ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VƯƠNG THANH HUYỀN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2009
2
chủ trương phải kết hợp pháp luật và đạo đức trong việc điều chỉnh hành vi
con người và quản lý xã hội.
Hiện nay, Đảng và nhà nước ta đã và đang có nhiều chủ trương nhằm
vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật và đạo đức. Trong điều kiện đó,
tác giả mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối
quan hệ giữa pháp luật và đạo đức” nhằm góp phần bổ sung vào hệ thống lý
luận về pháp luật và đạo đức.
2. Tình hình nghiên cứu:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm về nhiều lĩnh
vực của đời sống xã hội được xây dựng trên cơ sở sự tiếp thu chủ nghĩa Mác
– Lê Nin và thành tự khoa học xã hội trên thế giới. Vấn đề pháp luật và đạo
đức chiếm một vị trí quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và
pháp luật. Từ trước đến nay đã có rất nhiều những đề tài nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền và pháp luật trong nhà nước pháp
quyền. Trong giai đoạn phát triển nền kinh tế hiện nay, sự xuống cấp về ý
thức đạo đức đã gióng lên hồi chuông báo động về tình trạng hỗn loạn, phức
tạp của xã hội trong tương lai. Điều này đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải
nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về việc kết hợp pháp luật và
đạo đức trong hoạt động quản lý xã hội. Ngày càng xuất hiện nhiều đề tài
nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật và đạo đức. Nhà nước ta cũng
đã và đang đẩy mạnh cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh. Đó là những nguồn tư liệu quý giá phục vụ cho việc nghiên cứu
đề tài Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật và đạo đức.
3. Mục đích của đề tài:
- Nghiên cứu những quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức, về pháp luật và
mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong hoạt động quản lý xã hội. Trên
giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và hội nhập khu
vực, quốc tế.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận văn có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau trên cơ sở
chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử:
- Phương pháp thu thập tài liệu ghi nhận các sự kiện lịch sử liên quan đến
hoạt động chính trị của Hồ Chí Minh.
- Trên cơ sở các tài liệu thu thập được, tác giả sử dụng phương pháp phân
tích nhằm phân tích các sự kiện lịch sử liên quan đến tư tưởng quan điểm Hồ
Chí Minh về đạo đức và pháp luật
- Tham khảo các tài liệu chuyên khảo về Hồ Chí Minh bổ sung cho việc phân
tích và đưa ra nhận định về tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật và đạo đức.
7. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật
và đạo đức.
Chương 2: Thực trạng đạo đức và pháp luật ở nước ta hiện
Chương 3: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa pháp luật và
đạo đức trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.
nước pháp quyền, bảo vệ, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống.
5
Chương 1
[18]. Tuy nhiên dư
luận của cộng đồng, xã hội được là thứ quyền lực xã hội có tính truyền thống
và đôi khi nó còn mạnh mẽ và dai dẳng hơn pháp luật.
Phong tục là một loại của tập quán, nhưng được lan rộng và ăn sâu vào
đời sống xã hội từ rất lâu đời. So với tập quán, phong tục có tính chất bắt buộc
cao hơn, mang tính phổ biến rộng rãi hơn, nó chứa đựng những chuẩn mực đạo
đức, thẩm mỹ, khoa học mang đậm bản sắc dân tộc và màu sắc tâm linh, tôn
giáo. Phạm vi điều chỉnh của phong tục rộng hơn tập quán, nó ràng buộc, chi
phối hành vi của con người, buộc con người phải có sự lựa chọn cho mình một
cách ứng xử cho phù hợp.
Luật tục là những tập quán, phong tục tồn tại dưới hình thức không
thành văn được truyền miệng từ đời này sang đời khác chứa đựng những quy
tắc xử sự điều chỉnh nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Luật tục không bao
gồm tất cả những phong tục, tập quán thông thường mà chỉ là những phong tục,
tập quán điều chỉnh hành vi của cá nhân trong cộng đồng và mối quan hệ giữa
những cộng đồng dân cư với nhau, mang tính bắt buộc chung, được bảo đảm
thực hiện bằng những hình thức xử phạt và khen thưởng. Hương ước của cộng
đồng làng xã là một hình thức của luật tục bao gồm những quy tắc ứng xử có
nội dung phù hợp tương đối với pháp luật và đạo đức truyền thống của dân tộc.
Hương ước có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định, trật tự của cộng
đồng làng xã Việt Nam. Cho đến nay nhiều bản Hương ước vẫn còn được bảo
tồn nguyên vẹn trong các làng xã. Hiện nay, Nhà nước đang có chính sách phục
hồi những bản Hương ước cổ để kết hợp sử dụng trong hoạt động quản xã hội
đồng thời đó cũng là một giải pháp hữu hiệu nhằm bảo tồn và phát huy những
giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. 7
“Trong hệ thống điều chỉnh quan hệ xã hội, pháp luật và đạo đức chiếm
của Nhà nước mà còn là sự kết tinh của các giá trị đạo đức, văn hóa truyền
thống thông qua việc luật hóa những niệm chuẩn mực đạo đức, những phong
tục, tập quán tiến bộ trong dân gian. Với những đặc tính ưu việt như vậy, pháp
luật đóng vai trò là công cụ hữu hiệu được nhà nước sử dụng nhằm bảo đảm sự
ổn định, sự phát triển bình thường của xã hội. Tuy nhiên pháp luật không thể
thực hiện được vai trò của mình nếu không có sự hỗ trợ của các quy phạm xã
hội khác. Không phải lúc nào và ở đâu pháp luật cũng có thể điều chỉnh được
hết thảy những lĩnh vực, những mối quan hệ trong đời sống xã hội. Mỗi quy
phạm xã hội đều có những ưu thế và hạn chế riêng, có thể ở những mối quan hệ
mà pháp luật không thể vươn tới điều chỉnh được lại là phạm vi điều chỉnh của
phong tục, tập quán Bên cạnh những điểm hạn chế, lạc hậu, chưa phù hợp với
cuộc sống hiện đại, các quy phạm đạo đức, phong tục, tập quán vẫn có những
quan niệm tích cực, tiến bộ có hiệu quả điều chỉnh như pháp luật. Vì vậy, việc
sử dụng các quy phạm đạo đức, cũng như những quy phạm xã hội khác là một
điều cần thiết trong hoạt động quản lý của nhà nước bên cạnh các quy phạm
pháp luật.
1.1.2 Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức
1.1.2.1. Sự thống nhất giữa pháp luật và đạo đức
Pháp luật và đạo đức là hai hình thái ý thức xã hội thuộc thượng tầng
kiến trúc, giữa pháp luật và đạo đức tồn tại nhiều điểm chung, tương đồng,
chúng bổ sung và hỗ trợ cho nhau trong hoạt động điều chỉnh xã hội của nhà
nước.
Cả pháp luật và đạo đức đều có chức năng, mục đích là điều chỉnh hành
vi con người xã hội. Mục đích chung mà cả pháp luật và đạo đức đều hướng
tới đó là nhằm xác lập, củng cố trạng thái ổn định của các mối quan hệ xã hội
dựa trên quan niệm về cái thiện, cái tốt, cái có ích. Cả pháp luật và đạo đức đều 9
được sinh ra, tồn tại dựa trên một cơ sở kinh tế nhất định, chịu sự chi phối của
luật cấm cũng là những điều mà đạo đức cấm và cần có sự lên án của xã hội.
Giữa pháp luật và đạo đức tồn tại mối quan hệ hữu cơ, hỗ trợ, bổ sung
cho nhau trong việc điều chỉnh hành vi con người. Pháp luật và đạo đức trực
tiếp tác động lên hành vi của con người, định hướng, đánh giá hành vi của con
người dựa trên những tiêu chí nhất định. Hiện nay, với việc đề cao cả pháp luật
và đạo đức, hành vi của con người thường được nhìn nhận và đánh giá dưới hai
góc độ pháp luật và đạo đức. Thực tế cho thấy, không ít những hành vi vi phạm
đạo đức được che đậy dưới cái vỏ bọc hợp pháp. Vì vậy, để nhìn nhận thấu đáo
bản chất của hành vi chúng ta cần đánh giá cả về phương diện đạo đức và
phương diện pháp luật trên những tiêu chí cụ thể. Về mức độ đánh giá giữa
pháp luật và đạo đức cũng có sự tương đồng. Trong điều kiện nhà nước pháp
quyền, giữa pháp luật của nhà nước và đạo đức truyền thống luôn có sự thống
nhất, do vậy khi một hành vi chịu sự đánh giá của đạo đức cũng có nghĩa hành
vi đó có thể chịu sự đánh giá của pháp luật. Như đối với hành vi gian dối trong
kinh doanh đều chịu sự điều chỉnh, đánh giá của cả pháp luật và đạo đức. Bản
thân người thực hiện hành vi đó sẽ bị dư luận xã hội lên án, đả kích đồng thời
lương tâm của người đó cũng bị cắn rứt không yên. Còn trước pháp luật, người
đó sẽ phải nhận hình phạt tương xứng với những hậu quả đã gây ra cho người
khác và xã hội.
Biện pháp cưỡng chế của pháp luật và đạo đức đều có sức mạnh như
nhau trong việc điều chỉnh hành vi tuy nhiên, với đạo đức bằng việc tác động,
đánh vào lương tâm, ý thức con người dường như nó có sức mạnh thẩm thấu và
dai dẳng hơn cả pháp luật. Sự lên án của xã hội có tác dụng đánh thức lương
tâm, trách nhiệm đối với cộng đồng trong mỗi con người. Hình phạt của pháp
luật có thể ngay lập tức làm chấm dứt hành vi nguy hiểm cho xã hội tuy nhiên
để ngăn ngừa hành vi tái phạm thì cần đến sự tác động của đạo đức thông qua 11
công tác giáo dục, cảm hóa con người. Do vậy, pháp luật muốn phát huy hiệu
quan hệ giữa con người với con người. Đạo đức xuất hiện ngay từ buổi bình
minh sơ khai của loài người, nhờ có đạo đức mà con người có thể tồn tại, phát
triển trong sự ràng buộc, gắn kết giữa lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng
cùng với những quan niệm, chuẩn mực trong cách hành xử. Được sinh ra từ đời
sống xã hội do vậy đạo đức phải phù hợp với xã hội và không ngừng thay đổi
cùng sự vận động của xã hội.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, pháp luật ra đời cùng
với sự xuất hiện của nhà nước dựa trên những điều kiện nhất đinh đó là sự
hình thành chế độ tư hữu, sự phân hóa, đấu tranh giai cấp trong xã hội. Pháp
luật được ra đời một mặt nhằm thể hiện ý chí và bảo vệ quyền lợi của giai cấp
thống trị nhưng mặt khác nó cũng đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các mối quan hệ
xã hội, xác lập, một trật tự xã hội ổn định mà nếu thiếu nó xã hội không thể tồn
tại được. Pháp luật được hình thành trên cơ sở những quan niệm, chuẩn mực
đạo đức, phong tục tập quán tồn tại trong xã hội chưa có giai cấp. Như vậy
pháp luật là một hiện tượng xã hội được hình thành trên những điều kiện kinh
tế chính trị, xã hội nhất định, cơ sở hình thành của pháp luật chính là những
quy phạm xã hội đã có từ xã hội nguyên thủy.
Về phạm vi điều chỉnh
Mặc dù pháp luật và đạo đức đều thực hiện hoạt động điều chỉnh đối với
hành vi của con người cũng như những mối quan hệ của con người trong xã
hội. Tuy nhiên phạm vi điều chỉnh của pháp luật và đạo đức không hoàn toàn
trùng nhau. Có những mối quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp
luật nhưng không thuộc phạm vi điều chỉnh của đạo đức và ngược lại. Phạm vi
điều chỉnh của đạo đức rộng lớn hơn phạm vi điều chỉnh của pháp luật. Pháp
luật không thể điều chỉnh hết thảy những mối quan hệ trong xã hội mà chỉ điều
chỉnh những mối quan hệ xã hội quan trọng ít nhiều mang tính chất quốc 13
gia…Đạo đức điều chỉnh những mối quan hệ không thuộc phạm vi điều chỉnh
mực, quy tắc ứng xử, những quan niệm, cảm xúc… được thể hiện dưới hình
thức bất thành văn tồn tại trong phong tục, tập quán, luật tục, trong ca dao, tục
ngữ, trong hương ước, được lưu truyền trong dân gian từ đời này sang đời
khác. Ca dao, tục ngữ là những hình thức thể hiện rất đặc sắc của đạo đức, rất
mộc mạc, ngắn gọn nhưng chứa đựng những triết lý về cuộc sống rất sâu sắc
như câu ca dao nói về cách ứng xử sao cho được lòng mọi người:
“Ở sao cho vừa lòng người
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê” [18]
Đạo đức điều chỉnh hành vi con người dựa trên những cảm xúc, quan
niệm, chuẩn mực, những nguyên tắc chung chung, còn pháp luật lại điều chỉnh
bằng việc đưa ra những tiêu chí cụ thể nhằm đánh giá hành vi con người. Ví dụ
cùng điều chỉnh về hành vi cứu giúp người trong lúc hoạn nạn nhưng giữa đạo
đức và pháp luật có những cách điều chỉnh khác nhau. Đạo đức chỉ khuyên con
người nên sống “tắt lửa tối đèn có nhau” [18] nhưng pháp luật lại điều chỉnh
một cách cụ thể hơn bằng việc quy định dấu hiệu cấu thành tội không cứu giúp
người trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng ở Bộ luật Hình sự Việt Nam.
Sự khác biệt về phương thức bảo đảm thực hiện
Đạo đức được bảo đảm thực hiện bằng những cơ chế tác động bên trong
đó là lương tâm con người và bên ngoài chính là sức mạnh của dư luận xã hội.
Trong khi đó pháp luật được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước,
bằng hoạt động giáo dục, thuyết phục và bằng cả sự tự giác thực hiện của các
chủ thể pháp luật trên cơ sở sự tự nhận thức về pháp luật. Các phương thức bảo
đảm của cả pháp luật và đạo đức đều có sức mạnh cưỡng chế đối với hành vi
con người, tuy nhiên xét về tính chất và mức độ thì những phương thức bảo
đảm của pháp luật mang tính cưỡng chế mạnh hơn với những biện pháp xử lý
nghiêm khắc hơn. Như vậy, không có nghĩa các phương thức bảo đảm của đạo 15
đức do không có sức mạnh cưỡng chế như pháp luật mà kém hiệu quả hơn
chât tương đối.
Sự khác biệt giữa vi phạm pháp luật và vi phạm đạo đức
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật được thực hiện bằng hành động
hoặc không hành động, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ,
được thực hiện bởi những chủ thể có năng lực hành vi và có lỗi. Vi phạm đạo
đức có thể xem là hành vi đi ngược với những quan điểm, chuẩn mực, nguyên
tắc của đạo đức xã hội, xâm hại đến những quan hệ xã hội được đạo đức bảo
vệ, do các chủ thể (cá nhân, tổ chức) thực hiện một cách cố ý.
Vi phạm pháp luật phải được thể hiện thành hành vi có thể là hành động
hoặc không hành động. Pháp luật không điều chỉnh những suy nghĩ bên trong
con người. Do vậy, việc phạm tội mới nằm trong ý tưởng sẽ không bị truy cứu
trách nhiệm pháp luật (trừ tội những tội xâm hại an ninh quốc gia). Với đạo
đức, vi phạm đạo đức không chỉ được thể hiện thành hành vi mà còn là những
suy nghĩ , nhận định, ý kiến của một người về một vấn đề.
Giữa vi phạm pháp luật và vi phạm đạo đức còn có sự khác nhau về
khách thể, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi…Khách thể của đạo đức rộng
hơn khách thể của pháp luật, có những quan hệ xã hội pháp luật không thể điều
chỉnh hết, nhưng trong mọi mối quan hệ đều có sự xuất hiện của đạo đức. Mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm đạo đức thường ít hơn so với
hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt là vi phạm pháp luật hình sự. Hậu quả mà vi
phạm đạo đức gây ra thường là những tổn hại mang tính chất tâm lý tình cảm,
danh dự nhân phẩm.
Đối với đạo đức, cho dù hành vi vi phạm có gây hậu quả hay không, hậu
quả gây ra dù nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng đều chịu sự lên án của dư
luận xã hội, của lương tâm. Còn với pháp luật, việc truy cứu trách nhiệm đối
với một người phải được xem xét dưới nhiều góc độ, hành vi đó phải thỏa mãn 17
những dấu hiệu của cấu thành tội phạm tính, phải đánh giá mức độ nguy hiểm
lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền
thống tốt đẹp của gia đình” (Điều 3). Đạo đức cũng có thể được ghi nhận gián
tiếp thông qua việc quy định những dấu hiệu của hành vi vi phạm pháp luật chủ
yếu trong pháp luật hình sự ví dụ pháp luật Hình sự Việt Nam tại điều 110 đã
quy định rõ ràng đối tượng của tội hành hạ người khác là người già, trẻ em, phụ
nữ có thai, người tàn tật hoặc hành vi được thực hiện với nhiều người. Như
vậy, đạo đức không chỉ còn tồn tại như những chuẩn mực, những quan niệm
chung chung mà được cụ thể hóa trong pháp luật và có được sức mạnh như
pháp luật, cùng pháp luật thực hiện việc điều chỉnh hành vi con người cùng
những mối quan hệ xã hội của họ. Đưa các chuẩn mực đạo đức tiến bộ vào các
quy định của pháp luật một mặt khẳng định vai trò của pháp luật trong việc giữ
gìn và phát huy các giá trị đạo đức mặt khác cũng thể hiện sự đánh của Nhà
nước đối với vai trò của đạo đức trong xã hội.
Trong mối tương quan giữa pháp luật và đạo đức, đạo đức đóng vai trò
là cơ sở, là môi trường thuận lợi để con người tiếp thu, cảm nhận và thực hiện
pháp luật. Đạo đức là một lĩnh vực thực sự người, những nguyên tắc chuẩn
mực của đạo đức giúp con người sống có nhân, có nghĩa hướng tới cái thiện
nhiều hơn. Trong hoạt động thực hiện pháp luật, những giá trị đạo đức là điều
kiện cần thiết để con người có được tình cảm, thái độ tốt đối với pháp luật. Một
người sống không có nhận thức đầy đủ những giá trị đạo đức thì ắt hẳn không
thể là người có thái độ thực hiện pháp luật tốt. Khi thực hiện bất cứ một hành
vi nào con người cũng cần phải xuất phát từ cái tâm. Trong mọi trường hợp,
yếu tố đạo đức luôn đi đầu trong việc điều chỉnh hành vi con người sau đó mới
đến yếu tố pháp luật. Do vậy, đạo đức là môi trường, là nội lực thúc đẩy con
người muốn hành động phù hợp với pháp luật từ đó hình thành ý thức, thói
quen xử xử theo pháp luật. Các nguyên tắc, chuẩn mực của đạo đức cũng đóng 19
vai trò quan trọng trong hoạt động giải thích, tuyên truyền, phổ biến giáo dục
nghĩa Mác xít. Khi nghiên cứu hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác xít
Người đã nhận thấy ở đây chân lý cho con đường cứu nước, giải phóng dân
tộc và xây dựng đất nước. Vì vậy có thể nói chủ nghĩa Mác xít chính là kim
chỉ nam cho tư tưởng cũng như hành động của Hồ Chí Minh.
Tư tưởng về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức của Hồ Chí Minh
cũng dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác xít về mối quan hệ giữa
đạo đức và pháp quyền.
Theo tư tưởng của chủ nghĩa Mác xít, pháp luật và đạo đức là sản phẩm
của những điều kiện kinh tế nhất định, được quy định bởi các điều kiện kinh
tế và xã hội. Ph. Ăng ghen nhận định rằng: “xét đến cùng mọi học thuyết về
đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã
hội lúc bấy giờ ”[11]. Do vậy, pháp luật và đạo đức luôn vận động, biến đổi
cùng với sự phát triển của xã hội. Mỗi hình thái kinh tế xã hội sẽ có một
tương ứng một hình thái đạo đức và pháp luật.
Theo quan điểm của Mác khi nghiên cứu về đạo đức cần phải đặt đạo
đức trong mối tương quan với những hình thái ý thức xã hội khác như chính
trị, pháp luật, khoa học nghệ thuật…. thì mới làm sáng tỏ được bản chất của
nó. Bởi “với tư cách là một hình thái ý thức, đạo đức không phải là kết quả do
tác động của một yếu tố riêng biệt, duy nhất nào. Tính phức tạp và biện chứng
trong sự phát triển của nó luôn gắn liền với tác động đa tầng và đa hướng,
trong đó quan hệ giữa đạo đức - chính trị, pháp quyền là xoắn xuýt hơn cả ”
[15].
“Chính trị là hiện tượng phổ biến xác định quan hệ giai cấp, tương quan
lực lượng giai cấp là sự biểu hiện tập trung của kinh tế trong xã hội có giai
cấp” [11]. Chính trị có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội. 21
Trong xã hội chính trị đóng vai trò là sợi dây liên hệ, chất kết dính giữa nhà
nước với cơ sở hạ tầng kinh tế và với các bộ phận khác trong kiến trúc thượng
sẽ không có sự thống nhất giữa hệ thống chính trị và đạo đức của nhân dân.
Đạo đức của nhân dân là những nguyên tắc, những chuẩn mực được sinh ra từ
cuộc sống lao động phản ánh ước mơ, nguyện vọng của nhân dân về tự do,
bình đẳng, về tình thương giữa con người và con người. Những quan hệ đạo
đức của nhân dân luôn mâu thuẫn, xung đột với chủ trương, chính sách của
giai cấp thống trị, bóc lột.
Tuy nhiên, chỉ đến xã hội xã hội chủ nghĩa với mục tiêu giải phóng con
người, giải phóng xã hội, đề cao tình yêu thương giữa con người với con
người thì những giá trị đạo đức tiến bộ của nhân dân mới có cơ hội và khả
năng được hiện thực hoá. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, về cơ bản là có sự
thống nhất giữa lợi ích của giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích của xã
hội, của toàn thể nhân dân lao động. Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo thống nhất của
Đảng cộng sản. “Theo quan điểm của V.I. Lê Nin sự thống nhất giữa chính trị
- đạo đức của Đảng cộng sản và nhân dân trở thành một trong những động
lực căn bản thúc đẩy sự phát triển của xã hội”[15].
“Trong Hệ tư tưởng Đức, C. Mác và Ph. Ăngghen đã khẳng định giai
cấp nào đang là lực lượng vật chất chiếm vị trí thống trị trong xã hội thì cũng
là lực lượng tinh thần chiếm vị trí thống trị”[11]. Theo đó có thể nói, trong xã
hội có sự phân chia giai cấp, giai cấp thống trị có tác động chi phối đến các
hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầngtrong đó có pháp luật và đạo đức.
Đồng thời giai cấp thống trị cũng sử dụng đạo đức và pháp luật nhằm bảo vệ
địa vị thống trị của mình trong xã hội, thông qua nhà nước thực hiện việc
quản lý xã hội. “Bất kỳ một giai cấp, một nhà nước của giai cấp cầm quyền
nào cũng đều có ý thức trong việc sử dụng hai hình thái ý thức xã hội này
phục vụ cho lợi ích của mình” [15]. Pháp luật và đạo đức là hệ thống những
nguyên tắc, quy tắc chung tham gia quy định, điều chỉnh các hành vi và hoạt 23
chỉnh các quan hệ xã hội. Với phạm vi điều chỉnh rộng hơn so với pháp luật
cùng với sức mạnh cưỡng chế bằng dư luận xã hội, đạo đức có thể điểu chỉnh
được hầu hết các quan hệ xã hội. Dư luận xã hội không chỉ lên án những hành
vi phản đạo đức mà còn cổ vũ, khuyến khích những hành vi tích cực phù hợp
với những chuẩn mực của đạo đức và pháp luật.
Pháp luật và đạo đức là những phạm trù lịch sử, nó vận động cùng với
sự biến đổi của các điều kiện kinh tế xã hội. Pháp luật biến đổi gần như toàn
bộ thông qua đấu tranh giai cấp, đấu tranh cách mạng . V.I. Lê Nin đã chỉ rõ,
trong thời đại đế quốc chủ nghĩa khi mà giai cấp thống trị đã chuyển thượng
tầng kiến trúc của nó sang phía hoàn toàn phản động về chính trị, thì nó tự bỏ
luôn cả những bộ mặt “dân chủ”, “bác ái”, “công bằng” giả hiệu của pháp luật
tư sản do chính nó xây dựng nên từ trước đó và chỉ áp dụng những “đạo luật
trắng trợn”[15]. Khi xã hội có sự biến đổi về chính trị, một giai cấp mới lên
nắm quyền thống trị xã hội thay thế giai cấp vừa bị lật đổ, thì giai cấp mới sẽ
không sử dụng toàn bộ hệ thống pháp luật của giai cấp cầm quyền cũ để quản
lý xã hội. Trên cơ sở pháp luật cũ, giai cấp cầm quyền sẽ xây dựng nên một
hệ thống pháp luật mới nhằm thể hiện ý chí và bảo vệ địa vị thống trị của
mình trong xã hội. Trong khi đó sự biến đổi của chính trị lại không làm mất đi
ngay lập tức những giá trị đạo đức cũ mà trong những trường hợp nhất định,
giai cấp cầm quyền mới còn phải sử dụng đạo đức trong quá trình cai trị xã
hội. Đạo đức có sức sống bền bỉ trong lòng nhân dân vì vậy mà việc xóa bỏ
những quan niệm đạo đức không còn phù hợp với điều kiện mới không phải
là điều dễ dàng. Vì vậy mà, việc xây dựng một nền đạo đức mới, tiến bộ, hiện
đại là nhiệm vụ không thể thực hiện một cách nóng vội được.
Như vậy, có thể thấy giữa đạo đức, chính trị và pháp quyền có mối
quan hệ khăng khít với nhau cùng phục vụ đường lối chính trị của một giai
cấp thống trị nhất định. “Hai lĩnh vực đạo đức và pháp luật cùng tồn tại như