MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...............................................................................................................................1
NỘI DUNG...........................................................................................................................2
1. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn – yếu tố cơ bản tạo nên sự thành công trong
việc tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin ở Hồ Chí Minh..........................................................2
2. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn - nguyên tắc cơ bản trong họa động cách
mạng của Hồ Chí Minh........................................................................................................5
2.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về lý luận và vai trò của lý luận...................................5
2.2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về thực tiễn....................................................................7
2.3. Quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để khắc phục và ngăn chặn bệnh
giáo điều cũng như bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa..............................................................9
KẾT LUẬN.........................................................................................................................19
1
MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh không có những tác phẩm riêng bàn về triết học.
Lịch sử cách mạng Việt Nam không đặt ra yêu cầu này đối với Người. Nhiệm
vụ bức thiết đặt ra cho cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX là cứu nước, giải
phóng dân tộc và tìn con đường phát triển cho đất nước.
Trong kho tàng ngôn ngữ của mình, Hồ Chí Minh rất ít hoặc không nói
đến những khái niệm thuần túy triết học như duy tâm, duy vật, biện chứng,
siêu hình,… Sau khi tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc theo
con đường cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh “trở về nước, đi vào quần chúng,
thức tỉnh họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấy tranh giành độc lập”,
thì vấn đề Người quan tâm là nói và ,viết lý luận sao cho hàng chục, hàng
triệu người lao động mù chữ và thất học có thể hiểu được, hiểu được để làm
được, đó là mục tiêu, là cứu cánh đích thực của lý luận.
Là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, được cả nhân
loại phương Đông và phương Tây thừa nhận, đương nhiên Hồ Chí Minh có hệ
ấy rất quan tâm xem xét các dân tộc khác “làm như thế nào”. Muốn vậy, theo
Người phải xem xét và sau khi xem xét thì trở về giúp đồng bào. Có thể nói
rằng, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đã được thể hiện rõ nét ngay từ
trong việc xác định mục đích ra đi tìm đường cứu nước. Phải xuất phát từ
thực tiễn để tìm ra lý luận cách mạng, sau đó trở về vận dụng lý luận cách
mạng ấy vào cuộc đấu tranh cách mạng ở trong nước.
Thực tiễn mà Người trải qua từ năm 1911 đến Đại hội Tua (1920) là
thực tiễn đi vào cuộc sống của những lao động ở Pháp và các nước trên thế
giới. Tiếp đó là thực tiễn hoạt động trong các tổ chức quần chúng, tổ chức
3
chính trị - xã hội khác nhau, đặc biệt là sự tham gia của Đảng xã hội Pháp đã
tạo ra bước ngoặt quan trọng về tư tưởng ở Người. Đây cũng là nhân tố khách
quan quan trọng tạo nên thành công trong việc tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin
ở Hồ Chí Minh.
Có thể nói chính nhờ những hoạt động thực tiễn cách mạng trong
những năm đó, Hồ Chí Minh đã chuẩn bị được những điều kiện tư tưởng,
nhận thức để đến và tiếp thu được chủ nghĩa Mác-Lênin. Tổng kết những điều
mắt thấy, tai nghe khi Người bôn ba ở các nước, Hồ Chí Minh đã rút ra được
những kết luận quan trọng rất gần với quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Để tổng kết được những kết luận như vậy, Hồ Chí Minh phải có vốn hiểu biết
sâu sắc, có trình độ lý luận cũng như trình độ tư duy lý luận nhất định. Như
vậy là bản thân những kết luận do Người tổng kết trước khi gặp chủ nghĩa
Mác-Lênin đã hàm chứa sự thống nhất sâu sắc giữa lý luận cách mạng và thực
tiễn cách mạng.
Hoạt động thực tiễn trong các nước tư bản cũng như ở các nước thuộc
địa, với trí tuệ và óc quan sát tinh tế, với trình độ lý luận nhất định và nhất là
biết tổng kết những điều mắt thất tai nghe một cách có lý luận nên Nguyễn Ái
Quốc – Hồ Chí Minh đã phát hiện được bộ mặt thật của chủ nghĩa tư bản: “Để
Người đã trực tiếp chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức để thành lập
Đảng Cống sản Việt Nam… Đây là cả một quá trình phát triển từ nhận thức lý
luận đến việc kết hợp sáng tạo lý luận Mác-Lênin vào thực tiễn phong trào
cách mạng thế giới và thực tiến cách mạng Việt Nam.
Rõ ràng là Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ từ
nhận thức lý luận mà còn từ hoạt động thực tiễn cách mạng và không chỉ
dừng lại ở đó, Người còn đưa lý luận vào thực tiễn cách mạng. Nhờ vậy mà
Người đã sớm đến được với chủ nghĩa Mác-Lênin. Năm 1920, không phải chỉ
có Hồ Chí Minh mới đọc được Sơ thảo những Luận cương về vấn đề dân tộc
và thuộc địa của Lênin, nhưng chỉ có Người là duy nhất tìm thấy con đường
cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc Việt Nam và các dân tộc bị áp bức.
5
Như vậy, Hồ Chí Minh đã đến và nhận thức được chủ nghĩa Mác-Lênin
không phải trên cơ sở kinh nghiệm chủ nghĩa hay giáo điều sách vở mà trên
cơ sở của sự thống nhất nhuần nhuyễn giữa lý luận cách mạng và hoạt động
thực tiễn cách mạng của Người.
2. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn - nguyên tắc cơ bản trong
họa động cách mạng của Hồ Chí Minh
2.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về lý luận và vai trò của lý luận
Hồ Chí Minh quan niệm rất đúng đắn về lý luận. Theo Người: “Lý luận
là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức
về tự nhiên, xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” . Còn “Lý luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin là sự tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân từ
trước đến nay của tất cả các nước” .
Qua đó chúng ta nhận thấy, quan niệm về lý luận của Hồ Chí Minh đã
hàm chứa trong nó yếu tố thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, và thể hiện
được mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn cũng như yếu tố kế
biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ
điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩa thế nào làm thế ấy. Kết quả
thường thất bại” . Từ đó làm cho bệnh kinh nghiệm chủ quan dễ nảy sinh và
phát triển. Chính vì vậy, đối với Đảng Cộng sản phải có một lý luận tiền
phong. Để nhấn mạnh vai trò của lý luận tiền phong đồi với Đảng, Hồ Chí
Minh luôn lưu ý cán bộ, đảng viên chỉ dẫn của Lênin: “Không có lý luận cách
mạng thì không có phong trào cách mạng; chỉ có một Đảng có lý luận titiền
phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiễn sĩ tiền phong”.
Người cũng chỉ ra rằng, các Đảng Cộng sản anh em luôn luôn chú trọng đến
lý luận. “Vì Đảng nhận rằng lý luận vạch cho Đảng con đường đúng đắn để
tiến lên chủ nghĩa cộng sản” .
Người cũng luôn lưu ý rằng, lý luận cách mạng của Đảng Cộng sản
Việt Nam là chủ nghĩa Mác-Lênin. Đây là vũ khí tư tưởng, là kim chỉ nam
cho hành động cách mạng của Đảng, nhưng chủ nghĩa Mác-Lênin không phải
là những kinh thánh, những bài thuốc chữa bách bệnh, những lý thuyết khô
cứng. Nó đòi hỏi phải nắm được bản chất cách mạng, khoa học của học thuyết
7
ấy để vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và không ngừng
bổ sung phát triển.
Qua các bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy vai trò của lý
luận được thể hiện ở những điểm sau: Nó vũ trang cho chúng ta quan điểm và
phương pháp nhận thức đúng sự thật, thấy được bản chất và phát hiện được
quy luật của sự vật; nó giúp cho cán bộ, đảng viên nâng cao lập trường, quan
điểm của giai cấp vô sản và trau dồi đạo đức cách mạng, bởi lẽ không có lý
luận về chủ nghĩa xã hội khoa học thì không thể có lập trường giai cấp vững
vàng.
2.2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về thực tiễn
Trong diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I của trường Nguyễn Ái
“Đời sống mới” (1947), Hồ Chí Minh đã phê phán cách tuyên truyền đời sống
mới mà sử dụng các khái niệm khách quan, chủ quan, tích cực, tiêu cực, khoa
học hóa… làm cho quần chúng nghe có vẻ hay nhưng không hiểu gì cả.
Qua các bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh, chúng ta nhận thấy khi đề
cập đến sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một nguyên tắc cơ bản
của chủ nghĩa Mác-Lênin thì bao giờ Hồ Chí Minh cũng dùng khái niệm thực
tiễn nhưng khi đề cập đến việc áp dụng lý luận và thực tiễn, liên hệ lý luận
với thực tiễn khi giải thích nguyên tắc này, Người thường dùng khái niệm
thực tế thay cho thực tiễn. Cho nên, trong cùng một bài viết, bài nói, Hồ Chí
Minh vẫn dùng cả hai khái niệm thực tiễn và thực tế.
Như vậy xét về bản chất, hai khái niệm thực tiễn và thực tế được Hồ
Chí Minh sử dụng với nội hàm như nhau, nhưng khi dùng khái niệm thực tế
thì Người có nhã ý để quần chúng nhân dân dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng.
Chính vì vậy, hai khái niệm này cũng không hoàn toàn đồng nhất với nhau và
không thay thế cho nhau. Vì thế, Hồ Chí Minh không bao giờ viết “thống nhất
giữa lý luận và thực tế”, mà Người viết “thống nhất giữa lý luận và thực tiễn”.
Xuất phát từ việc hiểu thực tế rất rộng, bao gồm toàn bộ thực tiễn của
Đảng ta, cả kinh nghiệm đấu tranh cách mạng, đường lối, chính sách… Cho
nên, Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ, đảng viên rằng: khi liên hệ lý luận với
thực tế cần tránh sự lệch lạc không hiểu rõ vấn đề, đòi hỏi phải giải quyết mọi
9
vấn đề thực tế ngay một lúc, vì thực tế là cả một quá trình lâu dài của toàn
Đảng, toàn dân .
2.3. Quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để khắc phục
và ngăn chặn bệnh giáo điều cũng như bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa
Hồ Chí Minh thường dùng nhiều cách nói khác nhau như: “lý luận đi
đôi với thực tiễn” ; “Lý luận phải gắn liền với thực tế” ; “lý luận và thực hành
phải luôn đi đôi với nhau” ; “phải gắn liền lý luận với công tác thực tế” . Dù
sách vở, không suy diễn lý luận một cách thuần túy chủ quan mà đưa lý luận
cách mạng kết hợp chặt chẽ với thực tiễn cách mạng Việt Nam cũng như thực
tiễn cách mạng thế giới, đồng thời luôn bổ sung lý luận ấy bằng những kinh
nghiệm thực tiến mới. Chính vì vậy mà Người, thực tiễn - lý luận, lý luận thực tiễn, luôn hòa quyện thống nhất với nhau, tạo tiền đề cho nhau phát triển.
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động cách mạng của Hồ
Chí Minh không phải là sự thống nhất trên sách vở, trên lời nói, mà nó đã
thẩm thấu trong từng bài viết, bài nói chuyện, đồng thời nó đã được chắt lọc
và trở thành cái bản chất tinh túy nhất trong di sản lý luận của Người. Có thể
nói, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đã trở thành một nguyên tắc cơ bản
không chỉ của chủ nghĩa Mác-Lênin mà còn của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong lịch sử phát triển tư duy lý luận, C.Mác và Ph.Ăngghen là những người
đầu tiên đưa phạm trù thực tiễn vào triết học như là cơ sở của hệ thống lý luận
và đã đề ra ngoài nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận
thức. Đến Lênin, nguyên tắc ấy được bổ sung, hoàn thiện, phát triển và vận
dụng sáng tạo trong việc đề ra đường lối cách mạng cho giai cấp vô sản Nga.
Ở Hồ Chí Minh, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đã trở thành
bản chất nội tại, nét đặc trưng không thể thiếu trong tư tưởng cũng như trong
hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn của Người.
Chính tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là “sự kết hợp gữa trí tuệ cao nhất
với thực tiễn lớn nhất của cả dân tộc và nhân loại. Trước hết, đay là sự kết
hợp giữa chủ nghĩa Mác ra đời ở phương Tây với cách mạng Việt Nam tiên
hành ở phương Đông cổ kính đầy rẫy những nét đặc thù về kinh tế, xã hội, về
truyền thống văn hóa, về tâm lý tình cảm, phong tục của mỗi vùng” . Chính vì
11
vậy, cũng giống như chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có tính
khoa học, cách mạng sáng tạo và có sức sống trường tồn là vậy.
Hồ Chí Minh không để lại những tác phẩm triết học thuần túy cũng như
những tác phẩm chuyên khảo về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
được. Dó là một phương pháp diễn đạt, phương pháp trình bày mà Hồ Chí
Minh thường dùng.
Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên rằng, quán triệt tốt
sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn cũng có nghĩa là góp phần khắc phục
và ngăn ngừa bệnh giáo điều, sách vở cũng như bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa.
Để khắc phục được bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa thì cán bộ, đảng viên phải ra
sức học tập lý luận, nâng cao trình độ lý luận cũng như chuyên môn, nghiệp
vụ. Bởi lẽ, nếu không có trình độ lý luận trong hoạt động thực tiễn thì người
ta dễ phải dựa vào kinh nghiệm, dẫn tới sùng bái kinh nghiệm, như vậy là mắc
phải bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa. Nếu trình độ lý luận yếu kém sẽ làm cho
chúng ta mãi mãi dừng lại ở tư duy kinh nghiệm, ở lối làm việc theo kinh
nghiệm cũ, làm cho bệnh kinh nghiệm chủ quan càng thêm trầm trọng, kéo
dài. Hơn nữa, trong Đảng ta còn có những cán bộ, những đảng viên cũ, được
làm việc, có kinh nghiệm. Cố nhiên, những anh em đó rất quý báu cho Đảng.
Nhưng họ lại mắc phải bệnh kinh nghiệm lý luận. Họ quên rằng: nếu họ đã có
kinh nghiệm mà lại biết thêm lý luận thì công việc tốt hơn nhiều. Họ quên
rằng: kinh nghiệm của họ tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà
thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi. Có kinh nghiệm mà không có lý luận thì
cũng như một mắt sáng, một mắt mờ.
Cho nên toàn Đảng, toàn dân phải phát huy hơn nữa tinh thần cầu học,
cầu tiến bộ, đẩy mạnh phong trào học tập lý luận nhằm nâng cao trình độ lý
luận. Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên quán triệt lời căn
dặn của Lênin: Học, học nữa, học mãi và chỉ có thể trở thành người cán bộ
cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho
tàng tri thức mà nhân loại tạo ra. Người cũng luôn căn dặn rằng, để khắc phục
bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa thì phải học tập lý luận, nâng cao trình độ về mọi
mặt, nhưng phải có phương pháp học tập đúng đắn, hơn nữa phải học đi đôi
13
luận vì lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng” . Điều quan trọng nữa
theo Hồ Chí Minh đó là “khi vận dụng thì bổ sung, làm phong phú thêm lý
luận bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn cách mạng của ta” .
Qua đây chúng ta thấy, để đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn nhằm khắc phục và ngăn ngừa có hiệu quả bệnh giáo điều, sách vở cũng
như bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa thì phải tăng cường học tập lý luận, nâng
cao trình độ lý luận. Khi có lý luận rồi thì phải vận dụng vào thực tiễn, phải
biết làm phong phú thêm lý luận vằng những kinh nghiệm thực tiễn mới. Chỉ
thông qua quy trình như vậy thì lý luận mới gắn với thực tiễn, lý luận mới
không trở thành giáo điều, sách vở, mới phát triền và thực tiễn mới được chỉ
đạo, định hướng bằng lý luận, sẽ chánh được những vấp váp hay chệch
hướng. Như vậy, bệnh giáo điều, sách vở cũng như bệnh kinh nghiệm chủ
nghĩa sẽ không còn chỗ đứng.
Theo Hồ Chí Minh, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn không có nghĩa
là coi nhẹ việc tổng kết thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn cuộc sống,
từ thực tiễn cách mạng, mà ngược lại chỉ có thể đảm bảo được nguyên tắc này
khi biết tăng cường tổng kết thực tiễn để bổ sung cho lý luận những kết luận
mới. Những kinh nghiệm được đúc rút từ thực tiễn cuộc sống, từ thực tiễn
cách mạng chính là lý luận. Đó là thứ lý luận gắn với thực tiễn nhất. Nếu lý
luận không được xuất phát từ thực tiễn nói chung thì lý luận đó rất dễ chỉ là
một sự tưởng tượng chủ quan thuần túy. Tất nhiên, không phải mọi lý luận
đều được ra đời trực tiếp từ thực tiễn, hơn nữa bản thân lý luận có thể đi trước
thực tiễn, nhưng xét đến cùng và xét trong mối quan hệ giữa lý luận và thực
tiễn, thì lý luận không thể không xuất phát từ thực tiễn. Tổng kết, khái quát
kinh nghiệm thực tiễn chính là sự tích lũy dần về lượng để bổ sung, hoàn
thiện và phát triển lý luận. Cho nên, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn cũng
có nghĩa là phải tăng cường tổng kết kinh nghiệm thực tiễn. Ngay từ những
năm đầu sau cách mạng, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “…
công việc gì bất kể thành công hay thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến
tập chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như giáo điều trong vận dụng lý luận chủ
nghĩa Mác-Lênin, áp dụng kinh nghiệm của các nước khác vào thực tiễn nước
16
ta. Biện pháp cơ bản quan trọng nhất, theo Hồ Chí Minh để khắc phục và
ngăn ngừa cả hai loại giáo điều này là phải gắn lý luận với thực tiễn cách
mạng nước ta, học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tiễn cách
mạng nước nhà. Nói cách khác là phải quán triệt tốt trên thực tế nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Đi đôi với bệnh chống giáo điều chủ nghĩa, theo Hồ Chí Minh, phải đề
phòng, ngăn ngừa chủ nghĩa xét lại. Bởi lẽ, nếu không có quan điểm đúng đắn
trong việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để khắc
phục và ngăn ngừa bệnh giáo điều chủ nghĩa, thì người ta dễ nhấn mạnh thái
quá những đặc điểm dân tộc để phủ nhận những giá trị phổ biến của những
kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước cũng như của chủ nghĩa Mác-Lênin, để
rơi vào chủ nghĩa xét lại - thái cực đối với chủ nghĩa giáo điều. Cho nên,
Người luôn nhắc nhở: “Chúng ta phải khắc phục bệnh giáo điều đồng thời
phải đề phòng chủ nghĩa xét lại” . Để tránh mắc phải bệnh giáo điều cũng như
chủ nghĩa xét lại, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên “khi đặt ra khẩu
hiệu và chỉ thị, luôn luôn phải đặt vào điều kiện hiện thực và kinh nghiệm
cách mạng ở các nước, ở trong nước và ở địa phương” .
Lênin cũng đã chỉ rõ rằng, không thể có chủ nghĩa giáo điều ở nơi nào
mà tiêu chuẩn tối cao và duy nhất của học thuyết là phù hợp giữa nó với quá
trình thực tế của sự phát triển kinh tế - xã hội. Thực tiễn cũng cho thấy, bệnh
giáo điều cũng như bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa đều bắt nguồn từ sự tách rời
giữa lý luận và thực tiễn, là do lý luận không được dùng để phân tích, lý giải
những vấn đề do thực tiễn đặt ra, còn thực tiễn thì không được hướng dẫn, tổ
chức thực hiện bằng lý luận. Vì vậy, để khắc phục và ngăn ngừa một cách có
hiệu quả bệnh giáo điều cũng như bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa tất yếu phải
tự cho mình là hiểu biết chủ nghĩa Mác-Lênin hơn ai hết. Song khi gặp việc
thực tế, thì họ hoặc là máy móc, hoặc là lúng túng. Lời nói và việc làm của họ
không nhất trí. Họ học sách vở Mác-Lênin, nhưng không học tinh thần MácLênin. Học để trang sức chứ không phải để vận dụng vào công việc cách
mạng” . Qua đây chúng ta thấy rằng, theo Hồ Chí Minh, lời nói và việc làm
không nhất trí với nhau là một trong những biểu hiện cụ thể của việc học tập
18
lý luận không liên hệ với thực tiễn, không áp dụng vào thực tiễn, tức là vi
phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
19
KẾT LUẬN
Như vậy, có thể thấy rằng để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh
giáo điều có hiệu quả thì phải không ngừng học tập lý luận, nâng cao trình độ
lý luận. Khi có lý luận thì phải vận dụng vào thực tiễn, phải biết tổng kết thực
tiễn để làm giàu lý luận bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới. Chỉ thông
qua quy trình như vậy thì lý luận mới gắn với thực tiễn, mới không trở thành
giáo điều. Đồng thời thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo bồi lý luận sẽ không bị mò
mẫm, vấp váp, hay chệch hướng. Như vậy thì bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo
điều cũng không còn chỗ đúng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một
biện pháp cơ bản để ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo
điều có ý nghĩa hết sức to lớn hiện nay, khi mà chúng ta đang tìm lời giải đáp
cho nhiều vấn đề thực tiễn đổi mới đặt ra. Bởi lẽ, để tìm lời giải cho những
vấn đề đó chúng ta phải tìm ở cả trong chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh cũng như ở chính thực tiễn đổi mới hiện nay ở nước ta. Nghĩa là