BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KH&CN CẤP TRƯỜNG
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT
TRONG SINH VIÊN HIỆN NAYTHỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP .
S
K
C
0
0
3
9
5
9
MÃ SỐ: T2011 - 111
S KC 0 0 3 3 0 6
2
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng số 1.1: Độ tuổi
Bảng số 1.2: Nghề nghiệp
Bảng số 1.3: Trình độ học vấn
Bảng số 2.1: Độ tuổi
Bảng số 2.2: Giới tính
Bảng số 2.3: Ngành học
Bảng số 3: Nhận định về mức độ sử dụng các yếu tố trong tiếng Việt
Bảng số 4: Nhận định về sử dụng tiếng Việt trong sinh viên hiện nay
Bảng số 5: Tỷ lệ sinh viên các ngành sử dụng đúng từ ngữ, ngữ pháp,
chính tả, phong cách văn bản trong tiếng Việt
Bảng số 6: Đánh giá mức độ phổ biến của việc sử dụng tiếng nước
ngoài trong sinh viên hiện nay
Bảng số 6.1: Lý do sử dụng tiếng nước ngoài trong sinh viên
Bảng số 7: Nhận định về loại hình ngôn ngữ “teen”
Bảng số 7.1: Lý do sinh viên chọn loại hình ngôn ngữ “teen”
Bảng số 7.2: Đánh giá về mức độ sử dụng ngôn ngữ “teen” trong sinh
viên
Bảng 7.3: Thói quen sử dụng ngôn ngữ “teen” của sinh viên
Bảng số 8: Nhận định về hiện tượng lai căng, pha trộn, biến đổi ngôn
ngữ trong sinh viên hiện nay
Bảng số 9: Thái độ với giữ gìn và phát triển ngôn ngữ tiếng Việt trong
sinh viên hiện nay
Bảng số 10: Ý kiến về việc thực hiện điều chỉnh, chuẩn hóa cách sử
dụng tiếng Việt trong sinh viên hiện nay
2.1. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT TRONG SINH VIÊN HIỆN
NAY
................................................................................................................ 18
2.1.1. Sinh viên và các biểu hiện sử dụng ngôn ngữ trong sinh viên ........................................ 18
2.1.2. Thông tin chung về phương pháp nghiên cứu, địa bàn và đối tượng khảo sát
2.1.2.1. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................. 22
2.1.2.2. Địa bàn khảo sát ............................................................................................................ 23
2.1.1.3 Đối tượng khảo sát ......................................................................................................... 23
4
2.2. NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA
TIẾNG VIỆT TRONG SINH VIÊN HIỆN NAY ..................................................................... 29
2.2.1. Nguyên nhân của sự biến đổi về sử dụng tiếng Việt trong sinh viên hiện nay................ 29
2.2.2. Một số giải pháp giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong sinh viên hiện nay ............
PHẦN KẾT LUẬN .................................................................................................................... 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................................... 41
33
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tiếng Việt của người Việt Nam là một ngôn ngữ phong phú, giàu và
đẹp. Ngay từ xa xưa, người Việt Nam đã có ý thức quý trọng tiếng mẹ đẻ của
mình cũng như luôn chú ý trau chuốt, đề cao cái hay, cái đẹp trong lời ăn
tiếng nói. Điều đó đã trở thành tư tưởng có tính chất chính thống trong thâm
Tiếng mẹ đẻ vốn là một đặc trưng sống còn của một dân tộc. Một quốc
gia hoàn toàn tự do độc lập thì ngôn ngữ của quốc gia ấy cũng phải độc lập,
không được pha trộn, lai tạp với ngôn ngữ của các quốc gia khác. Để có một
cái nhìn toàn diện hơn về sự biến đổi của ngôn ngữ tiếng Việt trong giai đoạn
hiện nay, nhất là đối với sinh viên và góp phần khẳng định sự trong sáng, giàu
đẹp của tiếng Việt với tất cả lòng tự hào của người con đất Việt, nhóm tác giả
chọn đề tài: “Vấn đề sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong sinh viên hiện nay
- thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề sử dụng, bảo vệ và phát triển ngôn ngữ tiếng Việt là vấn đề
được khá nhiều học giả, nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ nhiều năm nay.
Đặc biệt là trong những năm gần đây, khi đất nước ta mở cửa hội nhập với thế
giới, hiện tượng sử dụng không đúng ngữ pháp, chính tả và hiện tượng lai
căng tiếng nói, chữ viết nước ngoài ngày một tăng. Từng chữ, từng âm, từng
cách viết, cách đọc đều bị thay đổi một cách kỳ lạ mà người ta vẫn biện minh
theo suy nghĩ của mình là “đa dạng hóa” tiếng Việt. Chính điều này càng làm
cho các tác giả, các nhà khoa học quan tâm sâu sắc hơn đến vấn đề sử dụng,
bảo vệ và phát triển ngôn ngữ tiếng Việt trong nhân dân đặc biệt là trong giới
trẻ với nhiều khía cạnh khác nhau.
7
Nghiên cứu tiếng Việt ở góc độ ngôn ngữ học và thực hành ngôn ngữ
có những công trình như: Tiếng Việt - Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ
nghĩa của tác giả Cao Xuân Hạo, Nxb. Giáo dục, Hà nội, 2007; Ngữ pháp
tiếng Việt tập 1 và tập 2 của tác giả Diệp Quang Ban, Nxb. Giáo dục, Hà nội,
2006 - 2007.
Nghiên cứu và đề xuất những giải pháp nhằm sử dụng tiếng Việt chính
xác, hiệu quả, có những công trình của tác giả Lê Trung Hoa như: Mẹo luật
chính tả, Nxb. Sở Văn hóa - Thông tin Long An, 1984 và được Nxb. Trẻ tái
giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt đồng thời phát huy vai trò tích cực của
ngôn ngữ trong tư duy của sinh viên nói riêng và giới trẻ nói chung.
3.2. Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài tập trung vào thực hiện các
nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: trình bày khái quát đặc điểm của tiếng Việt và những yêu cầu
chung của việc sử dụng tiếng Việt làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu thực
trạng sử dụng tiếng Việt trong sinh viên hiện nay.
Thứ hai: làm rõ thực trạng sử dụng tiếng Việt trong sinh viên hiện nay.
Thứ ba: phân tích nguyên nhân và đề xuất các giải pháp giữ gìn sự
trong sáng của tiếng Việt trong sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt của sinh viên
hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Thực trạng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong sinh viên hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong phạm vi đề tài đã chọn, nhóm tác giả nghiên cứu thực trạng sử
dụng ngôn ngữ trong sinh viên hiện nay. Tuy nhiên, vì những lý do khách
quan và chủ quan, chúng tôi không có tham vọng điều tra thực trạng sử dụng
9
tiếng Việt trong sinh viên tất cả các trường đại học và cao đẳng trên cả nước
mà chỉ chọn một số trường tiêu biểu ở thành phố Hồ Chí Minh để nghiên cứu.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1. Cơ sở lý luận
Để thực hiện những yêu cầu trên, đề tài chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận
ngôn ngữ học và tiếng Việt và quan điểm phát triển văn hóa xã hội của Đảng
cộng sản Việt Nam; đồng thời có kế thừa những kết quả của một số công trình
nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài.
11
Chương 1
TIẾNG VIỆT VÀ NHỮNG YÊU CẦU CHUNG
CỦA VIỆC SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT
1.1. Đặc điểm của tiếng Việt
Như các hệ thống ngôn ngữ của loài người nói chung, tiếng Việt cũng
được tổ chức theo những nguyên tắc nhất định mà trong đó, hai nguyên tắc có
sức chi phối lớn nhất là nguyên tắc hệ thống và nguyên tắc tín hiệu. Tuy
nhiên, đặc điểm nổi bật của Tiếng Việt là tính đơn lập được thể hiện ở tất cả
các mặt ngữ âm và ngữ pháp.
1.1.1. Các đơn vị tiếng Việt.
Trước hết cần chú ý tới đơn vị mà xưa nay vẫn gọi là tiếng. Về mặt ngữ
âm thì tiếng tức là âm tiết. Xét về mặt ngữ âm, mỗi tiếng là một âm tiết, có
cấu trúc chặt chẽ và luôn luôn mang thanh điệu. Xét về mặt chữ viết, mỗi âm
được ghi bằng một chữ. Âm tiết bao gồm những đơn vị ở bậc thấp hơn gọi là
âm vị. Ở dạng tối đa, mỗi âm tiết có một phụ âm đầu, một âm đệm, một âm
chính, một âm cuối và một thanh điệu. Ở dạng tối thiểu, mỗi âm tiết có một
âm chính (luôn luôn là nguyên âm) và một thanh điệu. Hệ thống âm vị trong
tiếng Việt phong phú và có tính cân đối, tạo ra tiềm năng của ngữ âm tiếng
Việt trong việc thể hiện các đơn vị có nghĩa. Xét về mặt ngữ nghĩa thì tiếng là
đơn vị nhỏ nhất có thể có nghĩa. Đơn vị ngữ âm ở bậc thấp nhất là âm vị thì
trong tư cách đó không thể có nghĩa. Nhưng nếu kết hợp lại thành tiếng hoàn
chỉnh thành âm tiết thì có thể trở thành đơn vị nhỏ nhất có thể có nghĩa. Như
vậy, có những loại tiếng khác nhau:
Loại tiếng tự nó có nghĩa, có thể dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng và
có thể được dùng làm từ - đơn vị ở bậc trực tiếp cao hơn (từ một tiếng).
13
Láy là sắp đặt các tiếng thành đôi, kế cận nhau sao cho có phối hợp ngữ
âm. Sự phối hợp ngữ âm là quy luật tạo nên nghĩa của từ láy. Từ láy cũng có
nhiều nghĩa khác nhau như từ ghép. Thứ nhất, là kiểu từ láy trong đó các
tiếng đều không tự nó có nghĩa, qua phối hợp ngữ âm thành nghĩa của cả từ.
Ví dụ: lủng củng, chập chờn, … Kiểu này tiêu biểu cho phương thức láy. Thứ
hai, là kiểu từ láy trong đó có một tiếng có nghĩa còn một tiếng thì không có
nghĩa và nghĩa của từ là nghĩa mới được hình thành qua phối hợp ngữ âm. Ví
dụ: làm lụng, nhỏ nhen, loanh quanh, … Trong các kiểu từ láy, trật tự sắp đặt
các tiếng không thay đổi vì nếu thay đổi trật tự thì có thể không còn có phối
hợp ngữ âm và do đó, từ sẽ không còn có nghĩa.
Từ là đơn vị nhỏ nhất để đặt câu. Để nói, để viết, để suy ngĩ, chúng ta
dùng từ chứ không phải dùng tiếng. Từ có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn
định. Có thể dễ dàng nhận thấy đặc điểm này ở từ một tiếng. Còn đối với từ
hai tiếng và từ nhiều tiếng, cấu tạo ổn định làm cho nghĩa hoàn chỉnh và
ngược lại nghĩa hoàn chỉnh thì cấu tạo ổn định. Với tính hoàn chỉnh về nghĩa
và tính ổn định về cấu tạo, từ trở thành một đơn vị đặc biệt quan trọng khi
người ta xét tới mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, giữa ngôn ngữ và văn
hóa. Trong tiếng Việt, về mặt ngữ âm, khi hình thành từ hai tiếng hay từ nhiều
tiếng thì mỗi tiếng không có sự biến đổi âm hay thanh. Về mặt chữ viết, theo
quy tắc chính tả hiện nay, mỗi tiếng được ghi thành một chữ rời, cho nên, từ
có bao nhiêu tiếng thì viết thành bấy nhiêu chữ rời nhau. Trên mỗi dòng chữ,
ví dụ: “chúng tôi hết sức vui mừng được gặp các đồng chí”, các khoảng trống
giữa các chữ là để đánh dấu ranh giới giữa các tiếng và những từ gồm hai
tiếng như chúng tôi, vui mừng, đồng chí đều được viết thành hai chữ rời nhau.
Từ là đơn vị nhỏ nhất dùng làm thành phần cấu tạo câu. Từ và câu là
hai đơn vị khác nhau. Từ có sẵn trong kho từ vựng còn câu phải do mỗi người
dùng từ mà cấu tạo nên. Trong ngôn ngữ, câu là đơn vị bậc cao nhất và cũng
15
như vậy, nó có tác dụng thông báo. Quan hệ thuyết tính không có biến đổi
hình thức ngữ âm mà được biểu thị chủ yếu bằng trật tự sắp đặt các thành
phần chủ ngữ, vị ngữ.
Một quan hệ ngữ pháp quan trọng khác trong câu là quan hệ chính phụ.
Quan hệ này là một cấu tạo ngữ pháp không có giá trị câu như quan hệ thuyết
tính mà chỉ là một ngữ. Ngữ bao gồm một yếu tố chính và một yếu tố phụ.
Khi các từ cùng loại kết hợp với nhau theo quan hệ chính phụ thì từ đứng
trước giữ vai trò chính và từ đứng sau giữ vai trò phụ. Quan hệ này cũng được
biểu thị bằng trật tự và cũng không biến đổi hình thức ngữ âm. Nhờ trật tự kết
hợp của từ mà “củ cải” khác với “cải củ”, “tình cảm” khác với “cảm tình” …
Hư từ là những từ dùng để biểu thị một số quan hệ ngữ pháp nhất định
và không có nghĩa thực. Mặc dù vậy, nó vẫn có sắc thái nhất định về nghĩa.
Nhờ hư từ mà tổ hợp “anh và em” khác với “anh của em” hay “anh vì em”.
Hư từ cùng với trật tự từ cho phép tiếng Việt tạo ra nhiều câu có cùng nội
dung thông báo cơ bản như nhau nhưng khác nhau về sắc thái biểu cảm. Cách
dùng hư từ trong tiếng Việt có tính chất tùy nghi, có thể dùng hoặc không
dùng hư từ, có thể dùng hư từ này hoặc có thể dùng hư từ khác sao cho thích
hợp với hoàn cảnh. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tùy tiện thế nào
cũng được mà mỗi cách dùng đều có sắc thái riêng của nó.
Ngoài trật tự từ và hư từ, tiếng Việt còn sử dụng phương thức ngữ điệu.
Ngữ điệu bao gồm sự ngừng và lên hay xuống giọng. Đây là phương tiện ngữ
pháp quan trọng khi nói, khi đọc. Ngữ điệu có vai trò làm rõ thêm tư cách ngữ
pháp của đơn vị ngôn ngữ và biểu hiện quan hệ cú pháp của các yếu tố trong
câu, nhờ đó nhấn mạnh hay phân biệt nội dung muốn thống báo, diễn đạt.
Trên văn bản, ngữ điệu thường được biểu hiện bằng dấu câu. Ví dụ: khi nói
“người khách ấy đã đến rồi” thì ngữ điệu không nổi lên thành phương tiện
quyết định nhưng khi nói “khách” thì ngữ điệu là phương tiện có tác dụng
Dạng láy của từ không làm xuất hiện một từ mới mà nó là loại đơn vị
có giá trị tương đương với ngữ. Nhưng dạng láy của từ thì được cấu tạo theo
phương thức phối hợp ngữ âm còn ngữ thì được cấu tạo theo phương thức
phối hợp ngữ nghĩa. Ví dụ: hơi nặng là một ngữ chính phụ, nằng nặng là một
dạng láy của từ nặng; rất lúng túng là một ngữ chính phụ, lúng ta lúng túng là
một dạng láy của từ láy lúng túng; đi lại nhiều lần là một ngữ phụ chính, đi đi
lại lại là một dạng láy, dạng láy của từ ghép đi lại. Dạng láy của từ tương
đương với ngữ về mặt nghĩa và cả về vai trò làm thành phần trong câu.
Trong phạm vi cấu tạo câu, đặc điểm đơn lập của tiếng Việt về ngữ âm
được thể hiện ở ngữ điệu lên xuống nghe trầm bổng, nhịp nhàng. Đặc điểm
này có cơ sở cấu tạo ngữ âm của tiếng, tức là của âm tiết, trong đó thanh là
yếu tố không thể thiếu. Âm tiết phải phát ra với một trong sáu thanh: sắc,
huyền, hỏi, ngã, nặng và bằng. Cho nên, đối với chuỗi âm tiết của một câu
hay một đoạn nhiều câu, sự phối hợp ngữ âm sao cho hài hòa là điều tất yếu.
Tác dụng của sự phối hợp ngữ âm trong cấu tạo câu của tiếng Việt có khi chỉ
làm cho câu nghe êm tai nhưng chủ yếu là tạo nên những sắc thái nghĩa nhất
định trong những hoàn cảnh nhất định.
Thứ hai, thể hiện về mặt ngữ nghĩa, đặc điểm đơn lập của tiếng Việt
được pháy huy chủ yếu trong cấu tạo từ ghép.
Từ ghép là những từ mà giữa các tiếng có phối hợp ngữ nghĩa và sự
phối hợp này tạo nên nghĩa mới cho từ ghép trong đó, nghĩa gốc của từng
tiếng có sự biến đổi. Và nói chung, sự biến đổi nghĩa đó là sự biến đổi theo
phương thức hình tượng hóa. Ví dụ: trong từ đất nước, nghĩa của tiếng đất
cũng như của tiếng nước không còn là nghĩa gốc về những chất liệu, những sự
vật cụ thể trong thiên nhiên mà đã thành nghĩa hình tượng và đó là sự hình
tượng hóa thông qua giá trị biểu trưng của những sự vật ấy, nhờ vậy mà sự
kết đôi đất nước trở thành có nghĩa tổ quốc, khác hẳn với nghĩa của sự kết đôi
18
pháp được biểu thị rõ ràng bằng những yếu tố như vậy một cách đều đặn.
Ngược lại, với những giá trị của tiếng về mặt ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp,
đặc điểm đơn lập của tiếng Việt làm cho cấu tạo của các đơn vị ngữ pháp, đặc
biệt là của từ và câu có tính chất sinh động, uyển chuyển làm nên cái khó mà
cũng là cái độc đáo, cái hay của ngôn ngữ tiếng Việt.
1.2. Những yêu cầu chung của việc sử dụng tiếng Việt
Khi sử dụng tiếng Việt, mỗi người trước hết cần xây dựng một thói
quen, một nếp lựa chọn và thận trọng trong việc dùng từ, đặt câu, chữ viết,
ngữ pháp … đồng thời luôn bồi dưỡng năng lực sử dụng tiếng Việt, coi việc
“học nói”, việc „lựa chọn lời” như một việc làm thiết yếu. Mỗi người tự nâng
cao năng lực sử dụng tiếng Việt bằng nhiều con đường, nhiều biện pháp khác
nhau với mục đích cuối cùng là nắm vững và sử dụng thành thạo tiếng Việt
theo chuẩn mực nhất định. Sự chuẩn hóa tiếng Việt là công việc của mỗi
người đồng thời là sự nghiệp của toàn xã hội.
Sử dụng tiếng Việt cho trong sáng là sử dụng theo các chuẩn mực của
tiếng Việt. Các chuẩn mực này hình thành trong suốt chiều dài lịch sử của dân
tộc và được cả cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận. Đó là cơ sở cho người nói,
người viết tạo lập lời nói hay văn bản và cũng là cơ sở cho người nghe hay
người đọc lĩnh hội được lời nói hay văn bản đó. Vì yêu cầu của việc giữ gìn
sự trong sáng của tiếng Việt nên khi sử dụng, chúng ta phải tuân thủ theo các
chuẩn mực: âm thanh, chữ viết, từ ngữ, ngữ pháp, phong cách …
Trước hết là chuẩn mực về âm thanh, chữ viết. Về âm thanh, khi nói
cần tuân thủ theo các chuẩn mực về ngữ âm, ngữ điệu, các cách phát âm. Về
chữ viết, cần viết đúng dạng chữ, kiểu chữ, chính tả, viết hoa, dấu câu, các ký
hiệu chữ viết … Về chính tả, phải nắm được đặc điểm tiếng Việt là ngôn ngữ
phân tiết tính, các âm tiết đều được tách bạch rõ ràng trong chuỗi lời nói. Mỗi
âm tiết đều mang một thanh điệu nhất định, vì vậy, khi viết phải đánh dấu ghi
20
dùng những từ sáo rỗng, cũ, mòn. Cách dùng từ sáo rỗng, công thức là lỗi
trong sử dụng tiếng Việt mà nhiều người khi nói, khi viết dùng những từ sẵn,
điệu nói sẵn một cách máy móc, rập khuôn do lười suy nghĩ, không chịu bỏ
công tìm tòi và khả năng ngôn ngữ hạn chế. Việc dùng những từ sáo rỗng dẫn
tới những câu văn “đao to búa lớn” nhưng ý nghĩa nghèo nàn, nhạt nhẽo,
nhàm chán gây khó hiểu và không đủ sức lôi cuốn người nghe, người đọc.
Chuẩn mực về phong cách còn đòi hỏi tránh dùng từ lai căng trong việc
sử dụng tiếng Việt. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng, sự
gia tăng vốn từ vựng tiếng Việt có những mặt tích cực đáp ứng nhu cầu giao
tiếp trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, nghiên cứu khoa học …
Không thể phủ nhận rằng có nhiều từ ngữ mới có yếu tố sáng tạo, chuẩn xác,
tinh tế làm cho tiếng Việt thêm phong phú, giàu đẹp. Tuy nhiên, bên cạnh
những yếu tố tích cực, chúng ta cũng bắt gặp không ít những yếu tố tiêu cực.
Hiện tượng lai căng, sử dụng tiếng nước ngoài một cách vô nguyên tắc tạo ra
xu hướng quái dị, kỳ quặc trong sử dụng ngôn ngữ, thậm chí đi ngược lại với
đạo lý truyền thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc, thể hiện sự sa sút về
phong cách ngôn ngữ.
22
Chương 2
SỬ DỤNG, BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT
TRONG SINH VIÊN HIỆN NAY
2.1. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT
TRONG SINH VIÊN HIỆN NAY
2.1.1. Sinh viên và các biểu hiện sử dụng ngôn ngữ trong sinh viên
Sinh viên là một tầng lớp của xã hội. Họ là những người tốt nghiệp phổ
thông trung học và được tuyển chọn gắt gao qua các kỳ thi tuyển sinh quốc
gia đang trong quá trình học tập, chuẩn bị nghề nghiệp chuyên môn một cách
tập trung, có quy củ ở các trường đại học và cao đẳng để bước vào một bộ
đẹp của các thế hệ trước và cũng chính họ là người kế thừa và phát huy những
truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Trong khi đó, ngôn ngữ là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc
thực hiện quá trình tư duy ở mỗi cá nhân và toàn xã hội. Nhờ có ngôn ngữ mà
con người mới thực sự trở thành Người trong quá trình lao động và xã hội loài
người ngày một phát triển. Hoạt động ngôn ngữ là yếu tố không tách rời của
con người, của mỗi dân tộc và đặc trưng ngôn ngữ thể hiện đặc trưng văn hóa
dân tộc. Trong tiến trình phát triển hiện nay, cùng với tốc độ tăng trưởng kinh
tế, khoa học, văn hóa, xã hội…, tiếng Việt có những biến chuyển phức tạp
nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập của xã hội.
Như các tầng lớp xã hội khác, việc sử dụng tiếng Việt trong sinh viên
cũng đang bị tác động bởi quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế. Vốn từ vựng
tiếng Việt trong sinh viên gia tăng nhanh chóng. Điều này có mặt tích cực là
đã đáp ứng kịp thời nhu cầu giao tiếp trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,
đồng thời làm cho tiếng Việt ngày càng phong phú hơn. Không thể phủ nhận