tiểu luận cao học Vai trò lịch sử và xu thế vận động của chủ nghĩa tư bản hiện đại - Pdf 38

A- PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nhìn chung lịch sử xã hội toàn nhân loại đã phát triển qua nhiều giai đoạn kế
tiếp nhau và tương ứng mỗi giai đoạn là hình thái kinh tế- xã hội nhất định. Cho
đến nay, lịch sử nhân loại đã trải qua 4 hình thái kinh tế- xã hội : cộng sản nguyên
thủy,chiếm hữu nô lệ, phong kiến , tư bản chủ nghĩa và đang trong thời kỳ quá độ
sang chủ nghĩa xã hội – giai đoạn đầu của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ
nghĩa. Dựa trên những nền tảng của học thuyết Mác Ănghen , Lê nin đã đưa ra
những lý luận về chủ nghĩa tư bản nhà nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,nó
được trình bày rải rác trong rất nhiều các tác phẩm của ông, trong điều kiện kinh tế
và chính trị khác nhau. Theo Lê nin chủ nghĩa tư bản nhà nước lúc đó là sự cứu
nguy đối với giai cấp vô sản còn non trẻ khi giai cấp mới nắm chính quyền. Chủ
nghĩa tư bản nhà nước đó là điều cần thiết và có lợi, chẳng những nó “không đáng
sợ mà còn đáng mong đợi”. Chỉ có du nhập chủ nghĩa tư bản nhà nước thì chính
quyền giai cấp vô sản mới có thể tạo dựng được cơ sở xây dựng chủ ngĩa xã hội.
Chủ nghĩa tư bản là một hình thái kinh tế – xã hội của xã hội loài người,
xuất hiện đầu tiên tại châu Âu phôi thai và phát triển từ trong lòng xã hội phong
kiến châu Âu và chính thức được xác lập như một hình thái xã hội tại Anh và Hà
Lan ở thế kỷ thứ 17.
Trong suốt quá trình phát triển chủ nghĩa tư bản đã có những đóng góp tích
cực đối với phát triển sản xuất, làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt đời sống xã hội. Tạo
ra lượng của cải vật chất khổng lồ - nền kinh tế tự nhiên, đi từ tự cung tự cấp đến
nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa - sản xuất nhỏ lẻ , đến sản xuất lớn hiện đại ,
làm tăng năng suất lao động và tạo ra lượng của cải vật chất khổng lồ.

1


Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm cho lực lượng sản xuất phát
triển mạnh mẽ với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao: từ kỹ thuật thủ
công lên kỹ thuật cơ khí và ngày nay các nước tư bản chủ nghĩa cũng đang là

tư bản.
- Nghiên cứu xu thế vận động của chủ nghĩa tư bản hiện đại nhằm tìm kiếm
cơ hội và nguy cơ sẽ xảy ra cho nhân loại.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Bài tiểu luận nghiên cứu các vẫn đề sau:
-

Những vấn đề lý luận chung về chủ nghĩa tư bản
Vai trò đối với sự phát triển nền sản xuất xã hội và xu thế vận động của chủ
nghĩa tư bản hiện đại.

B- NỘI DUNG
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về chủ nghĩa tư bản
1.1 Khái niệm và đặc trưng
1.1.1 Một số khái niệm

của chủ nghĩa tư bản.

Chủ nghĩa tư bản là một hình thái kinh tế – xã hội của xã hội loài người,
xuất hiện đầu tiên tại châu Âu phôi thai và phát triển từ trong lòng xã hội phong
kiến châu Âu và chính thức được xác lập như một hình thái xã hội tại Anh và Hà
Lan ở thế kỷ thứ 17. Sau cách mạng Pháp cuối thế kỷ 18 hình thái chính trị của
3


"nhà nước tư bản chủ nghĩa" dần dần chiếm ưu thế hoàn toàn tại châu Âu và loại
bỏ dần hình thái nhà nước của chế độ phong kiến, quý tộc. Và sau này hình thái
chính trị – kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa lan ra khắp châu Âu và thế giới. Sự
phát triển của chủ nghĩa tư bản (với tư cách một hình thái kinh tế) từ chủ nghĩa
phong kiến không do một lý thuyết gia nào xây dựng. Tuy nhiên A.Smith là người

tự do kinh doanh bằng hình thức các công ty tư nhân để thu lợi nhuận thông qua
cạnh tranh trong các điều kiện của thị trường tự do: mọi sự phân chia của cải đều
thông qua quá trình mua bán của các thành phần tham gia vào quá trình kinh tế.
Các công ty tư nhân tạo thành thành phần kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế chủ
yếu của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Có thể nói các yếu tố quyền tư hữu, thành
phần kinh tế tư nhân, kinh doanh tự do, cạnh tranh, động lực lợi nhuận, tính tự định
hướng tự tổ chức, thị trường lao động, định hướng thị trường, bất bình đẳng trong
phân phối của cải là các khái niệm gắn liền với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.


Đặc điểm về kinh tế của chủ nghĩa tư bản
"Chủ nghĩa tư bản" hay các định nghĩa, lý thuyết liên quan đến "chủ nghĩa tư

bản" (CNTB) có thể được hiểu là một hệ thống các quan điểm, các định nghĩa
được những người cộng sản, những chính khách theo phe cộng sản và các chính
khách cánh tả khác đưa ra để xác định một chế độ xã hội trong đó có sự sở hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất gắn với nền công nghiệp có năng suất lao động cao làm
bộc lộ bản chất "bóc lột" lao động làm thuê của các "nhà tư bản". Do ảnh hưởng lý
luận theo quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nhiều lý thuyết gia khái
quát "chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa". Trong khi đó nhiều học giả khác không
coi chủ nghĩa tư bản là một hình thái kinh tế xã hội hay gắn nó với chế độ chính trị.
5


Quan niệm của họ chủ nghĩa tư bản chỉ phản ánh một quan hệ sản xuất trên
nền tảng chế độ tư hữu. Ở các nước mà những người cộng sản gọi là theo chế độ
chính trị "tư bản chủ nghĩa" (đối lập với xã hội chủ nghĩa) thì không có định nghĩa
rõ ràng thế nào là CNTB trong các văn kiện pháp luật hay các văn kiện mang tầm
cỡ quốc gia[cần dẫn nguồn]. . Về mặt chính trị, ở những "quốc gia tư bản" quyền
chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt không hề bị nghi ngờ, họ không đưa ra

tránh gây xáo trộn lớn trong xã hội và để kinh doanh trong các ngành cần thiết
nhưng khó sinh lời. Theo thời gian giữa hai thành phần này thỉnh thoảng lại có sự
hiệu chỉnh bằng các quá trình tư nhân hoá hoặc quốc hữu hoá doanh nghiệp thông
qua việc bán và mua các cổ phần của doanh nghiệp.
-

Nền sản xuất lớn và động lực lợi nhuận:
Khác với nền sản xuất phong kiến là nền sản xuất lấy ruộng đất làm phương

tiện sản xuất cơ bản và sở hữu ruộng đất là đặc quyền của vua, quý tộc và lãnh
chúa, ngành kinh tế chính là nông nghiệp và thương mại. Kinh tế tư bản chủ nghĩa
bác bỏ đặc quyền về ruộng đất hoặc bất cứ độc quyền của tầng lớp quý tộc, thượng
lưu nào. Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là tự do kinh doanh lấy công nghệ, máy móc,
và chất xám làm phương tiện sản xuất chính và là nền kinh tế định hướng sang
công nghiệp, dịch vụ và thương mại. Sự định hướng này hoàn toàn do yếu tố lợi
nhuận và thị trường điều phối. Do phương tiện sản xuất là công nghệ, tri thức nên
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa để có lợi nhuận tối đa luôn có xu hướng hướng đến
"nền sản xuất lớn" với sự tái đầu tư mở rộng và gắn liền với cách mạng khoa họccông nghệ. Việc nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh là lợi ích
sống còn của các chủ sở hữu doanh nghiệp trong cạnh tranh giành lợi nhuận.
-

Mua bán sức lao động (thị trường lao động):
Đây là đặc điểm rất nổi bật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trong nền kinh

tế phong kiến và các nền kinh tế cấp thấp lực lượng nhân công (nông dân, nông nô)
7


bị phụ thuộc vào chủ đất (địa chủ, lãnh chúa) và quý tộc về mặt pháp lý, họ bị gắn
chặt vào ruộng đất và ý chí của chủ đất và quý tộc. Còn nhân công (người lao



-

Tính năng động thị trường:
Mọi giá trị kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội đều có thể và phải được lượng

giá bằng tiền tệ trong các mối quan hệ xã hội, dựa trên sự lượng giá đó để đánh giá
giá trị đối với xã hội, do đó sự lượng giá các giá trị này hoàn toàn mang tính thị
trường và thay đổi rất nhanh theo thời gian, xã hội rất năng động như một thị
trường các giá trị lên giá và xuống giá rất nhanh.
-

Nhân quyền:
Đối với xã hội tư bản chủ nghĩa cá nhân là chủ thể trung tâm của xã hội: là

người sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần và là người thụ hưởng các thành quả
đó. Cá nhân có trách nhiệm hoàn toàn trước xã hội và có các quyền bất khả xâm
phạm đó là nhân quyền. Quyền lợi của cá nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa là tối
cao nếu nó không phủ định quyền của cá nhân khác. Ở đây khái niệm cá nhân là rất
cụ thể.
-

Đa đảng và đa nguyên chính trị:
Vì nền tảng kinh tế tư bản chủ nghĩa khước từ mô hình chỉ huy tập trung,

kinh tế tư bản đề cao sự hành động sáng tạo của cá nhân nên tâm lý xã hội cũng xa
lạ với những giáo điều là "chân lý" không cần bàn cãi. Các quốc gia tư bản chủ
nghĩa không có giáo lý chung cho "chủ nghĩa" của hệ thống này. Xã hội tư bản chủ
nghĩa không bắt buộc công nhận bất cứ "chủ nghĩa", học thuyết hoặc nhân vật thần

Tuy nhiên thời gian đầu, chủ nghĩa tư bản phải dựa vào giai cấp phong kiến
để tồn tại, nên chịu sự kiểm soát chặt của Nhà nước. Giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự
do (hay rộng hơn là chủ nghĩa tự do kinh tế) gắn với sự ra đời của các nhà nước
dân chủ (hay dân chủ tư sản) và sự phát triển của chủ nghĩa tự do, bao gồm tự do
kinh tế. Chủ nghĩa tư bản thời kỳ này phát triển mạnh nhất, thúc đẩy sự phát triển
12


khoa học kỹ thuật và tăng năng suất lao động, đã biến nhiều quốc gia trở thành các
cường quốc kinh tế, tuy nhiên gây ra sự phân hóa xã hội sâu sắc, kể cả bóc lột nhân
công thường thấy. Các tư tưởng cải tạo chủ nghĩa tư bản hoặc chủ nghĩa xã hội
phát triển.
Từ cuối thế kỷ XIX trở đi, nhà nước từ chỗ hầu như không can thiệp kinh tế,
thì lại can thiệp mạnh mẽ vào cơ chế thị trường, điều chỉnh thu nhập, sau đó là một
quá trình quốc hữu hóa lớn diễn ra ở một số nước. Sự hình thành chủ nghĩa tư bản
độc quyền do sự sáp nhập các doanh nghiệp tạo nên các tập đoàn kinh tế gần như
không chịu sự cạnh tranh mang tính tự nhiên cũng là một đặc điểm trong giai đoạn
thứ ba này.
Sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, sự can thiệp vào nhà nước vào kinh tế và
quá trình quốc hữu hóa lại đẩy lên một tầm cao hơn, cho dù vẫn tồn tại kinh tế thị
trường và đa thành phần kinh tế ở "các nước tư bản" phát triển. Từ thập niên 1980
lại một xu hướng khác, là quá trình tư hữu hóa và cắt giảm an sinh xã hội do sự
khủng hoảng nền kinh tế. Tuy nhiên có một trào lưu khác như tại Mỹ la tinh, quá
trình quốc hữu hóa lại diễn ra tại một số nước. Cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây
đã ra tăng sự can thiệp của Nhà nước vào các lĩnh vực kinh tế ở một số nước,
nhưng cơ bản không có một quá trình quốc hữu hóa ồ ạt nào diễn ra.
Nhìn chung bức tranh của chủ nghĩa tư bản hiện đại có thể là một quá trình
đan xen nhau giữa tư hữu hóa ("tư bản hóa") hay quốc hữu hóa ("xã hội hóa", "Nhà
nước hóa") ở các quốc gia, mà nguyên nhân từ sự lên cầm quyền của các lực lượng
cánh tả, bao gồm cả những người tự do cánh tả, hay các lực lượng cánh hữu hay


14


- Thực hiện xã hội hóa sản xuất: Chủ nghĩa tư bản đã thúc đẩy nền sản xuất
hàng hóa phát triển mạnh và đạt tới mức điển hình nhất trong lịch sử, cùng với nó
là quá trình xã hội hóa sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu. Đó là sự phát triển của
phân công lao động xã hội, sản xuất tập trung với qui mô hợp lý, chuyên môn hóa
sản xuất và hợp tác lao động sâu sắc, mối quan hệ kinh tế giữa các đơn vị , các
ngành, các lĩnh vực ngày càng chặt chẽ...làm cho các quá trình sản xuất phân tán
được liên kết lại và phụ thuộc lẫn nhau thành một hệ thống, thành một quá trình
sản xuất xã hội.
- Chủ nghĩa tư bản thông qua cuộc cách mạng công nghiệp đã lần đầu tiên
biết tổ chức lao động theo kiểu công xưởng và do đó đã xây dựng được tác phong
công nghiệp cho người lao động, làm thay đổi nề nếp, thói quen của người lao
động sản xuất nhỏ trong xã hội phong kiến.
- Chủ nghĩa tư bản lần đầu tiên trong lịch sử đã thiết lập nên nền dân chủ tư
sản, nền dân chủ này tuy chưa phải là hoàn hảo song so với thể chế chính trị trong
các xã hội phong kiến, nô lệ...vẫn tiến bộ hơn rất nhiều bởi vì nó được xây dựng
trên cơ sở thừa nhận quyền tự do thân thể của cá nhân.
Tóm lại, chủ nghĩa tư bản ngày nay:
- Với những thành tựu và đóng góp của nó đối với sự phát triển của nền sản
xuất xã hội, là sự chuẩn bị tốt nhất những điều kiện, tiền đề cho sự ra đời của chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Nhưng bước chuyển từ chủ nghĩa tư bản
lên chủ nghĩa xã hội vẫn phải thông qua các cuộc cách mạng xã hội. Dĩ nhiên, cuộc
cách mạng xã hội sẽ diễn ra bằng phương pháp nào
- Hòa bình hay bạo lực, điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào những hoàn cảnh
lịch sử - cụ thể của từng nước và bối cảnh quốc tế chung từng thời điểm, vào sự lựa
chọn của các lực lượng cách mạng.
15

quyền. Vì vậy, chi phí cho quân sự của chủ nghĩa tư bản hiện nay rất lớn, tính ra cứ
2 phút đồng hồ lại có hai triệu đôla bị vứt đi vì chi phí cho quân sự.
-Chủ nghĩa tư bản sẽ phải chịu trách nhiệm chính trong việc tạo ra hố ngăn
cách giữa các nước giàu và các nước nghèo trên thế giới ( thế kỷ 18 chênh lệch là
2,5 lần, hiện nay là 250 lần )
Trong những năm 80 của thế kỷ 20, thế giới thứ ba trì trệ, suy thoái. Điều này cũng
đã được ngân hàng thế giới khẳng định: ở Châu Phi, Mỹ La tinh,...hàng trăm triệu
người đã nhận thấy, đi cùng với tăng trưởng là sự suy tàn về kinh tế, phát triển
nhường chỗ cho suy thoái: ở một vài nước Mỹ La tinh, GDP theo đầu người hiện
nay thấp hơn so với 10 năm trước đây. Ở nhiều nước Châu Phi, nó còn thấp hơn
cách đây 20 năm.một thế giới mà trong đó từ 20 năm nay ở Châu Phi, từ 9 năm nay
ở Mỹ La tinh mức sống không ngừng giảm. Trong khi đó mức sống trong các vùng
khác tiếp tục tăng lên, đó là điều hoàn toàn không thể chấp nhận được.
Các cường quốc tư bản độc quyền hàng mấy thế kỷ nay đã tăng cường vơ
vét tài nguyên, bóc lột công nhân các nước nghèo và tìm cách khống chế họ trong
vòng phụ thuộc thông qua các con đường xuất khẩu tư bản, viện trợ, cho vay...kết
quả là các nước nghèo không những bị cạn kiệt về tài nguyên mà còn mắc nợ
không trả được, điển hình là các quốc gia ở Châu Phi, Châu Mỹ La tinh. Ở Braxin
người ta tính ra riêng số lãi mà Braxin phải trả trong năm 1988 bằng 288 triệu xuất
lương tối thiểu hay bằng xây nhà cho 30 triệu người, trong khi đó ước tính khoảng
2/3 dân Braxin thiếu ăn.
2.2. Xu thế vận động của chủ nghĩa tư bản hiện đại.
2.2.1. Thành tựu của chủ nghĩa tư bản.

17


Trong suốt quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản,những thành tựu mà chủ
nghĩa tư bản đã đạt được đối với phát triển sản suất đó là:


+
+

Máy công cụ điều khiển bằng sè,
Người máy
Hiện nay thế giới đã có khoảng 1. 500. 000 người máy công nghiệp và được

tập trung ở các nước tư bản phát triển. Tỷ lệ người máy trên một vạn dân của của
Thuỵ Điển là 8, Nhật Bản 6, Mỹ 2, Cộng hoà liên bang Đức 1,5. Đặc biệt người
máy (Robot) đã từng bước thay thế phần công việc nặng nhọc, những công đoạn
nguy hiểm, độc hại… cho người lao động, đồng thời đã xuất hiện những nhà máy
tự động hoá do người máy điều khiển những công đoạn cần thiết. Các quá trình lao
động trí óc cũng đã bước đầu được thử nghiệm để người máy thay thế …Tỷ lệ này
có sự khác nhau ở các nước. Chẳng hạn ở Pháp số công nhân làm việc trên máy
hoàn toàn tự động chiếm tỷ trọng 15,7% tổng số công nhân trong các ngành công
nghiệp.
Tính cách mạng của tư liệu sản xuất trước hết ở công cụ lao động đã tác
động dây chuyền đến tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất. Do vậy, phương
thức sản suất của cải vật chất cũng có bước nhảy vọt từ kỹ thuật cơ khí sang bán tự
động và tự động… Từ đó các yếu tố cơ bản của nền kinh tế tri thức đã xuất hiện.
- Thứ hai, do tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Chính
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với những lĩnh vực mũi nhọn được tập
trung là “chùm công nghệ cao” nh kỹ thuật điện tử, công nghệ thông tin, vật liệu
mới, công nghệ sinh học, công nghệ hải dương... đã tạo ra những thành tự mới và
được chủ nghĩa tư bản áp dụng một cách có hiệu quả để tạo ra cái “cốt vật chất”
mới, thay cho công nghiệp cơ khí. Vai trò khoa học ở đây rất to lớn. Nó thực sự đã
phát huy tác dụng khi trở thành lực lượng sản xuất nh C. Mác đã khẳng định, và
ngày nay, vai trò đó đã được đánh giá cao. Chẳng hạn, theo đánh giá gần đây,
người ta cho rằng, những đổi mới công nghệ đã đóng góp tới 65% tăng trưởng kinh
tế của Nhật Bản, 73% kinh tế Anh, 76% kinh tế Pháp và cộng hoà liên bang Đức


trong quá trình vận động, tiếp tục hoàn thiện nó để đạt tối đa tiêu chí của xã hội
hiện đại.


Phát triển lực lượng sản xuất
Qua quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm cho lực lượng sản xuất

phát triển mạnh mẽ với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao: tõ kỹ thuật
thủ công lên kỹ thuật cơ khí, rồi tự động hoá, tin học hoá và công nghệ hiện đại.
Cùng với sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ là quá trình giải phóng sức lao
động, nâng cao hiệu quả khám phá và chinh phục thiên nhiên của con người.
-

Về chất lượng, số lượng và cơ cấu trong đội ngũ người lao động:
Đội ngũ người lao động làm thuê - lực lượng sản xuất cơ bản cũng có sự

biến đổi cả về trình độ nghiệp vụ, cơ cấu và các yếu tố cấu thành giá trị hàng hoá
sức lao động để phù hợp với bước nhảy vọt mang tính cách mạng của tư liệu sản
xuất. Đây là một đòi hỏi khách quan do chính quá trình sản xuất đặt ra. Cho đến
nay, đội ngũ lao động của các nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã đạt trình độ văn
hoá, chuyên môn, nghiệp vụ cao.
-

Về cơ cấu lao động:
Lao động dịch vụ được tập trung cao 70 – 75%, đồng thời đội ngũ chuyên

gia có tay nghề cao chủ yếu được tập trung ở khu vực này. Chẳng hạn, ở Mỹ người
làm nghề văn phòng chiếm 20% tổng số lao động. Đồng thời xuất hiện lực lượng
công nhân cổ vàng (gold colour worker). Đó là các cán bộ chuyên môn có trình độ

của các nhà tư bản đối với công nhân làm thuê, Mặc dù so với các hình thức bóc
lột đã từng tồn tại trong lịch sử, bóc lột tư bản chủ nghĩa cũng đã là một sự tiến bộ,
song theo sự phân tích của Mác và Lênin thì chừng nào chủ nghĩa tư bản còn tồn

22


tại thì chừng đó quan hệ bóc lột còn tồn tại và sự bất bình đẳng, phân hóa xã hội
vẫn là điều không tránh khỏi.
- Các cuộc chiến tranh thế giới với mục đích tranh giành thị trường, thuộc
địa và khu vực ảnh hưởng đã để lại cho loài người những hậu quả nặng nề: hàng
triệu người vô tội đã bị giết hại, sức sản xuất của xã hội bị phá hủy, tốc độ phát
triển kinh tế của thế giới bị kéo lùi lại hàng chục năm
Ngày nay, lại cũng chính chủ nghĩa tư bản là thủ phạm châm ngòi nổ cho
những xung đột vũ trang giữa các quốc gia, mặc dù nhìn bề ngoài thì tưởng chừng
những xung đột đó chỉ đơn thuần bắt nguồn từ những lý do sắc tộc, tôn giáo hay
nhân quyền. Vì vậy, chi phí cho quân sự của chủ nghĩa tư bản hiện nay rất lớn, tính
ra cứ 2 phút đồng hồ lại có hai triệu đôla bị vứt đi vì chi phí cho quân sự.
- Chủ nghĩa tư bản sẽ phải chịu trách nhiệm chính trong việc tạo ra hố ngăn
cách giữa các nước giàu và các nước nghèo trên thế giới ( thế kỷ 18 chênh lệch là
2,5 lần, hiện nay là 250 lần )
Trong những năm 80 của thế kỷ 20, thế giới thứ ba trì trệ, suy thoái. Điều
này cũng đã được ngân hàng thế giới khẳng định: ở Châu Phi, Mỹ La tinh,...hàng
trăm triệu người đã nhận thấy, đi cùng với tăng trưởng là sự suy tàn về kinh tế,
phát triển nhường chỗ cho suy thoái: ở một vài nước Mỹ La tinh, GDP theo đầu
người hiện nay thấp hơn so với 10 năm trước đây. Ở nhiều nước Châu Phi, nó còn
thấp hơn cách đây 20 năm.một thế giới mà trong đó từ 20 năm nay ở Châu Phi, từ
9 năm nay ở Mỹ La tinh mức sống không ngừng giảm. Trong khi đó mức sống
trong các vùng khác tiếp tục tăng lên, đó là điều hoàn toàn không thể chấp nhận
được.

24


Chủ nghĩa tư bản càng phát triển, tính chất và trình độ xã hội hóa của lực
lượng sản xuất ngày càng cao thì quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư
liệu sản xuất ngày càng trở nên chật hẹp so với nội dung vật chất ngày càng lớn lên
của nó. Mặc dù chủ nghĩa tư bản ngày nay đã có điều chỉnh nhất định trong quan
hệ sở hữu, quản lý và phân phối, và ở một chừng mực nhất định, sự điều chỉnh đó
cũng đã phần nào làm giảm bớt tính gay gắt của mâu thuẫn này. Song tất cả những
điều chỉnh ấy vẫn không vượt qua khỏi khuôn khổ của sở hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa. Vì vậy, mâu thuẫn vẫn không bị thủ tiêu.
Theo sự phân tích của Mác và Lênin, đến một chừng mực nhất định, quan hệ
sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa sẽ bị phá vỡ và thay vào đó là một quan hệ sở hữu
mới - sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất được xác lập để đáp ứng yêu cầu phát triển
của lực lượng sản xuất. Điều đó cũng có nghĩa là phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa sẽ bị thủ tiêu và một phương thúc sản xuất mới
Sự tồn tại song song của hai xu thế trong chủ nghĩa tư bản hiện đại một mặt
nói lên rằng chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn còn sức sống, quan hệ sản xuất tư bản
chử nghĩa còn có thể tự điều chỉnh và trong giới hạn nhất định nó còn có thể thích
ứng với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất và thúc đẩy xã hội tư bản phát
triển. Song mặt khác nó cũng nói lên rằng chủ nghĩa tư bản đang vấp phải những
giới hạn nhất định, mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản vẫn đang tồn tại và vận
động. Đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tư bản chủ
nghĩa quyết định sự thay đổi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng phương
thức sản xuất cao hơn, tiến bộ hơn. Đó là xu hướng vận động của lịch sử mang tính
tất yếu.
Chủ nghĩa tư bản hiện đại đang thực hiện quá trình đổi mới, cải cách để
thích nghi với điều kiện lịch sử mới do sự tác động của cách mạng khoa học công
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status