MỞ ĐẦU.
1.
Lý do chọn đề tài.
Hàng ngàn năm qua, với bao thăng trầm lịch sử, nền văn hiến Việt Nam
vẫn luôn được kế thừa, phát huy và phát triển. Lịch sử xã hội Việt Nam, từ
trong lòng của nền văn hiến ngàn năm ấy đã sản sinh ra biết bao những bậc
anh hùng hào kiệt, các bậc trí thức tài năng của nhiều thời đại, đã đóng góp
công sức và trí tuệ không nhỏ cho sự phát triển của đất nước. Ngàn đời nay
chúng ta luôn tự hào về truyển thống tôn sự trọng đạo, truyền thống hiếu học
của các bậc hiền tài của dân tộc. Cùng với thời gian truyền thống tốt đẹp này
được gìn giữ và phát huy trong mọi điều kiện xã hội.
Với chiều dài ngàn năm lịch sử, nền văn hiến Việt Nam phát triển
không ngừng, trong các giai đoạn thăng trầm của lịch sử khoa bảng Việt Nam
luôn tự hào ghi lênđó những tên người anh hùng, những nhân tài của đất
nước. Những tiến sĩ, những Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt...
những bậc hiền tài đã làm lên trang sử hào hùng của dân tộc. “Hiền tài là
nguyên khí quốc gia” tư tưởng ấy từ bao đời nay luôn được chúng ta phát huy
triệt để, chính điều đó đã giúp đất nước vững vàng vượt qua mọi khó khăn,
phá tan bao cuộc xâm lăng của các kẻ thù hùng mạnh kể cả những đế chế từng
là nỗi khiếp sợ của biết bao quốc gia trên thế giới. Trong công cuộc kháng
chiến cứu nước chúng ta đã đánh tan ách đô hộ của chế độ thực dân, phát xít
hai cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta đã nói lên điều đó. Đã nói
lên vai trò của nhân tài, của trí tuệ Việt trong mọi hoàn cảnh.
Ngày nay nhân loại đang bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của
những lao động sáng tạo với cuộc cách mạng tri thức bùng nổ trên phạm vi
toàn thế giới. Chưa bao giờ vấn đề tri thức và nguồn lực con người lại được
chú trọng như ngày nay. Thế giới đã và đang từng bước tiến tới phát triển bền
vững, sự thành công hay thất bại của một quốc gia, dân tộc trong cuộc cạnh
tranh khốc liệt của toàn cầu hóa của yêu cầu phát triển bền vững được quyết
dân thì nhất định chúng ta sẽ làm được. Tuy thế hiện nay vẫn còn tình trạng
bất cập trong việc sử dụng bố trí và bồi dưỡng nhân tài. Ngoài ra còn phải kể
1
. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lẩn thứ X, 2006, tr. 98, 99.
2
đến tình trạng “chảy máu chất xám” đang diễn ra trên mọi lĩnh vực. Thực
trạng trên cho thấy chúng ta chưa có một chế độ, chính sách hợp lý trong việc
thu hút và sử dụng nhân tài.
Chính những lý do trên, trong tiểu luận này tác giả chọn “vai trò của trí
thức khoa học xã hội với phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay ” làm đề
tài nghiên cứu cho môn Chính trị học phát triển.
2.
Tình hình nghiên cứu đề tài.
Phát huy tiềm năng của trí thức nói chung và trí thức khoa học xã hội
nói riêng đã trở thành một hiện tượng có tính quy luật trong lịch sử phát triển
của mỗi dân tộc. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh yêu cầu phát huy vai trò, trí thức khoa học xã hội ngày càng trở lên
cấp thiết. Phát triển tiềm năng, vai trò của đội ngũ tri thức khoa học xã hội ở
nước ta tỷ lệ thuận với nhu cầu thực tiễn phát triển của đất nước dưới sự lãnh
đạo của Đảng, Nhà nước. Thực tiễn cách mạng và công cuộc xây dựng xã hội
chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ ở nước ta cho thấy khoa học xã hội và chính
trị có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau ngay cả khi giải quyết các vấn đề
tư tưởng riêng biệt. Khoa học xã hội và chính trị, trí thức khoa học xã hội và
Mục đích nghiên cứu đề tài.
Hiện nay chúng ta đã và đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh, con người và nguồn lực con người nói chung và năng lực, vai
trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội nói riêng luôn là nhân tố quan trọng
hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Do đó vấn
đề phát huy vai trò của nguồn nhân lực, trí thức khoa học xã hội trở thành vấn
đề cấp thiết, Đảng, Nhà nước ta hết sức chú trọng. Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí
Minh đã từng nói: “cán bộ tốt việc gì cũng xong, “muôn việc thành công hay
thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Trong các văn kiện của mình, Đảng ta
đã khẳng định rõ cán bộ nói chung là khâu then chốt trong công tác xây dựng
1
Chính trị và phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế - những vấn đề lý luận và
thực tiễn. (Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế). Nxb. Chính trị - Hành chính, 2009. Tr. 777
2
Chính trị và phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế - những vấn đề lý luận và
thực tiễn. (Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế). Nxb. Chính trị - Hành chính, 2009. Tr. 758
4
Đảng, là nhân tố có ý nghĩa quyết định tới toàn bộ sự nghiệp cách mạng mà
nhân dân ta đang tiến hành.
Trên những cơ sở đó, trong tiểu luận này tác giả tiếp tục có những
nghiên cứu về vai trò của trí thức khoa học xã hội (một bộ phận nhỏ trong
công tác cán bộ mà Đảng ta chú trọng) với mục đích:
- Thứ nhất: làm rõ vai trò của đội ngũ trí thức khoa học đối với sự nghiệp
học chính trị học như: phương pháp
Thứ ba: nhóm các phương pháp khác: phương pháp nghiên cứu tài liệu;
phương pháp so sánh; phương pháp lịch sử vấn đề.
5.
Phạm vi nghiên cứu đề tài.
Trong tiểu luận này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về vai trò của đội ngũ trí
thức khoa học xã hội đối với sự phát triển bền vững của đất nước hiện nay. Vấn
đề này là rất rộn lớn và phức tạp, song do sự hạn chế về thời gian và lượng kiến
thức của tác giả còn hạn chế, vì thế tác giả chỉ dừng lại ở việc mô phỏng, làm rõ
một số vấn đề cơ bản đã nêu ở phần mục đích nghiên cứu đề tài.
6.
Bố cục của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tiểu luận được chia làm ba phần cơ bản:
- Chương I: Mấy vấn đề lý luận về trí thức khoa học xã hội và phát triển
bền vững.
- Chương II: Vai trò của trí thức khoa học xã hội với phát triển bền vững.
- Chương III: Khái lược về thực trạng trí thức khoa học xã hội ở Việt
Nam và một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của trí thức khoa học xã hội
với việc phát triển bền vững hiện nay.
Chương I: MẤY VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÍ THỨC KHOA HỌC XÃ
HỘI VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.
1. Khái niệm cơ bản về trí thức khoa học xã hội.
1.1 Khoa học xã hội.
Thứ nhất, khoa học: là hệ thống những tri thức được hệ thống hóa, khái
quát hóa từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm; nó phản ánh dưới dạng
6
. Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm từ điển học: Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 2006. Tr 503.
. Mác – Ăngghen: Tuyển tập, Nxb, Sự thật, 1984, t.6, tr. 777.
3
. V.I Lênin: Toàn tập, t. 1, tr. 163.
2
7
Tiếp thu và cải biến chủ nghĩa Mác – Lênin cho phù hợp vơi hoàn cảnh
cụ thêt Việt Nam, nhìn nhận chủ nghĩa duy vật đồng nghĩa với khoa học xã
hôi đã mang lại cách nhìn mới, khoa học trong khi tiếp cận, tìm hiểu vấn đề
này. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cho rằng, sự hiểu biết về xã hội và con người
cũng là một quá trình lịch sử, điều này cần đến xã hội với những điều kiện
thực tiễn của nó mới có thể khái quát thành tri thức. Người cũng nhấn mạnh,
hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đâu xã hội đã làm nảy sinh khoa học xã
hội. Tri thức khoa học xã hội cũng cần phải có điều kiện thực tiễn để kiểm
nghiệm mới dẫn đến sự thay đổi về chất, mới trở thành khoa học thực thụ.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là thành quả của nhận thức xã hội ở trình độ cao.
Nghĩa là, sự ra đời và phát triển nhanh chóng của chủ nghĩa tư bản, sự xuất
hiện giai cấp, đối kháng giai cấp và đấu tranh giai cấp đã mang lại cho giai
cấp vô sản sự hiểu biết lịch sử - hiểu biết “sứ mệnh lịch sử” của giai cấp
mình, hay đó chính là sự hiểu biết xã hội sâu sắc, khi đó khoa học xã hội mới
chính thức trở thành một khoa học thực thụ.
Ngày nay, lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được xếp chung
vào hệ thống các khoa học xã hội, giữ vị trí chủ đạo về tư tưởng, lý luận,
phương pháp cho khoa học xã hội và nhân văn, đồng thời là thế giới quan,
phương pháp luận chung của mọi hoạt động nghiên cứu khoa học.
Theo nghĩa hẹp, có sự phân biệt tương đối với khoa học nhân văn.
Có ý kiến cho rằng chỉ nên dùng khái niệm “khoa học xã hội” là đủ vì
nghiên cứu của khoa học này chú trọng nhiều hơn tới những giá trị tinh thần
và hoạt động tinh thần của con người. Có người quan niệm, khoa học nhân
văn là một nhóm đồng thời là một hệ thống các môn khoa học về con người,
và những hoạt động của con người gắn liền với các hoạt động sáng tạo ra lịch
sử, các giá trị văn hóa, tinh thần...
Hiện nay, ở Việt Nam giữa khoa học xã hội và khoa học nhân văn tuy
có sự phân biệt song hai ngành khoa học này được xếp vào cùng một nhóm
ngành với tên chung là khoa học xã hội và nhân văn. Trong thực tiễn cũng
như trong lý luận đã có không ít trường hợp khoa học nhân văn làm cho trở
lên mờ nhạt khi mà khái niệm khoa học xã hội được dùng với nghĩa bao hàm
9
cả khoa học nhân văn. Tình trạng trên xảy ra là do giữa khoa học xã hội và
khoa học nhân văn có sự gần gũi về mục đích thực tiễn, đối tượng nghiên cứu,
và đôi khi là cả phương pháp nghiên cứu, chính điều này đã làm cho khoa học
xã hội và khoa học nhân văn có sự liên hợp. Thực tế đã chỉ ra rằng, trong
nhiều trường hợp có sự gắn bó, liên hợp ngay trong một khoa học, như triết
học, vốn triết học thuộc về khoa học xã hội nhưng triết học được đặt lên trên
mọi khoa học, trên cả khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã
hội. Lại có những khoa học nặng về nhân văn như sử học, ngôn ngữ học, văn
học... Lại có những khoa học thuộc về khoa học liên ngành nó bao hàm cả
khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học tự nhiên như khảo cổ học,
dân tộc học, địa lý học. Do đó, sự phân loại chỉ mang ý nghĩa tương đối. Đây
là cách nhìn nhận phù hợp với thực tế nghiên cứu khoa học hiện nay.
Nghiên cứu về xã hội và các quy luật vận động của xã hội, khoa học xã
hội bao giờ cũng hướng đến đích nhân văn, tạo điều kiện cho con người phát
triển tự do và toàn diện. Sự hiểu biết về con người, dân tộc, lịch sử,... và
những giá trị tinh thần của con người mang lại cho khoa học xã hội một cái
nhìn cụ thể - lịch sử. Mặt khác, những giá trị tinh thần của con người bao giờ
niệm trí thức quả thật không hề đơn giản, do sự xuất hiện của trí thức và giới
trí thức rất phức tạp và đa dạng trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử. Do
đó, việc nắm bắt bản chất của trí thức và giới trí thức còn có nhiều ý kiến
khác nhau. Mỗi người có thể xuất phát từ cách nhìn khác nhau thông qua lăng
kính chủ quan của mình để đưa ra cách tiếp cận về trí thức và tầng lớp trí thức
trong xã hội. Nhưng chưa một khái niệm, một quan điểm nào về trí thức và
tầng lớp trí thức được coi là hoàn chỉnh, mang tính đại diện chung.Có thể nói
rằng: “Trí thức Việt Nam là những người có trình độ học vấn từ Đại học trở
lên, có năng lực sáng tạo, tư duy độc lập, yêu nước, tinh thần phát triển xã hội
và nhân cách. Đặc điểm của trí thức Việt Nam là yêu nước và có nhân cách
Việt Nam ".Thế nhưng trong thực tế cuộc sống, người có học vấn cao không
phải lúc nào cũng là người có nhân cách văn hóa. Cũng tương tự như vậy, họ
không nhất thiết là người quan tâm và có chính kiến trước những vấn đề nóng
bỏng của thời cuộc, có năng lực đề xuất và phản biện các chính sách về các
11
vấn đề của xã hội, có khả năng tạo ra và hướng dẫn dư luận xã hội; mà thiếu
những phẩm tính này, dù ở mức độ thấp hay cao, đều khó lòng có thể được
coi là trí thức với quan niệm thông thường, phổ quát của thế giới hiện đại.
Trước kia, do chính sách ngu dân, việc học tập khó khăn nên chỉ một số
ít người được đi học. Vì vậy đa số những người học được đại học là những
người có ý chí, có nghị lực và có đủ kiến thức để trở thành trí thức. Trong thời
đại hiện nay việc học đại học trở nên đơn giản và đa số các trường đại học
cũng chỉ đặt mục tiêu đào tạo ra những người làm việc có trình độ. Để trở
thành trí thức, những người đó còn phải phấn đấu tự học và rèn luyện rất
nhiều. Do vậy, định nghĩa trên không phân biệt người công nhân lao động
được đào tạo và người trí thức thực sự. Đồng thời cũng loại bỏ hoàn toàn
những người tự học để có thể đóng góp cho xã hội. Tinh thần yêu nước thì bất
kỳ người dân Việt Nam nào cũng có, nhân cách cũng vậy, đa số người dân
trong thực hiện công việc ấy. Ví dụ, khác với y tá hay hộ lý, bác sĩ phẫu thuật
thực hiện một công việc phức tạp và hệ trọng, quan hệ đến sức khỏe và tính
mạng con người; và để có thể thực hiện công việc đó, người bác sĩ phải được
đào tạo chu đáo về lý luận và thực tiễn; ca phẫu thuật càng phức tạp, trình độ
càng phải cao. Tương tự, người thợ đục đá đục theo khuôn mẫu đã có sẵn, cho
ra lò hàng loạt sản phẩm giống hệt nhau; còn đối với nhà điêu khắc thì mỗi
tác phẩm là một sáng tạo duy nhất, thể hiện tư tưởng và phong cách nghệ
thuật nhất định. Tóm lại, người trí thức thực hiện những công việc có tầm
quan trọng, đòi hỏi trình độ chuyên môn cao hơn, sự huy động nỗ lực trí óc
nhiều hơn.
Nói tóm lại, trí thức là những người lao động trí óc, có hiểu biết sâu
rộng về một hoặc một số lĩnh vực khoa học - công nghệ, văn hóa - nghệ thuật,
quản lý kinh tế - xã hội, thường xuyên vận dụng những hiểu biết đó để phát
hiện và giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh trong lĩnh vực
hoạt động của mình vì lợi ích chung của cộng đồng và nhu cầu nhận thức của
bản thân.
1
. Viện ngôn ngữ học, Trung tâm Từ điển học. Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2006. Tr. 1034.
13
Theo cách hiểu trên thì tầng lớp trí thức là một tập hợp mở và đa dạng,
không giống bất kỳ một tập hợp nào khác trong xã hội như nông dân, công
nhân, thợ thủ công, quân nhân, thương nhân hay người buôn bán nhỏ. Trí thức
có thể là bất kỳ ai trong các tập hợp trên, miễn là có hiểu biết sâu rộng và
tham gia lao động trí óc. Tuy nhiên, bộ phận hạt nhân của tầng lớp trí thức là
các nhà nghiên cứu; các giảng viên đại học; các bác sĩ, dược sĩ cao cấp; các
sâu rộng về các lĩnh vực liên đới với lĩnh vực của mình hoặc các lĩnh vực gần
với chuyên môn của mình.
Tư duy trong hoạt động sáng tạo của tri thức khoa học xã hội cũng
mang những nét đặc thù. Trong đó tư duy trừu tượng và tư duy biện chứng xã
hội là nỗi trội hơn cả. Tư duy trừu tượng trong nghiên cứu khoa học xã hội sẽ
giúp nhà khoa học tòm hiểu được cái phổ biến, cái bản chất từ đó đưa ra được
tính quy luật và quy luật của các hiện tượng xã hội. Với nhà khoa học tự
nhiên việc rút ra chân lý phải thông qua hàng nghìn thí nghiệm với sự hỗ trợ
của các công cụ tinh vi. Còn nhà khoa học xã hội: “khi phân tích những hình
thái kinh tế người ta không dùng kính hiển vi hay những phản ứng hóa học
được, sức trừu tượng hóa phải thay thế cho cả hai cái đó”1. Ăngghen đã từng
nhấn mạnh hơn rằng, phương pháp nghiên cứu lô-gic là phương pháp thích
hợp duy nhất trong khoa học xã hội. Tư duy biện chứng trong phản ánh xã
hội và con người thống nhất trong sự đa dạng, trong những mối quan hệ
khách quan, phổ biến và luôn phát triển, dựa trên các quy luật ấy nhà khoa
học xã hội rút ra được các quy luật, tính quy luật, các đặc điểm, xu hướng vận
động phát triển của xã hội. Cũng do luôn chú ý đến cái phổ biến, cái bản chất
nên tư duy của trí thức khoa học xã hội dễ thấy được những cái mới nảy sinh,
những xu hướng phát triển tạo điều kiện cho xã hội chủ động và hoạt động
tích cực.
Về phương pháp nghiên của khoa học xã hội: phương pháp luận đặc
thù của khoa học xã hội hiện đại là phương pháp duy vật lịch sử. Đây là
phương pháp phát huy cao độ hiệu quả trong quá trình nghiên cứu xã hội.
Lịch sử phát triển của khoa học xã hội chỉ ra rằng loại bỏ phương pháp duy
1
Mác – Ăngghen: Tuyển tập, t. 3, tr. 198
15
V.I. Lênin: Toàn tập, t. 1, tr. 421.
16
của chính Đảng đại diện để đi sâu vào đời sống xã hội. Khi đó, giá trị thực
tiễn của khoa học xã hội mới vượt qua giai đoạn nhận thức thế giới và đi vào
cải tạo thế giới. Cũng cần phải khẳng định thêm rằng không vì tác động gián
tiếp mà hiệu quả của khoa học xã hội kém phần quan trọng đối với quá trình
phát triển của lịch sử.
Nhìn chung, có thể nói rằng trí thức khoa học xã hội là một bộ phận của
đội ngũ trí thức. Họ là những người lao động trí óc trong lĩnh vực sáng tạo và
truyền bá tri thức khoa học xã hội và những giá trị nhân văn. Họ là những người
có kiến thức sâu rộng về con người và xã hội. Họ là những người có chuyên môn
trong tững lĩnh vực hoặc nhiều lĩnh vực của khoa học xã hội. Trí thức khoa học
xã hội là những người, thông qua lao động sáng tạo của mình tham gia vào đời
sống chính trị - xã hội, họ giúp cho hệ tư tưởng của giai cấp thống trị trở thành
hệ tư tưởng thống trị trong xã hội. Trí thức khoa học xã hội là bộ phận quan trọng
của nguồn lực trí tuệ giúp xã hội phát triển. Việc phát huy vai trò của trí thức khoa
học xã hội sẽ giải phóng hơn nữa tiềm năng của con người, đây chính là đầu mối
của quá trình phát huy tiềm năng con người.
1.
Khái niệm phát triển bền vững.
Phát triển bền vữnglà một khái niệm nhằm định nghĩa về sự phát triển
về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong
tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia
trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý,
17
tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến
môi trường sinh thái học".
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ báo cáo
Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường
và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi
rõ: Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu
hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu
của các thế hệ tương lai...". Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm
có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo
vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà
cầm quyền, các tổ chức xã hội... phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích
dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội – môi trường.
Ngoài ra cũng có một số ý kiến cho rằng phát triển bền vững không nên
chỉ được tiếp cận từ góc độ kinh tế hay bảo vệ môi trường sinh thái, mà nó
còn phải được nhìn nhận từ góc độ xã hội và văn hóa, vì phát triển kinh tế và
văn hóa, xã hội có mối liên hệ hữu cơ. Kinh tế chỉ phát triển bền vững trong
sự phát triển bền vững hài hòa về văn hóa, xã hội.
Gần đây, trong quá trình tiếp cận khái niệm phát triển bền vững đã xuất
hiện một hướng nghiên cứu khác, đó là tìm hiểu và xây dựng các mô hình và
cứu, dự báo xu thế của thời đại, xu thế quốc tế và xu thế khu vực, qua đó cung
cấp cho chủ thể chính trị cái nhìn đúng đắn giúp đưa ra các quyết sách ảnh
hưởng trực tiếp tới quá trình phát triển và phát triển bền vững của quốc gia.
2.
Mối quan hệ giữa trí thức khoa học xã hội với phát triển bền vững.
Như đã bàn tới ở trên, vai trò to lớn của khoa học xã hội trong quá trình
phát triển của nhân loại đã và đang được khẳng định. Vai trò đó không chỉ bị
quy định bởi “tính người” trong phát triển mà còn bị quy định bởi trình độ của
xã hội hóa sản xuất. Khoa học xã hội đang được huy động và có điều kiện
tham gia ngày càng rộng hơn vào thực tiễn. Nó chẳng những tạo ra cơ sở cho
sự phát triển nhân bản và bền vững mà còn góp phần tạo ra tốc độ và chất
lượng của quá trình này. Nhu cầu thực tiễn đối với khoa học xã hội và tiềm
năng của nó đang hứa hẹn những bước phát triển mới của nhóm ngành này.
19
Đã có dự báo, một phần tư thế kỷ sắp tới, những sự kiện có ý nghĩa lớn nhất
sẽ xảy ra không phải trong lĩnh vực khoa học tự nhiên mà là trong lĩnh vực
khoa học xã hội.
Trình độ xã hội hóa cao của nền sản xuất hiện đại, sự tham gia của trí
tuệ con người vào trong các quá trình xã hội và cả những kinh nghiệm lịch sử
mà con người có được thông qua lao động và đấu tranh là những yếu tố quy
đinh vai trò to lớn của khoa học xã hội. Thêm vào đó, những vấn đề đặt ra
trong phát triển và phát triển bền vững cũng đòi hỏi phải đẩy mạnh việc sự
dụng vai trò của trí thức khoa học xã hội. Nguy cơ sinh thái đòi hỏi con
người phải tự điểu chỉnh để có thái độ đúng mực với thiên nhiên. Nguy cơ
dân số bùng nổ buộc con người phải hiểu được bản chất xã hội của quá trình
tăng trưởng dân số để tự điều chỉnh theo hướng bền vững và hài hòa... Nguy
tham gia trực tiếp vào các vấn đề mang tính định hướng hoặc lên án việc áp
dụng thành quả của khoa học công nghệ vào cuộc sống khi các phát kiến của
khoa học công nghệ bị sử dụng sai mục đích gây hậu quả nghiêm trọng cho xã
hội. Chẳng hạn, với khả năng dự báo của mình các trí thức khoa học xã hội sẽ
đưa ra các dự báo chính xác về hậu quả xã hội của chiến tranh, của việc chạy
đua vũ trang, phổ biến vũ khí hạt nhân với các quốc gia,... Từ đó, chúng ta
thấy rõ hơn vai trò của trí thức khoa học xã hội với phát triển bên vững.
Ở Việt Nam, mối quan hệ giữa trí thức khoa học xã hội với sự phát
triển bền vững được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau. Trước hết, mối
quan hệ biện chứng này được thể hiên thông qua sự định hướng phát triển của
đât nước. Sẽ không có gì là quá đáng khi nói rằng trí thức khoa học xã hội họ
là những người trực tiếp nghiên cứu, tiếp tục hoàn thiện chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tạo cơ sở lý luận, trang bị lý luận cho hoạt động
lãnh đạo của Đảng và Nhà nước bởi lẽ đại đã số những nhà nghiên cứu lý
luận, những cán bộ trong Hội đồng Lý luận Trung ương đều là những trí thức
khoa học xã hội trưởng thành từ các viện nghiên cứu, các trường lý luận hàng
đầu Việt Nam. Tiếp theo, do đặc điểm nhanh nhạy với thời cuộc, và tình yêu
khoa học, tính hướng đích nhân văn cao cả mà những trí thức khoa học xã hội
là những người phản biện tích cực các chính sách phát triển kinh tế - văn hóa
21
– xã hội – chính trị của Đảng và Nhà nước, chính điều này đã giúp cho hệ
thống chính trị có cái nhìn thực tiễn và đúng đắn về các chính sách phát triển
quốc gia trong từng giai đoạn – tiến tới phát triển bền vững.
CHƯƠNG II. MỘT SỐ VAI TRÒ CƠ BẢN CỦA TRÍ THỨC KHOA
HỌC XÃ HỘI VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY.
1.
Tiếp tục hoàn thiện chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động sẽ quyết định vận mệnh của chủ
nghĩa tư bản.” 1
Chủ nghĩa tư bản hiện nay đang đẩy mạnh quá trình tự biến đổi với
những biến tướng khó lường. Trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều trào lưu
xã hội mới một trong số đó là trào lưu xã hội dân chủ, trào lưu này được nhiều
học giả phương Tây đánh giá cao, điều này cho thấy trào lưu xã hội dân chủ
có thể thắng thế ở nhiều nơi (Bắc Âu, Tây Âu, Đông Âu, Mỹ La Tinh..) sẽ có
thêm nhiều lực lượng, quốc gia tham gia, trong đó có một số quốc gia xã hội
củ nghĩa cũ và không loại trừ khả năng có cả một số lực lượng cộng sản hiện
thời ngả theo. Tính từ thời điểm Quốc tế II sụp đổ (đầu thế kỷ XX) đến nay,
trào lưu xã hội dân chủ đã có lịch sử tồn tại một thế kỷ. Dù đã từng bị đẩy vào
không ít hoàn cảnh khó khẵn, nhưng chủ nghĩa xã hội dân chủ cũng đã
khẳng định sự hiện diện của mình trong thế giới đương đại, cả trên phương
diện một trào lưu tư tưởng và chế độ kinh tế - xã hội ở hàng chục quốc gia
cũng như một lực lượng chính trị quốc tế mạnh mẽ. Ngay từ rất sớm, Mác,
Ăngghen và Lênin đã phân tích các cơ sở kinh tế - xã hội và cơ sở giai cấp
của trào lưu tư tưởng lợi hại này. Đó là: các cuộc cải cách kinh tế - xã hội của
chủ nghĩa tư bản, sự phát triển của giai cấp tiểu tư sản, tầng lớp trung lưu và
đội ngũ công nhân quý tộc trong lòng chủ nghĩa tư bản hiện đại... Ngày nay,
các cơ sở đó chẳng những vẫn tồn tại mà còn có những biểu hiện gia tăng,
tiếp tục tạo ra mảnh đất cho trào lưu xã hội dân chủ phát sinh. Thêm vào đó,
sự thất bại của nhiều mô hình phát triển kinh tế - xã hội của cả chủ nghĩa tư
bản và chủ nghĩa xã hội trong mấy thập kỷ vừa qua đã trở thành chất xúc tác
1
Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI.
23
điều chỉnh, thích nghi. Những khái niệm "xã hội hậu tư bản", hay "chủ nghĩa
tư bản mới", "chủ nghĩa tư bản nhân dân", hay "chủ nghĩa tư bản của những
người lao động", v.v. mà một số học giả phương Tây ưa dùng nói lên hai mặt:
nó vừa là một sự ngụy biện rằng, chủ nghĩa tư bản đã không còn là chủ nghĩa
tư bản nữa vì nó không còn bóc lột; vừa là - về khách quan - mặc nhiên thừa
nhận chế độ tư bản đích thực, truyền thống như bản thân nó, đã hết lý do tồn
tại, đã hết khả năng tự biện minh; có nghĩa, ngay các nhà tư tưởng tư sản cũng
đã mất niềm tin ở chính chủ nghĩa tư bản, đã mặc nhiên và gián tiếp phải nói
đến một chế độ mới đang gõ cửa chủ nghĩa tư bản.
Do đó để tránh bị diệt vong một cách đáng tiếc, hiện nay chủ nghĩa tư
bản đang có những điều chỉnh mạnh mẽ. Các học giả phương trí thức khoa
học xã hội phương Tây – những người nhanh nhạy với thời cuộc – họ đã hiểu
được kết cục vốn có của chế độ mình đang theo. Chính vì thế, họ đã đưa ra rất
nhiều học thuyết về giá trị về vấn đề xã hội nhằm làm giảm bớt căng thẳng
đang âm ỉ cháy trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa. Các học thuyết họ đưa ra
đã làm không ít người phải mơ ước, phải thán phục, trong số đó thậm chí có
cả những học giả, những nhà khoa học vô sản chủ nghĩa bị lung lay – mô hình
xã hội dân chủ ở các nước Bắc Mỹ, Bắc Âu... đã làm cho họ siêu lòng trong
nhất thời mà không nhận ra bản chất thối nát ẩn chứa sâu thẳm bên trong nó.
Một cách điều chỉnh nữa của chủ nghĩa tư bản hiện nay là chúng không ngừng
rêu rao về tính “ưu việt”!? của chủ nghĩa tư bản. Bằng mọi cách chúng làm
cho giai cấp công nhân, những người lao động nghèo khổ không còn nhận ra
bản chất bóc lột thâm độc của chúng. Với những chính sách phúc lợi xã hội
tương đối tốt ở bề ngoài chúng đã làm cho những người lao động mất dần tính
chiến đấu, mất dần sức chiến đấu với chủ nghĩa tư bản...
Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới. Nền kinh tế Việt
Nam đã và đang từng bước tham gia sâu rộng vào sân chơi này. Hội nhập vừa
là cơ hội để phát triển nhưng đồng thời hội nhập cũng là con đường ngắn nhất