tiểu luận cao học môn quản lý nhà nước Tăng cường quản lý chất lượng khám chữa bệnh tại khoa nhi bệnh viện đa khoa tỉnh an giang - Pdf 38

CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG KHÁM
CHỮA BỆNH
1.1Quản lý nhà nước về khám chữa bệnh
1.1.1.
-

Khái niệm
Quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản ly1 lênđối
tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất
định .
[4]

-

Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng
với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước. Đó chính là hoạt động quản lý gắn liển
với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước- bộ phận quan trọng của
quyền lực chính trị trong xã hội, có tính chất cưỡng chế đơn phương đối với xã
hội. Quản lý nhà nước được hiểu trước hết là hoạt động của các cơ quan quyền lức
nhà nước thực thi quyền lực nhà nước .
[4]

-

Quản lý nhà nước về y tế là dạng quản lý mà trong đó, chủ thể quản lý chính là nhà
nước. Đó là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền
lực nhà nước bộ máy hành chính nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi
hoạt động của con người trong lĩnh vực hoạt động y tế.
* Các khái niệm được quy định trong điều 2 của luật khám bệnh chữa bệnh



Nội dung triển khai quản lý chất lượng bệnh viện.

-

Hệ thống tổ chức quản lý chất lượng bệnh viện.

-

Trách nhiệm thực hiện quản lý chất lượng bệnh viện.
1.1.2.

Nội dung công tác quản lý nhà nước về khám chữa bệnh
Điều 5 Luật Khám bệnh chữa bệnh do Quốc hội thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009 [2]

quy định: trách nhiệm quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh. Gồm các quy đinh sau:

-

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh.

-

Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa
bệnh và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Xây dựng và ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban
hành văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật về khám bệnh, chữa bệnh; chiến lược
phát triển, quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
+ Chỉ đạo hướng dẫn, tuyên truyền và tổ chức triển khai thực hiện văn bản quy
phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh; chiến lược phát triển, quy hoạch hệ thống cơ sở

2013 quy định về nguyên tắc tổ chức thực hiện quản lý chất lượng
-

Lấy người bệnh làm trung tâm.

-

Việc bảo đảm và cải tiến chất lượng là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của bệnh viện, được
tiến hành thường xuyên, liên tục và ổn định.

-

Các quyết định liên quan đến hoạt động quản lý chất lượng trong bệnh viện dựa trên cơ sở
pháp luật, cơ sở khoa học với các bằng chứng cụ thể và đáp ứng nhu cầu thực tiễn nâng cao
chất lượng của bệnh viện.
- Giám đốc bệnh viện chịu trách nhiệm về chất lượng bệnh viện. Tất cả cán bộ,
công chức, viên chức, người lao động (gọi chung là nhân viên y tế) trong bệnh viện có trách
nhiệm tham gia hoạt động quản lý chất lượng.

1.2 Quan điểm của Đảng và nhà nước về quản lý chất lượng khám chữa bệnh
1.2.1.

Quan điểm của Đảng về chăm sóc sức khỏe nhân dân

Xuất phát từ đặc điểm phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu chăm sóc Sức khỏe của
nhân dân trong giai đoạn mới, nghị quyết Trung Ương IV của Ban chấp hành TW Đảng


khóa VII về 1 số vấn đề cấp bách trong công tác chăm sóc Sức khỏe nhân dân đã khẳng
định quan điểm của Đảng bao gồm:

kiện bảo đảm công tác khám bệnh, chữa bệnh.” Khoa nhi là nơi khám trẻ từ lúc mới sinh


cho đến 15 tuổi, đặc biệt một số bệnh liên quan dịch bệnh như tay chân miệng, sốt xuất
huyết, tiêu chảy cấp trẻ em...Vì vậy hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, khoa nhi đã được
các ngành, các cấp lãnh đạo quan tâm sâu sát. Trước tình hình mới của đất nước, sự biến
đổi phức tạp của dịch bệnh. Tăng cường công tác quản lý chất lượng khám chữa bệnh tại
khoa theo hướng ngày càng tiến bộ sẽ giúp khoa nhi ngày một phát triển theo theo xu
hướng và sự phát triển của thời đại.
Luật khám bệnh chữa bệnh do quốc hội ban hành ngày 23 tháng 11 năm 2009, có
hiệu lực từ 01 tháng 01 năm 2011, điều 1 quy định quyền và nghĩa vụ của người bệnh,
người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; điều kiện đối với
người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; quy định chuyên
môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh; áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám
bệnh, chữa bệnh; sai sót chuyên môn kỹ thuật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp
trong khám bệnh, chữa bệnh; điều kiện bảo đảm công tác khám bệnh, chữa bệnh. Đây là
văn bản pháp lý có giá trị cao nhất trong quản lý hệ thống y tế. Hiểu biết về văn bản này sẽ
giúp nhân viên y tế thực hiện tốt chức trách nhiệm vụ của mình, những điều cần làm, cần
tránh, hiểu biết về quyền và nghĩa vụ người bệnh và các vấn đề liên quan trong công tác
chăm sóc người bệnh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bệnh cũng như bảo vệ
nhân viên y tế, tạo môi trường chăm sóc điều trị thân thiện và hiệu quả cho người bệnh, an
toàn cho nhân viên y tế.
*

Nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh (Điều 3 trong luật khám bệnh chữa
bệnh quy định)

-

Bình đẳng, công bằng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người


Từ chối hoặc cố ý chậm cấp cứu người bệnh

-

Khám bệnh, chữa bệnh không có chứng chỉ hành nghề hoặc đang trong thời gian bị đình
chỉ hành nghề, cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy phép hoạt động
hoặc đang trong thời gian bị đình chỉ hoạt động.

-

Hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh vượt quá phạm
vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động, trừ
trường hợp cấp cứu.

-

Thuê, mượn, cho thuê, cho mượn chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hoạt động.

-

Người hành nghề bán thuốc cho người bệnh dưới mọi hình thức, trừ bác sỹ đông y, y sỹ
đông y, lương y và người có bài thuốc gia truyền.

-

Áp dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật y tế chưa được công nhận, sử dụng thuốc chưa
được phép lưu hành trong khám bệnh, chữa bệnh.
-


-

Cán bộ, công chức, viên chức y tế thành lập, tham gia thành lập hoặc tham

gia quản lý, điều hành bệnh viện tư nhân hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập
và hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật hợp tác xã, trừ trường hợp được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền cử tham gia quản lý, điều hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có
phần vốn của Nhà nước.
Đưa, nhận, môi giới hối lộ trong khám bệnh, chữa bệnh.

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHÁM CHỮA BỆNH TẠI

KHOA NHI BVĐKTT AN GIANG

2.1Đặc điểm tình hình của Khoa Nhi
Về cơ cấu tổ chức: khoa nhi là một khoa phòng lớn của bệnh viện Đa Khoa Trung
Tâm An Giang với cơ cấu 140 giường bệnh,với 30 giường cấp cứu. Nhân sự gồm 100 nhân
viên với 23 bác sĩ, trong đó có một bác sĩ trưởng khoa, 3 bác sĩ phó khoa. Có 15/23 bác sĩ
có trình độ chuyên môn sau đại học. Có 68 điều dưỡng, y sĩ, trong đó có 2 cử nhân, 6 hộ lý
và 2 nhân viên.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức khoa nhi:


* Nhiệm vụ của bác sĩ trưởng khoa: lập tổ chức và thực hiện kế hoạch của khoa, kiểm
tra đôn đốc việc thực hiện quy chế bệnh viện, chịu trách nhiệm về chuyên môn và mọi hoạt
động của khoa. Cụ thể như: căn cứ kế hoạch công tác bệnh viện mà lập kế hoạch khoa, tổ
chức các thành viện trong bệnh viện thực hiện kế hoạch khoa, sắp xếp buồng bệnh và bố trí
nhân sự trong khoa cho phù hợp công việc, từ khâu tiếp đón, khám, điều trị và chăm sóc.

Nhiệm vụ của điều dưỡng viên: thực hiện giao nhận trực (thuốc, trang thiết bị, y cụ, tài sản, sổ

sách...), thực hiện y lệnh bác sĩ: về thuốc, xét nghiệm, về chế độ dinh dưỡng, theo dõi, phân


công chăm sóc, bàn giao bệnh nặng. Kiểm tra việc thực hiện y lệnh, nhắc nhở người bệnh
và người nuôi bệnh.
* Nhiệm vụ của hộ lý: thực hiện nhiệm vụ vệ sinh , phục vụ người bệnh, phối hợp
với điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh, thu gom quản lý và xử lý rác thải.
2.2Thực trạng công tác quản lý khám chữa bệnh tại khoa nhi
2.2.1.

Những mặt đạt được:
Tại khoa nhi bệnh viện Đa Khoa Trung Tâm An Giang, tất cả các khâu từ khám ngoại

trú, đến khâu tiếp đón, cấp cứu người bệnh đều phải được thực hiện theo hướng dẫn của luật
khám bệnh chữa bệnh. Ngoài ra các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước liên quan đến
công tác khám chữa bệnh, các thủ tục của người bệnh ra, vào, chuyển viện, các quy định của nhà
nước về công tác học tập nâng cao tay nghề, chỉ đạo tuyến, phòng ngừa, chống dịch... đều phải
được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy tăng cường công tác quản lý chất lượng
khám chữa bệnh tại khoa nhi sẽ giúp khoa hoạt động tốt hơn, làm tốt chức năng nhiệm vụ của
mình mà còn góp phần đảm bảo công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được tốt hơn mà còn giúp
đảm bảo quyền và bảo vệ nhân viên y tế khi có rủi ro ngoài ý muốn xảy ra.

Khoa nhi với 3 khu vực có chức năng khám chữa bệnh gồm: phòng khám ngoại
trú (phòng khám thường và phòng khám dịch vụ 24/24 giờ), phòng cấp cứu nhi 30
giường, khu điều trị nội trú 130 giường (thường và dịch vụ). Tổng kết năm 2012 và kế
hoạch năm 2013 đạt những kết quả sau:
* Khám bệnh tại phòng khám nhi:
Chuyên khoa


Công
suất/
Giường
100%

Số bn
vong

1
2
3

Tên bệnh
Tay chân miệng
Viêm phổi
Sốt xuất huyết

Chết
Số lượng

Tỷ lệ

Tên bệnh

Số lượng

Tỷ lệ

1.780

22,5

Nhiễm khuẩn
huyết

10

3,6%

Viêm phổi sơ
sinh

3

3,0%

5

Viêm họng

300

3.79

Bệnh màng
trong
Lao kê

1

0,01

1

0,01

3.54
6


Thủy đậu

1

9
Rối loan tiêu hóa
Suyễn
10

160
119

1,5

Chết trước vào 6/39
trường
viện
hợp


2.2.1.1

Về công tác khám chữa bệnh tại khoa nhi

Khám chữa bệnh tại phòng khám (khám bệnh và điều trị ngoại trú): Trung bình phòng
khám nhi khám 1 ngày từ 200 đến 400 bệnh nhân với từ 4 bác
sĩ chuyên khoa nhi. Trung bình hằng năm đạt 80.000-90. 000lượt khám mỗi năm.
Điều trị nội trú: với chỉ tiêu 160 giường bệnh , trung bình khoa nhi điều trị mỗi
ngày 140 -160 bệnh nội trú. Theo báo cáo thì công suất sử dụng giường bệnh của khoa
trong hai năm trở lại đây đạt khoảng 120 %. Tuy nhiên tình trạng quá tải nhều nhất thường

Ngoài ra mỗi năm khoa nhi còn tổ chức các lớp tập huấn cho tuyến huyện về chẩn
đoán, điều trị và chăm sóc bệnh sốt xuất huyết và bệnh tay chân miệng, khảo sát tình hình
chống dịch tại các bệnh viện tuyến huyện và phản hồi ý kiến, chuyên môn cho bệnh viện
tuyến dưới đối với bệnh chuyển viện.
-

Về đào tạo nhân lực

Hằng năm, được sự quản lý và chỉ đạo của ngành y tế và quy định của Bộ Y Tế: tất
cả các nhân viên khoa Nhi đều lần lượt được chuẩn hóa theo quy định của bệnh viện cấp 2:
tất cả các điều dưỡng viên đều được đào tạo từ trung cấp trở lên. Các bác sĩ của khoa đều
lần lượt được đưa đi học sau đại học. Đến nay đã có 15/23 bác sĩ có trình độ sau đại học. Có
2 điều dưỡng có trình độ cử nhân, 1 điều dưỡng đang học cử nhân điều dưỡng.
2.2.1.3.

Về công tác quản lý chất lượng khám chữa bệnh tại khoa nhi:

Qua tổng kết các hoạt động năm 2012, chúng tôi nhận thấy công tác quản lý tại
khoa đã đạt được nhiều tiến bộ như sau:
-

Về quản lý công tác khám chữa bệnh tại khoa: dựa vào những tổng kết 2011,

ban quản lý khoa đã đề ra các chỉ tiêu kế hoạch 2012 và đã lãnh đạo, đôn đốc các nhân viên
khoa nhi đã đạt được và cả vượt kế hoạch khoa về chỉ tiêu khám chữa bệnh ngoại trú, nội
trú, các chỉ tiêu về hiệu suất giường nằm, chỉ tiêu về tỉ lệ tử vong... và đạt được những chỉ
tiêu đặt ra.
-

Từ năm 2011, theo tiến trình nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại bệnh

khoa phòng, tuyên truyền về chăm sóc các bệnh thường gặp ở trẻ em, các bệnh theo mùa,
dịch bệnh,...ngoài ra còn lấy ý kiến của người bệnh về quy trình khám chữa bệnh tại khoa
và những góp ý về tinh thần, thái độ phục vụ của nhân viên y tế nhằm phát triển công tác
khám chữa bệnh tại khoa ngày một tốt hơn
-

Về công tác nghiên cứu khoa học: hằng năm khoa nhi đều đặn làm đề tài cấp

cơ sở hàng năm nhưng nhìn chung công tác này còn yếu.
* Nguyên nhân đạt được:
-

Được sự hỗ trợ, chỉ đạo và quản lý sâu sát của Ủy Ban Nhân Dân, Sở Y Tế tỉnh An
Giang và bệnh viện đối với khoa nhi, đặc biệt là hỗ trợ về trang thiết bị trong công
tác phòng chống dịch bệnh như: trang bị 2 máy thở hiện đại Pennett 840, một máy
thở rung tần số cao, máy lọc máu, monitor, máy đếm giọt, đào tạo nhân sự chuẩn bị
thành lập đơn nguyên sơ sinh.


-

Sự chỉ đạo của bệnh viện và Sở Y Tế trong công tác đào tạo và bổ sung nhân lực
cho khoa nhi.

-

Công tác tổ chức, sự hỗ trợ của bệnh viện và Sở Y Tế trong quản lý tổ chức trong
công tác chỉ đạo tuyến dưới.

2.2.2 Những mặt còn hạn chế trong công tác quản lý khám chữa bệnh tại khoa

tế thêm một tầm cao hơn, đó là quản lý cả về “chất” lẫn về lượng.
CHƯƠNG 3:
MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
KHÁM CHỮA BỆNH TẠI KHOA NHI BVĐKTT AN GIANG


TRONG THỜI GIAN TỚI 3.1.
Mục tiêu
Mục tiêu tổng quát: xây dựng một quy trình chuẩn đánh giá chất lượng khám chữa
bệnh tại khoa nhi theo quy định của Đảng và nhà nước và phù hợp với điều kiện tại khoa.
Mục tiêu cụ thể:
-

Thành lập ban đánh giá chất lượng khám chữa bệnh tại khoa nhi

-

Thành lập quy trình đánh giá chất lượng khám chữa bệnh chuẩn tại khoa nhi

-

Xây dựng phác đồ điều trị chuẩn theo hướng dẫn của Bộ Y Tế, bệnh viện chỉ

đạo (phác đồ chuẩn của bệnh viện Nhi Đồng 1) phù hợp với điều kiện và trang thiết bị tại
chỗ và cập nhật.
-

Tiếp tục nâng cao đào tạo dài hạn, ngắn hạn để nâng cao năng lực và chất

lượng khám chữa bệnh.

Phân công nhân viên triển khai các hoạt động bảo đảm và cải tiến chất lượng

và đánh giá kết quả thực hiện.
-

Báo cáo kết quả hoạt động bảo đảm và cải tiến chất lượng cho hội đồng quản

lý chất lượng bệnh viện.


-

Phối hợp với phòng tổ quản lý chất lượng và các đơn vị thực hiện đề án bảo

đảm, cải tiến chất lượng có liên quan.
-

Tham gia các lớp đào tạo, huấn luyện, tập huấn, bồi dưỡng về quản lý chất

lượng do các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước thực hiện.
-

Tham gia đánh giá chất lượng bệnh viện.
3.2.2. Thành lập quy trình chuẩn đánh giá chất lượng khám chữa bệnh tại

khoa:
-

Có thể áp dụng quy trình chuẩn của bệnh viện theo mẫu của Bộ Y Tế.


-

Thành lập bộ phác đồ chuẩn tại khoa theo hướng dẫn của Bộ Y Tế phù hợp

với điều kiện cảu đơn vị được sự phê duyệt của giám đốc bệnh viện;
-

Tổ chức triển khai thực hiện các quy định, hướng dẫn chuyên môn do Bộ Y tế và bệnh
viện ban hành, bao gồm hướng dẫn chẩn đoán và điều trị, hướng dẫn quy trình kỹ thuật,
hướng dẫn quy trình chăm sóc và các văn bản hướng dẫn chuyên môn khác.

-

Tổ chức triển khai thực hiện kiểm định chất lượng nhằm đánh giá việc thực hiện các quy
định, hướng dẫn chuyên môn của bệnh viện; tiến hành phân tích có hệ thống chất lượng
chẩn đoán, điều trị, chăm sóc người bệnh, bao gồm các quy trình kỹ thuật lâm sàng, cận
lâm sàng sử dụng trong chẩn đoán, điều trị, chăm sóc người bệnh.


-

Triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn người bệnh và nhân viên y tế

-

Thiết lập chương trình và xây dựng các quy định cụ thể bảo đảm an toàn người bệnh và
nhân viên y tế với các nội dung chủ yếu sau:
+ Xác định chính xác người bệnh, tránh nhầm lẫn khi cung cấp dịch vụ;
+ An toàn phẫu thuật, thủ thuật;
+ An toàn trong sử dụng thuốc;



-

Do địa hình An Giang ở khá xa nên kế hoạch mời chuyên gia đào tạo tại chỗ ít khả thi. Kế
hoạch năm 2014 khoa Nhi sẽ tham gia đào tạo trực tuyến, hội chẩn liên viện trực tuyến để
nâng cao tay nghề và giúp cho bệnh nhân có được sự chăm sóc điều trị tốt nhất.

-

Tổ chức học tập, nâng cao y đức, học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để mỗi
nhân viên đều là một công dân tốt, có ích cho xã hội, có tâm lòng yêu thương người bệnh,
“lương y như từ mẫu”.

3.2.5.

Đổi mới máy móc và trang thiết bị để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh

phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại:
-

Khoa nhi là đơn vị trực thuộc bệnh viện Đa Khoa Trung Tâm An Giang, nhìn chung tình
trạng rất xuống cấp. Trang thiết bị tại khoa dù đã được nâng cấp nhiều nhưng vẫn còn rất
thiếu thốn như hiện tại khu hồi sức cấp cứu nhi có 4 máy thở còn sử dụng được nhưng
thường xuyên quá tải, và thường xuyên hư hao, ngoài ra các máy khác như monitor theo dõi
liên tục, CPAP, bơm tiêm tự động ... đều rất thiếu thốn.

-

Các phòng ốc, trang thiết bị trong phòng bệnh đều rất cũ kỹ rất cần sữa chữa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status