, từ đó đưa ra các luận cứ khoa học và
thực tiễn phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch. Hiện nay, tình hình thế
giới và trong nước có những biến đổi phức tạp, các thế lực thù địch tăng cường
chống phá cách mạng nước ta, mà tập trung nhất là phá hoại nền tảng tư tưởng
của Đảng. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng là vấn đề mang tính chiến lược
trong công tác tư tưởng. Trong đó, đấu tranh bác bỏ những luận điệu thù địch,
sai trái, làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hoà bình” của các thế lực
thù địch, góp phần ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”
trong đội ngũ CB, ĐV, củng cố sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, là một yêu
cầu quan trọng đối với công tác giáo dục LLCT hiện nay. Đây cũng là một nội
dung mà chúng tôi đặc biệt lưu tâm khi phân tích những vấn đề đặt ra đối với
công tác GDLLCT cho CB, ĐV.
Ban chấp hành Trung ương: Báo cáo tổng kết – một số vấn đề lý luận –
thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986- 2016) (Nxb Chính trị Quốc gia – Sự Thật,
Hà Nội, 2015). Cuốn sách là kết quả nghiên cứu công phu, nghiêm túc, với sự
tham gia của lãnh đạo các bộ, ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương; cơ quan
nghiên cứu khoa học, lý luận; các tỉnh uỷ, thành uỷ… Nội dung cuốn sách kế
thừa kết quả của các lần tổng kết, những kết quả nghiên cứu đã có, xuất phát từ
thực tiễn trong nước và thế giới, từ đường lối, quan điểm đổi mới của Đảng qua
các kỳ đại hội. Trên cơ sở đó đã góp phần phát triển tư duy lý luận của Đảng,
phát hiện những vấn đề mới đặt ra, đề xuất những luận điểm mới có căn cứ lý
luận và thực tiễn làm cơ sở xác định những giải pháp, kiến nghị mới. Đây là
công trình tổng kết lý luận và thực tiễn có tầm quan trọng đặc biệt với sự
cho sinh viên Việt Nam hiện nay (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010). Các
tác giả đã chỉ ra kết quả đạt được, những hạn chế, tồn tại trong công tác giáo
dục LLCT cho sinh viên ở Việt Nam, đồng thời đưa ra những giải pháp góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục LLCT cho sinh viên. Từ công trình này,
chúng tôi có thêm thông tin để có thể so sánh việc GDLLCT cho sinh viên và
học viên tại các trường chính trị, từ đó, tìm ra những đặc điểm đặc thù của đối
tượng học viên để xây dựng các phương pháp giảng dạy phù hợp, hiệu quả theo
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Trung tâm LLCT - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Tổng kết
thực hiện Nghị quyết 01-NQ/TW của Bộ chính trị về Công tác lý luận trong
18